Cuối Đời Nhìn Lại

CUỐI ĐỜI NHÌN LẠI

 

TRẦN ANH LAN

 

Giới thiệu: Quê Đức Phổ, Quảng Ngãi.

Trước 1975: Giáo sư Trung học – Sĩ quan Pháo Binh QL.VNCH.

Sau 1975: Tù cải tạo – Vượt biên và định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1981.  Tốt nghiệp Đại học ngành Điện (SDSU), Cao học Xã hội (SCSU)

Hiện định cư tại Stockton (Bắc Cali)

Nguyên chủ nhiệm tạp chí Nguồn (San Jose).

Đã xuất bản thi phẩm  “Hoang Vắng Đôi Bờ” và nhiều CD Thơ &Nhạc.

                                                                 *

“Hãy nhớ quê nhà một dúm cát

                Còn hơn đất khách vạn cân vàng”

        Câu nói này có phải từ đời nhà Trần khi cô cháu gái của ông cố Trần Cảnh (Trần Thái Tôn, người bắt đầu cơ nghiệp nhà Trần) được anh là Trần Anh Tôn gả cho Chế Mân về đất Chiêm. Câu nói ám ảnh mãi kẻ tha phương không phải tha phương cầu thực.

        Một hôm nhận thư nhà, cháu hỏi, “Bao giờ cậu về? 1/4 thế kỷ xa quê rồi, về thử một lần, đất nước giờ “hiện đại, giàu sang lắm” ; hàng hóa tràn ngập không còn biết đâu là thực giả, kể cả con người!”

        Tôi lẩm bẩm: “Bao giờ là bao giờ?”

        Ngày ra đi cứ nghĩ “Đi song trái tim còn ở lại”.

Mấy mươi năm xa quê, bây giờ liệu trở về trái tim có về theo?

Chuyện ngàn năm trước vẫn bám mãi dân tộc, quê hương mình. Thời cậu bé chăn trâu dùng bông lau làm cờ tập trận được anh thầy Tàu thuê lặn tìm con ngựa đá ở sông Hoàng Long. Vốn thông minh, gan dạ, cậu bé đoán biết anh thầy Tàu tìm huyệt mộ, cậu bé Đinh Bộ Lĩnh được mẹ cho biết cha chàng là con giao long đã cùng mẹ bên bờ sông lúc còn con gái ra nơi đó giặt chiếu.  Bà Đàm Thị chỉ nơi gác bếp: “Mộ cha con đó”. Lấy được hài cốt cậu bé bèn bỏ vào nắm cỏ gói lại rồi lặn xuống sông nhét nắm cỏ vào miệng ngựa. Nhìn ngựa nuốt cỏ vào bụng, cậu yên tâm. Từ đó, Đinh Bộ Lĩnh diệt và tóm thâu các phe nhóm khác, đánh đâu thắng đó nên xưng là “Vạn Thắng Vương”.

Mấy năm sau anh thầy Tàu trở lại, biết là huyệt mộ đã bị Đinh Bộ Lĩnh đoạt mất, nghĩ kế khác, bèn xin vào yết kiến Vạn Thắng Vương:

-“Nơi đó là long huyệt, ngài có mạng Đế vương, song ngựa mà thiếu kiếm làm sao dũng sĩ tung hoành!”

Nghe có lý, Đinh Bộ Lĩnh cho rèn đôi kiếm sắc bén rồi lặn xuống buộc vào cổ ngựa. Nơi ngựa đứng là dòng nước chảy xiết. Thời gian cổ ngựa bị kiếm cắt lìa. Kết quả bốn cha con Đ inh Bộ Lĩnh “bất đắc kỳ tử”.

-Đinh Bộ Lĩnh (vua Đinh Tiên Hoàng)

-Nam Việt Vương (Đinh Liễn con trai đầu)

-Thái tử Đinh Hạng Lang và Vệ Vương Đinh Toàn (hai người này là con Thái hậu Dương Vân Nga).

 

Tôi sinh ra và lớn lên nơi miền Trung ven bờ sông với rừng lau trắng xóa. Mùa hè nắng le lưỡi chó nhìn từng đàn cá lượn dưới gầm cầu, cầu làm bằng những thân cây tre già ghép lại.

Thời tiểu học qua những trang sử oai hùng của một dân tộc bị đô hộ bởi Tàu từ thời lập quốc, những mãi vùng dậy đánh đuổi bọn xâm lăng bất cứ thời điểm nào có thể. Ươm mầm từ màu đất, dòng sông, cánh đồng tuổi dại, mùi khét nắng nơi lưng trâu, hương thơm tỏa ra từ hoa đồng cỏ nội. Biết suy nghĩ từ đêm kinh hoàng bởi tiếng trống mõ đình làng hòa vào “hoan hô, đả đảo” – và một số người thân trong gia đình bị bịt mắt trói dẫn đi không bao giờ trở lại.

Vào trung học ở thời kỳ “tiêu thổ kháng chiến”, thời kỳ mộng mơ của đám học trò vào mỗi mùa hè đến nhà từng đứa một bất cứ nơi hẻo lánh nào trong quận lỵ.

Từng đêm tiếng đàn hát vọng ra từ những mái tranh, bờ tre, bụi chuối. Những chiều rời sân bóng chuyền trần truồng nhảy ùm vào dòng sông bơi lội. Thuở thấy ngon làm sao ngồi quanh nồi khoai luộc hay bắp vùi tro. Hình ảnh các nhân vật trong “Đôi Bạn”, “Đoạn Tuyệt” đưa bước chân chúng tôi cùng nhịp thơ “Tây Tiến”, “Đêm Liên Hoan”, “Bên Kia Sông Đuống”…

Rồi đất nước chia đôi, hơn 2/3 số bạn bè đi ra Bắc, tôi ở lại hòa cùng nhịp sống thực sự tự do của miền Nam. Tìm hiểu cộng sản là gì qua “Nhân Văn Giai Phẩm” hoặc báo chí. Hiểu được phần nào thấy lòng quặn thắt thương cho nhau.

Vào Nha Trang sống lại tuổi học trò, đi dạy rồi làm lính. Chiến tranh, gia đình ly tán, bạn bè kẻ chết cho bên này, bên kia, bao nhiêu kiếp đời, bấy nhiêu cảnh ngộ.

Mỗi một mùa hè dừng chân nơi nào đó phượng vẫn hồng, tình yêu vẫn xanh chia xa mãi nhớ. Tình yêu lứa đôi mong là loài yến huyết cùng nhỏ từng giọt máu dệt thành tơ đan tổ ấm nơi hoang đảo vắng bóng người. Khi máu đã cạn, gom sức tàn bay vút lên cao rồi lao vào vách đá cho lồng ngực vỡ tan chìm vào biển lặng. Tình đồng nghiệp, thầy trò, đồng đội gắn vào nhau như chiếc gùi trên lưng cô gái thượng tháng ngày phát rẫy, tỉa ngô. Rồi miền Nam mất thêm một số bạn bè cùng cảnh ngộ trong các trại giam, thêm cho đời những chứng tích, chứng nhân từ hai phía. Một chút kiêu hãnh nào đó giúp con người đứng vững hơn trong cảnh đọa đày tù ngục. Và khi đến tuyệt đỉnh cô đơn bỗng thấy lòng thanh thản.

Được sống sót lưu lạc quê người, làm lại cuộc đời, xe chỉ buộc nhau vào túi cộng đồng, khơi lại lòng hăng say của tuổi trẻ từ chút tro ấm nhiều lúc thấy nghẹn ngào. Kẻ thực sự có danh, kẻ tạo nên hư danh gặm mòn hai thứ danh đó đến nhàm chán và trơ trẽn.  Ngày tháng đi cả hai cùng như nhau không còn biết thực giả như hàng hóa không phân biệt được từ trong đất nước quê hương hiện giờ.

 

Đọc lịch sử Việt Nam chưa thấy ai gian manh bằng Trần Thủ Độ. Trong “di chúc” của Hồ Chí Minh ông đã xác minh sự xảo quyệt của mình hơn cả Trần Thủ Độ. Lời cuối trong bản di chúc:

“Cuối cùng, tôi xin lẩy Kiều, mượn tạm hai câu thơ của cụ Nguyễn Du để tỏ lòng hối hận trước cao xanh:

Rằng con biết tội đã nhiều,

Dẫu rằng sấm sét búa rìu cũng cam

                        Hà Nội, 14-8-1969

                           Hồ Chí Minh

Theo Trần Khải Thanh Thủy trong tác phẩm của bà “Viết Từ Hang Đá Nhỏ Lệ Cùng Dân”, từ năm 1981 tờ “Con Ong Tỵ Nạn” (Pháp) đã đăng toàn bộ nội dung dưới dạng chữ viết tay của Hồ Chí Minh. Ngay sau đó, tờ “Thức Tỉnh” ở San Diego (Mỹ) đăng lại nội dung này:

Thời xưa ở bên Trung Quốc người ta thường nói, Con chim trước khi chết thì tiếng kêu thương, còn người trước khi chết thì lời nói phải: Tôi tự xét mình chẳng còn sống bao lâu nữa, nên cố gắng viết di chúc này, mong rằng những điều viết ra không phải là những điều sai quấy.

Vừa mới đây, Lê Duẩn có đi với Trần Quốc Hoàn tới gặp tôi, ép buộc tôi phải viết bản di chúc theo ý muốn của họ.  Tôi đã viết mà trong bụng vẫn tấm tức vô cùng.

Nay tôi viết thêm tờ di chúc này, xin coi là chính thức. Ngoài ra tôi không công nhận bất cứ bản di chúc nào khác. Tôi ước mong một ngày nào đó, bản di chúc tôi viết đây sẽ được mọi người biết tới, thì ở thế giới bên kia tôi mới được thỏa lòng.

Tôi vốn con nhà nghèo nhưng từ bé đã nuôi mộng đảo lộn sơn hà và đem lại vẻ vang cho nòi giống, nên tôi bôn ba hải ngoại bao nhiêu năm không hề quản ngại khó khăn, gian khổ, vào tù ra khám, chỉ mong có ngày tổ quốc ta độc lập, giàu mạnh, dân ta hạnh phúc, tự do.

Tôi thường đọc lịch sử nước Việt Nam ta, thấy có ông Trần Thủ Độ là một tay hào kiệt hiếm có trên đời, đã không quản ngại làm việc ác, làm phản mà gây nên cơ nghiệp hiển hách của nhà Trần, đuổi giặc Nguyên, đem lại vinh quang cho dân tộc về cả văn minh và đời sống…

Không lượng sức mình, không đo tài mình, tôi đã hành động như ông Trần Thủ Độ nên đất nước mới tan nát, nhân dân ta mới điêu linh, mà đầu mình thì nặng nề không biết bao nhiêu tội ác, không thể nào tha thứ được.

Cái nhầm tai hại nhất của tôi là đi theo Cộng sản Mác xít mà không biết là chủ nghĩa này chẳng qua chỉ là giả bộ, để đánh lừa giai cấp nghèo mà cướp lấy chính quyền cho nước Nga khi đó.

Tôi cũng ngay tình mà dùng những người hợp tác với tôi. Tôi cứ tưởng những người đó quý yêu tôi, đâu ngờ họ đều là mật thám của Nga sô, vây quanh tôi chỉ là để kiểm soát tôi, khéo léo hướng dẫn tôi đi theo con đường Nga đã vạch sẵn. Họ đề cao và tâng bốc tôi để khi nào làm điều gì độc ác thì tôi phải chịu hết trách nhiệm với dân tộc. Nhiều khi họ quyết định mà không hề cho tôi hay biết gì, như vụ cải cách điền địa ở Bắc Bộ chẳng hạn, bây giờ nhân dân có quyền nguyền rủa, oán trách tôi không biết để đâu cho hết.

Dù sao tôi vẫn là người có tội, tôi không dám chối cãi, chỉ dám mong lịch sử sau này xét kỹ cho tôi mà đừng lên án tôi quá nặng nề.

Đầu năm 1963, hồi đó tôi còn chưa bị bọn quanh tôi bao vây chặt chẽ quá, tôi có nhờ mấy nhân viên Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến chuyển vào Nam Bộ hai cành đào lớn rất đẹp để tặng cụ Ngô đình Diệm, kèm theo một bức thư, trong thư đó, tôi có chân tình yêu cầu cụ Ngô cùng tôi thảo luận trong tình anh em, để hai bên cùng lo cho dân chúng hai miền, trên căn bản thi đua làm cho dân giàu, nước mạnh, theo đường lối riêng của từng người. Truyện này lộ ra, làm cụ Ngô bị giết trong Nam, còn ở ngoài Bắc thì tôi bị kiểm soát rất khắt khe, không có quyền quyết định điều gì nữa cả.

Đáng lý ra tôi có thể bị giết ngay từ hồi đó rồi, nhưng tên tuổi còn được thế giới biết đến, nên họ còn phải lợi dụng mà để tôi sống thêm. Tôi đã già rồi, râu tóc đã bạc mà còn phải sống trong cảnh tù giam lỏng, cứ nghĩ đến điều này làm tôi ứa nước mắt. Họ đã không giết tôi nhưng sai ông Bác sĩ Tôn thất Tùng cho tôi uống thuốc độc để tôi không thể đi đâu được nữa, mà cũng không thể tiếp xúc với những người mà tôi muốn tiếp xúc. Tôi chưa chết ngay, nhưng là chết dần, chết mòn, ở biệt lập một nơi để đợi ngày tắt thở. Thật cũng tiếc, khi về già, biết mình sai lầm, muốn chuộc lỗi mà không được nữa.

Trước khi viết phần cuối của tờ di chúc này, tôi xin thú nhận, tôi là một người không phải thần thánh gì nên khi tôi còn sống cũng đủ “bảy tình” như kinh nhà Phật đã đề cập.

Tôi không có vợ, nhưng cũng có được đứa con gái lai Pháp. Tôi ước mong con gái tôi, khi đọc tờ di chúc này sẽ tha thứ cho tôi đã không đủ bổn phận làm cha, nhưng phụ tử tình thâm, tôi luôn nhớ tới con gái tôi với muôn vàn âu yếm.

Ai cũng tưởng tôi là con người vô thần, nhưng riêng Đức cha Lê Hữu Từ thì biết tôi rất tin có Đấng Tạo Hóa. Vì tin có ông Trời nên tôi xin khẩn cầu cho nước ta và các nước Cộng sản khác trên thế giới sớm thoát ách Cộng sản.

Tôi cũng xin ông Trời cho tờ di chúc này có ngày được phổ biến khắp nơi.

Cuối cùng, tôi xin lẩy Kiều, mượn tạm hai câu thơ của cụ Nguyễn Du để tỏ lòng hối hận trước cao xanh:

Rằng con biết tội đã nhiều

Dẫu rằng sấm sét búa rìu cũng cam.

                Hà Nội 14-08-1969

Tên ký:

Hồ Chí Minh.

 

Theo bà Thanh Thủy thì “Bác Hồ” ủy quyền giao cho giữ tờ di chúc này là Vũ Kỳ, thư ký riêng của ông. Năm 1980, ông Nguyễn Thế Kỷ được người nhà bảo lãnh sang Pháp. Vũ Kỳ bí mật gặp gỡ và trao tay tờ di chúc này với lời dặn: Phải tìm bằng được đứa con gái của ông Hồ tại Pháp, khi đó cũng xấp xỉ ở độ tuổi trên dưới 65 trao tận tay lá thư này.

Qua tờ di chúc không thấy Hồ Chí Minh nhắc đến Nguyễn Tất Trung (con của ông và cô Nông thị Xuân)

Theo Vũ Thư Hiên trong “Đêm Giữa Ban Ngày” và Trần Khải Thanh Thủy thì Xuân lúc đó 21 tuổi về phục vụ “Bác” tròm trèm 65. Trong lá thư cô Vàng là chị họ Xuân gửi Quốc Hội Việt Nam “Sau ngày sinh cháu Trung, chị (Xuân) thưa với Bác, ‘Bây giờ đã có con trai, xin Bác cho mẹ con ra công khai’, Bác nói ‘Cô xin như vậy là hợp tình hợp lý, nhưng phải được Bộ Chính Trị đồng ý, nhất là mấy ông như Trường Chinh, Lê đức Thọ, Hoàng quốc Việt đồng ý mới được’. Do đó, cô đành phải chờ một thời gian nữa. Mấy tuần trước Bác hỏi chị (Xuân) ‘Các cô ở đó có nhiều người lạ tới thăm phải không?’ Chị (Xuân) thưa: ‘Ba chị em không có ai quen ở Hà Nội. Còn bà con ở Cao Bằng không biết chị em ở đâu’, ‘Không nhẽ ông bộ trưởng Công an nói dối’ (Bộ trưởng Công an lúc đó là Trần quốc Hoàn). Sau này khi khám nghiệm tử thi: cơ thể lục phủ ngũ tạng không có thương tích. Dạ dày không có thức ăn, không có thuốc độc. Tử cung không có tinh trùng biểu thị không bị hiếp dâm. Duy chỉ có xương đỉnh đầu bị rạn nứt. Mổ sọ não không còn óc, mà chỉ còn nước nhờn chảy ra. Bác sĩ tuyên bố đây có thể bị trùm chăn lên đầu rồi dùng búa đánh vào đỉnh đầu. Trung sinh năm 1956, sau khi Nông thị Xuân bị ám hại thì giao lại cho Vũ Kỳ nuôi nên gọi là Vũ Trung.

Từ ngày về hầu hạ “Bác”, nhất là sau khi sinh Trung, Hoàn đã thường xuyên cưỡng hiếp Xuân, có lần Hoàn kéo tay Xuân nói: ‘Thanh niên nó phục vụ không khoái hơn ông già mà còn vờ làm gái!’

Như vậy, trong lòng Hồ Chí Minh đã nghi ngờ Xuân nên nhân vật Nguyễn Tất Trung được giấu kín, mãi sau này nghĩ tình dù sao cũng cùng cha khác mẹ nên Nông đức Mạnh nâng lên cùng các đứa con của Vũ Kỳ, con của Phan văn Khải, Nguyễn chí Thanh gọi là nhóm G7 (7 người giàu có nhất Việt Nam).

Con người đến cuối đời, khi biết mình không còn gì mới quay lại ăn năn, sám hối, trối trăn, di chúc. Hồ Chí Minh không ngoài ngoại lệ đó. Nhận mình theo bước chân Trần Thủ Độ, nhưng xảo quyệt, gian ngoa thì lấn xa. Để dễ so sánh xin đọc lại đôi dòng về Trần Thủ Độ.

“Là người Việt Nam ai cũng biết Trần Thủ Độ là người vô cùng xảo hoạt, đầy uy lực, quyền bính, nên đã thao túng được toàn bộ triều đình nhà Lý. Biết Lý Huệ Tông (con trưởng của vua Cao Tông) thể tạng nhỏ lại mang trọng bệnh, lên ngôi được 3 năm vẫn chưa có con trai (1221-1224) liền vận động hoàng hậu là Trần thị Dung và cận thần ép Lý Huệ Tông phải ra chùa Chân Giáo chữa bệnh, để nhường ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng, rồi dựng ra một đám cưới giữa Chiêu Hoàng (7 tuổi) với Trần Cảnh (8 tuổi) là cháu ruột mình để Lý Chiêu Hoàng trao mọi quyền lực vào tay chồng. Ngay sau đó ông ra chùa Chân Giáo buộc Huệ Tông (lúc bấy giờ là Huệ Quang đại tự) phải tự vẫn chết khi mới tròn 33 tuổi.

Nhà Lý đổ, chấm dứt một thời trị vì hơn 200 năm, trải qua tám đời (Lý bát đế), Trần Thủ Độ lấy mẹ đẻ của Lý Chiêu Hoàng là Trần thị Dung (*). Cuộc hôn nhân tưởng sẽ hóa giải được xích mích giữa hai dòng họ, triều vua, ai ngờ, với chiêu thức “nhổ cỏ nhổ tận gốc” nên khi biết các tôn thất nhà Lý hàng năm vẫn tụ tập hội họp tại ngôi nhà lớn ở hoa thôn Thái Bình để giỗ tổ, Trần Thủ Độ đã bí mật cho đặt cả hệ thống dây chằng, xích sắt, cột trụ để giật sập nhà, giết chết cả 300 quan giỏi tướng tài của triều cũ để họ hết bề làm phản. Hiện mộ chôn tập thể vẫn còn ở thôn Thái Bình, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh (gần khu vực cầu Đuống, Hà Nội).

Thật là một tội ác tày trời mà sử sách Việt Nam muôn đời ghi khắc.

Chưa đủ, sau 7 năm đặt cháu lên ngai vàng thấy Trần Cảnh vẫn không có con nối dõi, Trần Thủ Độ liền cưỡng ép Trần Cảnh phải lấy chị ruột của vợ mình là Thuận Thiên, khi đó Thuận Thiên (vợ của Trần Liễu – anh trai Cảnh) đã có mang 4 tháng. Còn Chiêu Hoàng, nếu muốn ở lại trong cung thì phải lấy Trần Liễu. Không chịu nổi việc đảo lộn luân thường đạo lý: Em rể lấy chị dâu, anh chồng lấy em vợ như vậy nên sau khi ngửa cổ than: “Trời ơi, đến bậc dân thường còn hiểu điều phải quấy, huống chi bậc đế vương. Sao có chuyện thương luân bại lý như vậy”. Lý Chiêu Hoàng bỏ ra chùa Trấn Quốc.

Bản thân Hồ Chí Minh quyết định học theo tấm gương đại gian đại ác này, hy vọng “đem lại vinh quang cho dân tộc về cả văn minh và đời sống”. Vì thế suốt đời trai trẻ để đạt được ý đồ “đảo lộn Sơn Hà” ông đã không bỏ qua bất cứ một thủ đoạn độc ác nào. Từ việc mượn danh Nguyễn Ái Quốc của nhóm Ngũ Long để tạo lập uy tín cho mình đến việc mật báo với chính quyền thuộc địa bán đứng cụ Phan Bội Châu (06-1925) để lấy 150.000 quan và toàn bộ tổ chức Tâm Tâm Xã cũng như uy tín tên tuổi của cụ, rồi mượn tay Pháp tiêu diệt thẳng tay cuộc khởi nghĩa Yên Báy của Việt Nam Quốc Dân Đảng để họ không xâm phạm ngôi bá chủ của mình. Còn chiếm tên Hồ Chí Minh của ông Hồ Học Lãm (một nhà ái quốc lừng danh lưu vong sang Tàu) cùng toàn bộ tổ chức “Thanh niên Cách mạng đồng chí hội” của ông để phô trương thanh thế, khi bị con gái ông Lãm phát hiện đã bí mật cho người thủ tiêu trên đường bà này về thăm quê ở Thanh Hóa.

Cũng vì học gương thoán ngôi, đoạt quyền của Trần Thủ Độ, ông còn thẳng tay đàn áp tất cả các đảng phái không đi theo con đường vô sản, tuyệt diệt dân tộc của ông. Trang sử vàng Việt Nam hiện nay vẫn còn lưu giữ những bí mật lớn. Tại sao Lê Hồng Phong, Trần Phú, Nguyễn thị Minh Khai, Hà Huy Tập…lại bị Pháp bắt và phải nhận bản án tử hình. Tại sao cụ Huỳnh Thúc Kháng – chủ tịch lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Lâm Đức Thụ – người đã cùng bày mưu tính kế với ông trong việc bán đứng Phan Bội Châu, cũng là người đưa ông về ăn ở hàng năm trời tại nhà rồi giới thiệu Tăng Tuyết Minh – là bạn thân của Lý Huệ Quần (vợ Lâm) thành vợ ông (10-1926), lại bị thủ tiêu ngay sau thời điểm cách mạng tháng Tám thành công ??? Chừng nào những câu hỏi loại này chưa được giải đáp thì hình búa liềm của Đảng trên nền cờ đỏ mãi mãi chỉ là hình dấu hỏi trong con mắt các nhà sử học, giới nghiên cứu, trí thức…mà thôi”(Viết Từ Hang Đá…, trang 297-299)

Thời gian, rồi tất cả sẽ an bài, cách duy nhất là mòn dần trí nhớ. Nhưng rồi một chút kỷ niệm nào lóe lên thì cuốn phim dĩ vãng chầm chậm quay về. Thuở lên 10, tôi hay lân la nhà người hàng xóm, đó là “ông Câu bẫy chim”. Ngày nọ ông bắt được con chim vừa chập chững bay. Nuôi thật kỹ, khi chim bắt đầu đủ lông cánh và hót được gọi là “con chim mồi”. Một ngày kia, ông dùng cây kim cùng một sợi chỉ thật nhỏ may mí mắt chim khép lại. Tháng ba, sau vụ gặt, đồng thoáng, trời trong, ông mang chim mồi đặt vào khoảnh ruộng vừa gặt xong, quanh chim là hai tấm lưới gọi là bẫy. Sợi cước dài đầu buộc vào chân chim, đầu kia nơi tay trái ông. Một sợi dây đầu buộc vào cần bẫy, đầu ông nắm ở tay mặt. Ông ngồi trong bụi rậm cách chim mồi độ hai chục mét. Bầy chim bay lượn ríu rít nghe chim mồi gọi, mừng quá, cả bầy đáp xuống ruộng. Nghe tiếng hót của đồng loại từ ngày chào đời, ông Câu giựt chim mồi chập chờn như cất cánh. Cả bầy đang vây quanh chim mồi thì lưới bẫy gấp lại, chim la hét, lông bay tứ tung.

Bữa cơm chiều nhà ông Câu vui làm sao, kẻ nhổ lông, người nướng thịt, tiếng chim than khóc, mùi rượu – rượu vào lời ra – hả hê.

Sau ngày ấy tôi thấy “chim mồi” buồn lắm và biếng ăn. Tuần sau ông Câu lại mang “chim mồi” cùng bẫy ra đồng. Lạ thay lần này bầy chim bay lượn song không đáp cạnh chim mồi. Sau một ngày không bắt được con chim nào, ông Câu về nhà có vẻ giận lắm.

Đêm nằm mơ, tôi nghe vẳng từ xa cơn gió đồng vọng lại tiếng chim có cả tiếng người. Lời trách móc, giận dữ của bầy chim khi mất con, mất chồng, vợ, bè bạn. Nhưng trong bao lời ấy lại – lời xót thương đến nhủn lòng người “Tội nghiệp nó, xa cha mẹ từ thưở nhỏ, vẫn còn giữ được tiếng hót của loài chim, song không biết sắc màu của không gian, kể cả đồng loại. Người bẫy chim đã may mí mắt nó từ khi đặt cho nó tên “con chim mồi”.

Vài hôm sau con chim mồi cất lên tiếng kêu bi thương rồi gục đầu. Từ ngày ấy tôi không có dịp ghé nhà “người bẫy chim”.

Vào đời, thời ly loạn, chiến tranh, đi nhiều nơi cũng chỉ là đánh đổi sự nhàm chán nầy đến nhàm chán khác. Tìm về Phật rồi Chúa gặp không ít người đi rao giảng tin mừng, người rao giảng đã hành động sai quấy, thiếu nhân cách nên làm vơi đi niềm tin tôn giáo…Hình ảnh người chờ hóa đá phải chăng ngóng mãi người đi quên được thời gian. Nằm mãi trong không gian quên mọi sinh tử, hưng phế ; làm sao quên định luật Tạo hóa.

Hình ảnh con mồi Nguyễn Văn Thạc, Đặng Thùy Trâm đã đưa hàng triệu bộ đội trải thảm trên đường mòn Hồ Chí Minh từ Bắc vào Nam.

Lần nào đó thiếu tướng Đỗ Xuân Điềm tư lệnh Binh đoàn 12, người vào Trường Sơn từ tháng 5/1959 viết:

“Phía sau đoàn bộ đội là cánh rừng con gái tuổi 19, 20 gác chuyện học hành vui chơi lại suốt ngày đêm dầm mình dưới bom đạn nước đục đỏ mùa mưa. Quanh năm mặc độc loại quân phục màu xanh lá cây. Rồi đến cả đại đội nữ thanh niên xung phong 6 tháng liền không thấy giặt giũ xô màn phụ nữ nữa “nhàn nhã” như đàn ông. Lúc đầu còn ngại giấu, lôi cái đồ sạch bong ở ba-lô ra suối giặt, vừa giặt vừa khóc thầm. Sau không giấu được nữa, hỏi nhau thì tất cả đều như vậy. Ôm nhau, cả đại đội khóc. Bom đạn, thời tiết, cường độ lao động đã thay đổi cả quy luật sinh lý bình thường của chị em”.

Thời đại văn minh “con mồi” do loài người tạo nên cũng tân tiến hơn đến nỗi con cá thèm mồi cắn câu trước khi chết cũng là mồi giả. Bầy nai rừng ngơ ngác ngóng tiếng kêu của đồng loại rồi bị hạ sát cũng là tiếng giả. Bây giờ thì con mồi đã tràn đầy từ tôn giáo, đảng phái chính trị đến người mang sứ mệnh gọi là vì dân, vì tổ quốc. Biết dựa vào đâu? Tin vào ai?

Điện thoại về thăm nhà cũng để trả lời thư đứa cháu gái: “Có dịp cháu về quê ngoại nhờ má cháu hỏi “con cháu ông ‘Câu bẫy chim’ bây giờ có đứa nào nối nghiệp cha ông?” bởi vì cậu sợ nhìn người nhớ cảnh:

“Dù ghét nhau xin đừng làm trái độc

Ươm mầm nầy cho thế hệ mai sau”

 

TRẦN ANH LAN

Ghi chú:

(*) Trần Thị Dung con ông Trần Lý, bác ruột Trần Thủ Độ cũng là người nuôi Trần Thủ Độ từ thưở nhỏ.

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là con của Trần Liễu cùng bà vợ đầu là Nguyệt Thị.

 

 

 

 

%d bloggers like this: