Kể Lại Nghe Chơi-Kể Mà Chơi

KỂ LẠI NGHE CHƠI – KỂ MÀ CHƠI

 

TRẦN ANH LAN

 

Người già thường ngồi kể chuyện đời xưa cho con cháu vào những đêm trăng, nhất là nơi vùng quê thật yên tĩnh, đó là chuyện thời nội, ngoại. Nơi đây con cháu không mấy đứa còn mê tiếng Việt, vả lại, nếu không con cháu thì kể cho ai. Thôi thì còn ít kẻ xa quê với “ngút ngàn tâm sự”; kể cùng nhau nghe vậy.

1. Thằng Đàm Liều.

Bởi chữ nghĩa “tam sao thất bản” nên có kẻ gọi là thằng Dám Liều hoặc Đâm Liều. Đúng chút chút, miễn “Liều” là được.

Số là làng nọ có một ông giàu lắm, dùng tiền bạc mua được chức “cửu phẩm”. Từ một nông dân làng bên, gặp mấy năm mất mùa, ông bèn bán nhà sang ngụ một làng khác. Có cửa hàng tạp hóa, gần xóm chợ nên các con ông được hấp thụ nét cần cù, hơi “cùi trâu” của anh nhà quê, nét lém lỉnh của kẻ hàng chợ, nét bán buôn của kẻ mua danh, nét khúm núm, hống hách của kẻ thất và được thời, nhất là nét anh chị của mấy tên trùm bến xe.

Kế làng ông cửu phẩm có gia đình anh nông dân nghèo. Anh lo việc hầu hạ trà nước cho quý vị làng xã khi họp hành. Vợ chồng chỉ có một đứa con gái tuổi mới 13 đã nổi tiếng cả huyện. Cô đẹp lắm, không có một khuyết điểm nào. Nghiệt nỗi cha cô tuy nghèo lại khí khái. Ông treo giá quá cao cho bất kỳ kẻ nào muốn vào ngắm nghé con gái ông. Muốn làm rể nhà ông phải dẫn đủ trâu béo 10 con, heo béo hai chục, 100 nén bạc, 50 nén vàng, trầu cau, gạo nếp phải mấy trai lực lưỡng mới kham nổi. Lần hồi bao kẻ ngắm nghé rút lui, bà vợ quỳ lạy khóc lóc sợ con gái không kiếm ra tấm chồng. Ông vẫn một mực vậy không chút lo âu, còn quát tháo vợ nữa là khác. Quả là con chim sa bẫy vì tiếng gáy ; thiên hạ kháo nhau: “Ông cửu phẩm giàu lắm, được ông thần hoàng làng nầy phù hộ sao để thằng con trai cả mình thèm nhỏ giãi. Nói vậy chứ chưa chắc lão đủ của hồi môn của đàng gái treo giá cưới xin”.

Tức khí ông cửu phẩm bán hết của nổi của chìm nạp đủ sính lễ xin rước dâu. Đám cưới đồn ầm lên khắp làng trên xóm dưới: cô con gái nhà nghèo giờ là dâu trưởng ông cửu phẩm.

Cha mẹ cô gái mang tất cả của hồi môn ra cúng làng, bởi làng quá nghèo, 2 ngôi miếu thờ đã đổ nát làng không đủ tiền tu bổ. Lại thêm một bữa đãi đằng làng họ no nê.

Từ lâu tiếng ông cửu phẩm giàu có, giàu có là nhờ đám dân làng mà ông lại hống hách với họ, chỉ ngọt xớt ở cái miệng bề ngoài khi cần chớ chả thí một xu cho kẻ nghèo khó, kể cả việc sửa sang đình chùa.

Tội nghiệp cho cô dâu trưởng! Ông bà cửu phẩm giao cho cô đủ thứ việc từ việc ngoài đồng, trong nhà đến việc buôn bán, trai bạn…Việc động phòng thì không hề có. Chồng cô không dám đến gõ cửa phòng vợ sợ cha mẹ, chỉ lén nhìn cô rồi thở dài…Cô dâu trưởng ngày một gầy đi. Rồi hai năm sau lấy cớ dâu trưởng không sanh nở nên ông bà cửu phẩm cưới vợ hai cho con trai. Cô vợ hai đen đủi, xấu xí nhưng lại sinh đẻ quá khỏe, 5 năm cho ra đời 4 bé gái. Rồi để kiếm chút cháu trai, cậu con trai lại phải đành nghe lời cha mẹ lấy vợ ba. Cô dâu trưởng bây giờ lại thêm một việc là lo cho lũ con bà hai, bà ba…

Ông bà cửu phẩm bởi vét sạch lo của hồi môn rước cô dâu trưởng, giờ bắt cô làm con ở khéo để gỡ gạc trả thù. Một điều con, hai điều con, cô dâu trưởng càng héo mòn dần, gầy đét như cái que. Mười lăm năm trôi qua cô chưa một lần được ghé về thăm cha mẹ dù hai nhà không cách xa mấy.

Một hôm nhà ông cửu phẩm có giỗ, chè chén mãi tận khuya. Trong ánh đèn mờ, một gã trai vạm vỡ vào ôm cô dâu trưởng. Cô biết không phải là chồng mình bèn la ầm lên. Bà cửu phẩm đôn đốc trai bạn đang chè chén kiểm điểm xem ai là kẻ vắng mặt ; thì ra đó là cậu con trai thứ “Đàm Liều”. Bà im lặng làm lơ việc nầy vì nó là con bà, bà rõ nó hơn ai hết. Với nó miễn là “thỏa mãn”, bất kể loạn luân.

Từ hôm đó cô dâu trưởng thưa cùng cha mẹ chồng đêm đêm cho cô khóa cửa phòng. Ông bà ậm ừ lấy lệ:

– Ừ, thì tùy con.

Nói vậy cô vẫn hé cửa chờ chồng. Rồi một đêm trời mưa, chồng nàng qua cửa, cô nắm được bàn tay. Ôi cái bàn tay mới ấm làm sao! Người cô nóng ran. Cô rên rỉ khe khẽ:

– Anh không thương em sao?

-Anh thương em quá, thương quá, nhớ quá song cha mẹ bảo nếu đụng đến em cha mẹ chém cả hai đứa.

Anh vội vã buông tay vợ. Cô vào buồng ôm gối òa khóc.

Mười tám năm, lần đầu cô dâu trưởng được ông bà cửu phẩm cho về thăm cha mẹ và ở lại đó vài ba hôm. Nhìn thấy con, hai ông bà vồ ôm con rồi khóc. Mười tám năm đi làm thân đứa ở khéo cho gia đình ông cửu phẩm. Cái giá quá đắt cho sự ngông cuồng của ông. Cô thở than cùng cha mẹ sự thật về việc không sinh đẻ của mình. Gặp lúc ông chú họ từ trên tỉnh về thăm quê. Qua câu chuyện, ông hầm hầm nổi giận. Một tháng sau, quan huyện về làng ông cửu phẩm hạch hỏi, cho điều tra sự gian ác và phạt ông một số tiền khá lớn để sửa sang đình chùa, cúng tế vị thần hoàng, người lập nên ngôi làng nầy.

Kể từ đó “Đàm Liều” làm bất cứ chuyện gì. Nơi nào y vào làm việc được ít lâu cũng bất mãn, đánh phá, chủ trương lật đổ, cố tình phong thánh cho cá nhân mình bất chấp thủ đoạn nên được gọi là kẻ “chung thân bất mãn, chung thân phản bội”.

Cũng từ đó cái tên Đàm Liều thành Dám Liều hay Đâm Liều!

 

2.Chuyện Con Giun

 

Vào thuở xưa thật xưa, nơi một vương quốc nọ, cuộc sống thật thanh bình, không trộm cắp, dân chúng thật an vui. Vị vua trị vì rất nghiêm minh, trừng phạt thích đáng kẻ phạm tội. Ông ra lệnh, kẻ ăn cắp:

-Nếu dùng tay ăn cắp thì chặt tay.

-Nếu dùng chân thì chặt chân.

-Nếu dùng mắt liếc thì móc mắt.

-……

Có một nhà văn nọ, một đêm kia, khi viết bài xong đặt lên bàn trong thư phòng rồi về phòng ngủ đánh một giấc ngon lành. Một tên trộm đến. Hắn chép toàn bộ văn thơ của nhà văn nọ rồi ra về, chẳng một ai hay biết. Ít lâu sau, toàn bộ thơ văn của nhà văn nọ được in bán khắp nơi. Nhà văn đâm đơn kiện lên đức vua. Nhà vua cho điều tra rồi gọi tên “đạo văn” vào tra hỏi. Y ấp úng trả lời:

-Muôn tâu bệ hạ cùng bá quan văn võ. Con có lấy cắp gì đâu, con chỉ chép thôi mà. Toàn bộ thơ văn vẫn còn nguyên vẹn đâu có mất mát gì.

Nhà vua hỏi:

-Ừ thì chép. Vậy thì nhà ngươi chép bằng gì?

-Dạ thưa, bằng tay.

-Nhà ngươi nhìn bằng gì?

-Dạ thưa, bằng mắt.

-Nhà ngươi đọc bằng gì?

-Dạ thưa, bằng miệng,

-Vậy nhà ngươi phạm ba tội: nhìn, đọc, chép. Truyền lệnh: Đục mắt, cắt miệng, chặt tay.

Nhà vua nhìn tên “đạo văn” phán:

-Trước khi thi hành bản án, cho ngươi muốn xin điều gì thì nói.

Y run run lạc giọng:

-Tâu hoàng thượng, đục mắt con không còn thấy nữa. Cắt miệng con không còn ăn được nữa. Chặt tay con đâu còn quờ quạng được thứ gì. Con xin vua chặt nốt hai chân, bởi còn có nó cũng chẳng lợi gì cho con.

Vua phất tay, y biến thành con vật lòng thòng, bò tới, bò lui rồi chui vào đất.

Từ đó, đất sinh thêm con “giun”, cứ chờ lúc trở trời, vắng người nó lại chui lên mặt đất vẽ ngoằn ngoèo ; dựng toàn thân lên, lăn tròn mà sao chép những câu văn thơ mà y đã “đạo văn” được từ kiếp trước.

Hàng ngàn năm sau, khoa hoc phát triển, thời “tin học” ra đời, con giun giẩy dụa bò về “nôi văn hóa tỵ nạn” còn gọi là thung lũng hoa vàng. Nơi này xưa là vùng của “tao nhân mặc khách”, nay là chốn “gió tanh mưa máu”.

Hoa là biểu tượng của đàn bà, gặp giống khỏe sinh 5, đẻ 7 chẳng nhằm nhò gì, trộn giống ốm yếu, tong teo cũng gắng được một mụn để có tiếng khóc trẻ thơ và đở cô đơn lúc tuổi già. Ông Trời vốn nòi tình, thương cành hoa khẳng khiu nơi kẻ đá cũng gắng với đời nở một nụ hoa nên ban ơn mưa móc. Có chút nước, giun tha hồ quậy. Bởi cái thân vốn trụi lủi như khúc củi lại trườn bò, lăn lộn nên chất cần thải ra ngoài của cơ thể lại dội ngược về óc. Từ ngày hóa thành “giun”, thuộc vùng đất của Diêm Vương. Diêm Vương bực mình lắm, bởi thêm một kẻ “ăn hại, đái nát”, kiểu nầy tiêu ma cha nó cái quỷ xã hội; ông bèn kêu thấu trời xanh.

Nhả trời nghĩ: Cũng tại mình ném cái của nợ cho họ, thôi thì sẳn dịp trắc nghiệm nền khoa học hiện đại. Thế là các khoa học gia đè con giun lột miếng da đầu chuyền một ống nhựa luồn qua nách xuống bàng quang dặn: “Từ nay không được quậy nhiều”; quậy nhiều chất thải lại dội ngược về óc. Nhưng chứng nào tật nấy nó bị “tẩu hỏa nhập ma” tha hồ “đạo văn, đạo chích” bài của các “Hải hành gia” trong “những chuyến hải hành dài vô cùng tận” rồi nhờ chút nước mưa trời ban trườn “LÊN BỜ”.

Diêm Vương giận bàn cùng các khoa học gia “thôi thì ghép cho nó 4 bàn chân ngắn kiểu con “bọ hung” để nó khỏi trườn chỉ bò. Nào ngờ được dịp nó bò lê, bò càn từ gót giầy anh “dân vệ thăng hoa”  đến anh đồ mãi “Sáng vác ô đi, tối vác ô về” thi suốt đời không đổ đạt vinh quy. Rồi nó lại bò từ váy con “Ma cộng đồng” đến “Bọ Ngựa” Quả là họa vô đơn chí của Diêm Vương, nó vươn dài được một chân  quớ đến “con chuột” của máy vi tính. Thôi thì hai vợ chồng nhà giun thi nhau bấm, con chuột chạy mệt nghĩ vẻ đủ loại thư nặc danh. Thung lũng hoa vàng thêm một trận gió tanh mưa máu nữa.

Quá khủng khiếp, dân gian vùng thung lũng đành tránh xa vợ chồng giun. Họ đồn ầm lên rằng “Đầu năm gặp vợ chồng nhà nó đánh bạc thua ba năm liền,” nói theo kiểu Trương vô Kỵ của tiểu thuyết Kim Dung.

Buồn tình vợ chồng giun kết bạn với con chim “vần xay”, loai chim này có ở miền Trung nước Việt, lông vàng có vầng đen, “cao cẳn”. Nó bay khắp đó đây tha gắp làm anh “đạo văn” được mấy kẻ “nâng chim” phong thánh là “nhà văn trẻ”, “nhà giáo dục”. Bởi chim “vần xay” khéo nhỏ to nên thành nhà tâm lý chuyên “gở rối tơ lòng” hòa hợp, hòa giải, quyên tiền làm việc từ thiện, lúc thì xông xáo vào mặt trận bán, bầu, lúc ẩn danh làm cư sĩ chùa nhà:

Thật là

            Bút nghiêng vơn vẽ đời tâm sắc,

            Phật mĩm cười nhìn quỷ giả tăng.

Ngày đại hội nước Đất Trời, đầy đủ văn võ bá quan, một vị đại thần kính cẩn thưa.

Kính bẩm Ngọc Hoàng, Diêm Vương:

             – Con giun được ráp 4 bàn chân thành con bọ hung kết cùng con chim vần xay gây đại loạn. Kính xin Ngọc Hoàng, Diêm Vương cho Thiên Lôi trừ khử.

            Hai ông vua cười “Ngươi quả là chim sẽ không hiểu ý chim Đại Bàng tí nào”

             – Loài vật chỉ có hai loại đó là chịu ăn “Fund”, nhất là chất thải của loài động vật                            có vú, hai chân. Bọ hung đội lên từ đầu ăn từ trong ra ngoài; vần xay ăn quanh co từ ngoài vào trong.

Bởi chúng tham ăn, lại ăn bẩn nên giành giựt rồi tự thanh toán nhau. Ta giết làm gì mang tiếng ác. Lại nên để nó sinh tồn, thời “tin học” có gì trên “net” thiên hạ đều biết hết. Hơn nữa loại “Fund” đó nghiền nát thành thực phẩm tốt cho ngũ cốc chế biến dầu thô. Các ngươi không thấy giá xăng hạ dài dài, còn hạ nữa sao???

Thôi Bá quan văn võ cùng nâng ly đi.

                 – Thật diệu kế, diệu kế.

             Tiếng vỗ tay, tiếng pháo nổ vang trời.

 

TRẦN ANH LAN

 

 

%d bloggers like this: