Phồn Vinh Giả Tạo

PHỒN VINH GIẢ TẠO

 

TRẦN ANH LAN

 

Người đàn bà mạnh tay xé tở “thỏa ước” trước cặp mắt ngạc nhiên, buồn và hằn học của hai gã đàn ông ; bên cạnh là mấy đứa con đầm đìa nước mắt.

Gã thứ nhất (người chồng tập kết từ Bắc về) cặp mắt đỏ ngầu, tóe lửa tưởng chừng muốn ăn tươi nuốt sống bà ta, nghe như thành quách quanh đây sụp đổ, cơ ngơi gầy dựng một đời bị cuốn trôi theo cơn hồng thủy. Gã thứ hai (người chồng Xã Trưởng) thoáng niềm vui trong đôi mắt, dường nghe chút hồi sinh trong huyết quản ; gã bước thật nhẹ lẳng lặng biến mất vào ngõ cụt nào đó. Mấy đứa nhỏ nắm tay người đàn bà giật mạnh, bà ôm con vào lòng ngồi khóc.

Bà nhớ lại 21 năm về trước là cô gái vừa tròn 17 ngày ngày bên cạnh cha (ông chủ tiệm thuốc Bắc) nơi thị trấn nhỏ nhưng khá nhộn nhịp của thời kháng chiến.

Được sự sắp xếp của gia đình, cô về nhà chồng. Đám cưới khá đơn giản và hơi vội vã. Trước năm 1930, quê tôi những gia đình cần cù làm ăn, dành dụm chút ít tiền lo chạy mua được chút danh “bá hộ” “cửu phẩm” để nở mày nở mặt với xóm làng: “gia đình Bá hộ, ông Cửu phẩm”.

Sau năm 1945 các gia đình có chút ít của cải, ruộng đất lo chạy vạy “xuống cấp”, sợ mấy chữ “trí, phú, địa, hào”. Trẻ chăn bò rập ràng hát:

“Có chồng bần cố là tiên

Có chồng địa chủ là duyên con bò!”

Hoặc:

“Khoai lang lột vỏ hai đầu

Lấy chồng bộ đội là dâu bác Hồ”

            Quả là “thế sự thăng trầm”. Ông chủ tiệm thuốc Bắc chọn được rể đúng tiêu chuẩn may ra khỏi nâng cấp cho gia đình, bấy giờ con gái lại là “dâu Bác”.

Hai tháng sau chồng cô theo chủ trương của đảng Cộng sản tập kết ra Bắc (hiệp định ngưng bắn ngày 21-7-1954). Cô dù sao cũng được vinh hạnh hơn là đã cùng chồng hai tháng bên nhau. Bao cô gái khác mới vừa dạm hỏi, hứa hôn, một đêm, một tuần rồi chờ, chờ hai năm…Làm sao diễn tả hết những uất nghẹn của con gái tuổi dậy thì, khao khát, có lẽ cũng chỉ là “Đêm đêm muốn đạp cửa phòng mà ra”, hoặc ôm chiếc gối cắn răng nín thở như người đàn bà lần đầu sinh con.

Biệt tăm hơi, chờ quá hai năm, rồi ba năm như một lần đoạn tang chồng đủ nghĩa để làm lại cuộc đời khác, bây giờ thì cô đã ngoài hai mươi. Thuở đó quê tôi con gái ngoài hai mươi là quá lứa. Với cô ngoài hai mươi lại chồng tập kết, tìm được tấm chồng quả khó khăn. Nhưng may thay cuộc hồi sinh sau những năm “tiêu thổ kháng chiến”. Ông chủ tiệm thuốc Bắc làm ăn ngày một phát đạt và cô cũng tìm được tấm chồng tương đối “môn đăng hộ đối”. Cô trở thành bà chủ tiệm tạp hóa có tủ bán kim hoàn nơi thị trấn. Gia đình đầm ấm, người chồng sau lại là ông Xã trưởng làng kế cận.

Miền Nam bị cưỡng chiếm, ông xã trưởng vào tù. May cho ông, nợ máu với dân không đến nỗi, nên trời dung và đất tha, chỉ ít năm thôi ông được ra tù. Thời gian trong tù, người chồng cũ của bà chủ “kim hoàn” từ ngoài Bắc về. Ôi thôi, chuyện tình da diết từ mấy mươi năm dồn nén như con giun chờ trời mưa lúc vắng người bò lên mặt đất tha hồ mà vẽ trườn tấm thân trên mặt đất tả tình; phong thánh cho bà. Riêng bà lúc nầy như trời vào thu buồn buồn, chợt nắng chợt mưa. Dùng dằng mãi đến khi ông xã trưởng ra tù, ông chồng cũ đến hù dọa rồi thương lượng.

Từ câu chuyện đánh Tây, (anh hùng Điện Biên) đuổi Mỹ, tình nguyện đi B về tận chiến trường Quảng Ngãi lập cơ sở nằm vùng. Công tác khó khăn, nguy hiểm, ông thao thao…nào là “bắt mối” với chiến dịch “đất ta ta giữ, làng ta ta về”, ngày dựng đêm phá để có việc làm và dâng công, mang mấy thằng “phải gió” ra chém khỏi cần tòa án xét xử để cho dân chúng thù chế độ càng ngày càng nhiều lợi cho phe ta. Đã vậy phối hợp “bài trừ tham nhũng” cạo đầu kẻ có chức quyền, cổ động học sinh chận đường ném đá vào xe Mỹ để Mỹ mau mau cút. Phải làm như vậy chế độ mau sụp đổ để sớm có ngày hôm nay. Tội ông xã trưởng mới vừa ra tù, có điều gì chắc phải vào rọ lại. Phong trào “di kinh tế mới” ông càng hoảng lên, thôi thì cách nào cũng chịu vậy.

Từ nhỏ bà đã cầm chiếc cân “tiểu ly” nơi tiệm thuốc Bắc của cha, lúc có gia đình riêng tư lại là chủ tiệm tạp hóa, kim hoàn nơi cổng chợ. Bà đủ khôn ngoan để đối phó mọi hoàn cảnh, khi cương, khi nhu với các tay anh chị xó chợ, bến xe. Nhìn khuôn mặt ủ rũ thảm não của ông chồng tập kết, lúc cần việc thì “nhất bộ nhất bái”, lúc hứng khởi thì long lanh chớp sáng như tủ kim hoàn vào sáng ngày hè.

Cuộc dàn xếp của hai ông chồng xem như đã xong. Ông xã trưởng đành “bỏ của cứu người”, ông sẽ về quê cày cuốc cùng 4 đứa con. Phần bà vẫn giữ im lặng ậm ừ chưa dứt khoát lắm.

Rồi ngày “trọng đại” đến; ông chồng tập kết, ông chồng Xã Trưởng, bà cùng 4 đứa con. Thoạt đầu chỉ bấy nhiêu, ông đưa tờ “thỏa ước” mà hai ông đã thương lượng, chờ mỗi bà ký nữa là xong. Sau đó là sự chứng kiến của cán bộ phường. Nhân chứng nặng cân nhất là một cán bộ lão thành tuổi gần vào khoảng “thất thập cổ lai”. Thuở thiếu thời ông là tay anh chị bến xe ngựa nơi thị trấn này. Thời trai trẻ ông đã đánh một tên lính “khố đỏ” rồi vỗ ngực “ta làm ta chịu”, nhưng khi toán lính “khố đỏ” về điều tra, ông chuồn mất. Toán lính hung hăng đập phá tan hoang phố xá thị trấn. Cuộc khởi nghĩa 45 ông được tôn vinh như vị “anh hùng”, vả lại ông tham gia phong trào”du kích Ba Tơ” năm 1930. Năm 1963 khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ, ông là người dẫn đầu toán đi đập phá đốt nhà các viên chức xã, đảng phái của chính quyền cũ. Ông là “vị anh hùng” của người chủ xướng chiến dịch “đất ta ta ở, làng ta ta về”.

Bà cầm tờ “thỏa ước” chầm chậm đọc, nhìn 4 đứa con rồi mạnh tay xé trước sự ngạc nhiên của mọi người, ông “chồng tập kết” mặt tái ngắt, nhưng rồi ông lấy lại bình tĩnh ôn tồn:

-Thôi, cũng được, bà về với các con kẻo tội nghiệp, tài sản nầy từ nay tôi quản lý, bà giao chìa khóa, giấy tờ.

Bà từ tốn trình bày:

-Tiệm nầy là nơi tôi thuê để làm ăn, hợp đồng thuê mướn đã hết, nếu ông muốn cai quản thì thương lượng với chủ. Hàng hóa hầu hết là đồ nhựa, không phải đồ sành, chỉ mấy bó mây, chổi cau, chổi sằm (kết bằng cây sằm) là thực. Tủ “kim hoàn” tất cả là đồ giả. Trước kia có đôi chút thật như nhẫn, vòng. Sau 75 chồng vào tù, con cái đói khát, còn chút ít thật tôi đã bán để thăm chồng tù tội, chạy bữa cho con. Trước 75, thật ra ai dám để của thật trong tủ trình bày, phần lính tráng mỗi lần hành quân về, phần thì đêm hôm bọn cộng sản nằm vùng quấy phá, biết còn tin vào ai. Hơn nữa, bởi cái tủ kính nó chiếu qua, chiếu lại lấp lánh một thành trăm, trăm thành ngàn. Đây, giấy thuê mướn và chìa khóa …

Ông hất tay bà vợ, mặt hầm hầm đỏ gay đưa chân đạp cái tủ “kim hoàn” tủ đổ ầm, mảnh kính văng tứ tung, Bầy nhân chứng rộ né tránh mảnh kính vỡ…Tiếng chân người lẫn tiếng oang oang: Đồ giả tạo. Đúng là bọn Mỹ Ngụy, chế độ “phồn vinh giả tạo”.

Một người đàn bà dắt ba đứa con (bà là vợ cùa ông chồng “tập kết” từ Bắc vào), là người Tày (nói tiếng Kinh không mấy rõ).

-Xong rồi! Chắc xong cả rồi. Chiến thắng rồi. Mẹ con mình vào, vào đi con “thu dọn chiến trường”.

 

TRẦN ANH LAN

           

%d bloggers like this: