Quê Ngoại Một Thời Vang Bóng

QUÊ NGOI, MT THI VANG BÓNG                                

“Hn quê theo ngn mây Tn xa xa..” (KIU. ND)

mai-tranh1Cho đến khi tôi ln lên, đã đi hc trường làng, đã biết rung đng, ông và bà ngoi tôi không còn na. Nhng điu gì tôi biết sơ sài v ngoi là do M tôi lúc ri rãnh ngi k li. Tôi ý thc được M tôi dù lúc by gi đã có bn năm mt con, đã có trách nhim vi mt gia đình, mt h tc ln vn còn nhiu quyến luyến vi quê mình. M tôi thường nhc đến ông ngoi vi tt c mt tm lòng trân trng sâu sc, cm mến nh đến nhng nghiêm khc ca ông, mt ông đ già có hàng trăm môn sinh. Trái li vi bà ngoi, M tôi thường nhc đến s ngt ngào nh nh trong c ch, trong li nói, trong dy bo. M thường d d, nhp nhp cái roi gác mày ca và cười cười nhc li c ch ca bà ngoi. M nói chưa bao gi b ngoi đánh mt roi cho dù là mt roi nh. Ti tôi cũng chưa bao gi b m đánh, có l m hc tính nết ca bà ngoi, ch la ln tiếng là các con đã biết s ri. Tôi ch khc ho hình nh ca ông ngoi tôi như bài thơ ông đ già ca Vũ đình Liên cũng áo the thâm, khăn xếp, cũng qun vn, cũng giy hng điu, nghiên mc tàu đen nhánh. Và bà ngoi tôi, mt bà già nhà quê chân chì ht bt, th chng nuôi con, qun lý giang san nhà chng cũng như m tôi bây gi vy. Trong xã hi phong kiến đang thnh thi, nhng căn bn giáo dc cn có ca mt cô dâu trung mt h tc ln có nhiu chi phái, m tôi nói bà rt vt vã khi v nhà chng. Ông ni tôi có đến ba bà v. M tôi làm dâu bà ba, bà nh nht nhưng li là bà chính vì hai bà kia đã qua đi. Bà ni ca tôi không kht khe lm nhưng là người đàn bà nguyên tc. Và cũng chính cái nguyên tc cn có bà chn làm sui gia vi ngoi tôi. Hai gia đình sui gia ch cách nhau vài ba cây s, nhưng th nhưỡng quê ngoi ca tôi có khác. Đt vườn quê ngoi là đt bi cát pha còn mưa còn nước hết mưa hết nước sch khô. Đt thích hp trng mít cho nhng qu tht sai, tht ngt. Vườn ngoi tôi trng nhiu mít, bui và i là nhng thc trái cây gi mi s tc mch và trèo leo ca tr con.  Anh em chúng tôi theo m v ngoi đôi ln ly làm thích thú vì bên ngoi hay nuông chiu k c my người anh ch em cô cu ca chúng tôi. Cu Hai tôi mến các anh em tôi và chúng tôi vòi cái gì cũng được k c vic đi tm ngoài mt con sông mà cu dn đi. Nhà ngoi tôi ln trong xóm. T con đường tư ích r vào phi qua nhiu khúc quanh, anh em chúng tôi v quê ngoi ăn gi thường sn sác đi lc vào my ngõ kit rt ging nhau. Vn nhng hàng rào chè tàu thng tp cao ngang đu ca chúng tôi. Đu sân là mt khung ngõ bng cây bt cun, ct xén cn thn, có hoa bt hoc hoa giy đ bn mùa. Sau hai hàng rào chè tàu là hai hàng cau cũng thng và cao. Vào trong sân trong là mt vuông h cn xây bng gch không ln quá bn mét vuông th sen và bèo dâu. Trên thành h là vài chu bùm sm bc hình hc, vài chu long x có hoa đ nh bng mút đa. Nhà ngoi tôi, nay thì cu Hai tôi qun th ch khác my nhà trong xóm là nhng câu đi ch nho viết trên giy hng điu dán theo ct hàng hiên. Ông ngoi tôi chết có l đã quá lâu nhưng nét ch ca ông viết mc còn đm du bìa giy có ch đã sn. Ông tôi chết, cu Hai tôi cũng ni nghip cha: chi, h, gi, dã nhưng khn ni đã đến lúc bút st thay cho bút lông, cu Hai tôi không có duyên sư đ, lũ nh sau này đi hc ch a,b. Tuy vy, lp người cũ vn còn trng vng ch thánh hin, coi ngày coi tháng, coi bói coi khoa, câu lin câu đi hiếu s đến vic tho t sính l, viết t khế bán đt thy đu còn dùng ch nho. Cu tôi vn còn có ch đc dng. Bao lâu còn nhng nhu cu như thế, cu Hai tôi sng nhàn h mt đi. Nhng hiu biết ca cu Hai tôi là s đc t ông ngoi tôi. Tôi không nghe nói cu Hai tôi đi thi, t đó tôi suy lun ra cu cũng là loi bt phùng thi, hc hành làng nhàng may mà không “ cha làm thày con bán sách ” Cho nên, cái truyn thng ca dân tc Vit-nam nó bt ngun t cái đơn sơ cha truyn con ni như thế. Ông ngoi tôi đã chết, cu Hai tôi được truyn tha cho nhng s kiến không biết đến đâu nhưng uy tín ca ông ngoi tôi  giúp cho cu Hai tôi tiếp tc làm thy. Thy dy ch nho tt nhiên là không th na ri, nhưng cu  là thy lý bc, thy tướng s nh vào my quyn sách đã ph bi ca ông ngoi tôi đ li. Đám tang nào cũng mi cu Hai tôi đi xem huyt m, viết bài v, đnh ngày xây m. Đám làm nhà mi nào cũng mi cu Hai tôi đi xem hướng phân kim, coi ngày b đòn dông, tt nhiên là cu Hai tôi kiêm luôn vic cúng khai trch.Và cũng tt nhiên đi cúng v cu có con gà luc gia ch làm quà trong tay ni. Cu Hai tôi ch cười xoà nhe hàm răng nhum đen, giơ tay cng vào đu tôi khi tôi đùa vi cu quá trn “ Hòn đt mà biết nói năng… ri sao na hã cu? Tôi không nói tiếng xin li cu Hai tôi ngay vì tr con chúng tôi lúc by gi chưa có thói quen mau ming như vy nhưng đã l li nên hi hn lm. M tôi và sau này đến v tôi phc cu Hai tôi hết mc bi cu ch bm trên bàn tay, nhóp nhép trên ming mà vic gì cu Hai tôi nói cũng đu trúng phóc. My người mt ca đến nh cu , cu Hai tôi đu hi k có nh là mt lúc nào không? Ri cũng ch trên mt bàn tay sè ra, cu đưa ngón tay cái tính ti tính lui tng đt tay ri phán chc là ca y không mt, ngày đó gi đó s có tin. Thế mà y như là, cu tôi có ma mách nói đâu trúng đó. M tôi hc theo cách nói ca cu tôi, bà nói : m ba nhà by, có nghĩa là tng táng m phn thì trong ba năm mi biết chc m yên m đp, con cháu bình yên còn làm nhà mi phi đến by năm mi chc yên đnh nghip. y, theo cu tôi nó là thut v “dương cơ âm táng” cũng như các vic kia là mt môn toán hc mu nhim, phước ch may thy, ch có âm đc, thy có t phù. Cu tôi nói tiếp, con người ta ăn phi có nhân đc  Có nhân đc, tri mi cho có phước nghip giàu sang. Lúc y còn nh chưa hiu được  ý nghĩa cao sâu ca đo làm người, nhưng nhng điu gì cu Hai tôi nói như rót vào tai, tôi chăm chú ngi nghe và dn nghim thy li cu đu đúng. Tôi không hiu vì  sao cu có quan tâm nhiu đến tôi. Cu tôi thường nói vi tôi s mày là s ly hương. Có ly hương mi nên cơ nên nghip. Năm y tôi đã mười chín hai mươi, vn cao ngo là mình theo tây hc coi thường nhng s suy nghĩ không có cơ s khoa hc. Du vy cũng đã manh nha có nhng ý tung mi xây dng đi mình. Cu li còn nói sau khi tính trên đt my ngón tay, s con phi có hai v thì v chng mi ăn đi kiếp vi nhau bn lâu. Có điu v ca con đa nào cũng m côi không cha thì m. Tôi nhm trong đu không nói ra nhưng c hai điu cu Hai tôi nói đu nghch vi ý tôi, tôi cho là trt hết. Th nht, cha m tôi có con đông, theo l tôi tách quê hương bn qun xa cũng được, bám làm chi cho cht đt cht c nhưng lòng tôi không mun xa cha m anh em đi xa. Còn vic v con, không ai mun “mt vò hai gáo” và c hai bên cha m đu song toàn thì mi là thun cnh. Tôi không ng điu này cu tôi nói chc nch. T người bà con làm mi cho đến người bn bè làm mai, người gn ri đến người xa đng đến đâu tôi cũng đu gp con m côi c. Tôi git mình e chng s mình phi  vy. Tôi có v ri làm nhà ring, c như là chuyn phim tun t din ra th lp như li cu tôi khuyến cáo. Tôi khoán công cho người ta, đến ngày đó thì lp. Cu Hai tôi biết được bm đt tay, vi vàng gic cha tôi đi b nhng trên mười cây s đnh ngăn tôi hoãn li ngày lp vì nhm ngày phát ho. Hai người đến nơi thì nhà lp đã gn xong, cu tôi đành làm thinh. Tôi ngôi nhà thoáng mát y đã được năm năm, nhà mt bên b bà ho viếng nhưng nhà tôi thì bình yên. Tôi chc là cu tôi phi có sai mt ln. Năm sau, tình hình bt an tôi chuyn cư v li quê cha, bán li ngôi nhà cho người hang xóm giá nh. Tôi không ng ln này cu tôi cũng li trúng phóc. Chng là Vit cng thm tht ln chiếm, quân đi đng minh Hoa kỳ m cuc hành quân to thanh, trên đường rút quân qua trước khu nhà cũ ca tôi b Vit Cng bn s ch năm  phút sau thì c mt dãy nhà tranh trong đó ngôi nhà cũ ca tôi b phi pháo cháy tit. Cm thương cho người ch mi, tin còn thiếu tôi không đòi. Nh li cu Hai tôi, tôi cm thy mình có d phn trong s phn mt mát này.          Cũng trong năm đó, tôi đang là mt công chc nh ăn lương ngch phù đng (flottant). Toàn quc có cuc thi vào ngch công nht (journalier), tôi chun b bài v quyết chí giành cho được kết qu. V tôi đang lâm bnh nhưng khuyến khích tôi yên tâm ra đi. Tôi có t tin vào kh năng ca mình và như người ta nói hc tài thi phn, tôi có phn thi đâu đu đó vì cu tôi nói cung mnh lá s t vi ca tôi có hóa khoa, hoá quyn chu. Trước khi đi đ cho có thêm nhu khí, tôi đp xe v thăm cu tôi và xin mt bói Khng Minh. Cách bói nào cũng có tính cách huyn nhưng bói Khng Minh có v toán hc văn minh. Cu Hai tôi b d công vic, đng dy đi ra mt, ra tay ri mc áo dài t tế.Cu thp hương vái vào khong không, ngi xung ngay ngn. Cu dy tôi vái thánh ri viết cho cu ba ch nho, ch nào cũng được. Quyn sách Bói Khng Minh ca cu cha toàn ch Hán mà tôi  ch đc được lõm bõm mt vài, c mt nhóm ch li đến mt khuyên tròn. Cu tôi va viết li va đếm số nét của từng chữ một của tôi viết để có một hàng ba chữ số. Đó là con số căn bản vận hạn và là chữ đầu của một bài thơ. Từ đó, cọng với một con số khác, một con số huyền nhiệm tựa như số bi  và bài tính cộng sẽ cho một chữ thứ hai lần theo số trang. Cứ thế liên tục bài cọng thứ hai cọng với số bi cho kết quả chữ thứ ba cho đến khi nào kết quả của bài toán cọng cuối cùng rơi vào cái khuyên tròn là hết chữ, hết bài. Những cái huyễn hoặc trong lý số Á-đông tôi cho là huyền nhiệm, đại loại như phép bói thơ Khỗng Minh như trên. Khỗng Minh thì nhiều người nghe danh tài. Ông là quân sư cho Luu Bị, rành nhâm độn, giỏi binh cơ, biết hô phong hoán vũ, mưu mẹo minh tu Sạn đạo ám độ Trần thương, thất cầm Mạnh Hoạch. Thì sá gì cái chuyện cỏn con của tôi ông ta không tính được. Tôi thành tâm khấn nguyện ước của tôi là xin thánh mách cho biết đi thi có kết quả ra sao. Bài thơ mà thánh cho tôi cậu Hai tôi đọc đi đọc lại nhiều lần:  “ Vân hoành sơn tế thủy mang mang    Thiên lý trường đồ vọng cố hương    Kiễn ách sự lai quân mạc hận    Ỷ môn tù trướng lập tà dương “ Cậu Hai tôi trầm ngâm một hồi rồi mới nói : Con nghe bài thơ chắc đã hiểu ý thánh rồi chớ. Con đi thi kỳ này chắc chắn là đậu thôi. Cậu tôi dừng lại. Nhưng mà đậu rồi cũng như không. Kiễn ách sự lai quân mạc hận. Câu đó hàm ý con sẽ có việc rắc rối, nhưng mà thánh đã khuyên là con không nên buồn. Trên đường về, tôi nhẫm đọc lại bài thơ, cái khí thơ buồn buồn não não! Đi thi mà vợ bị bệnh không vọng cố hương sao đuợc, chiều tà vợ không tựa cửa  chờ trông sao được. Tôi đã định bỏ cuộc nhưng cái tánh ngang bướng cố hữu lại giục tôi đi. Tôi đọc lại câu đầu:“ Vân hoành sơn tế thủy mang mang…” dịch nôm na là mây giăng đỉnh núi mưa mịt mịt.  Không là cái cảnh “bình minh nắng giọi…“ nhưng gợi lên sự trù phú sinh động.  Câu đầu như vậy đã vẽ lên hy vọng rộn ràng. Hoá ra tôi đậu thật còn đậu khá cao. Trong 3.000 thí sinh cả nước chỉ lấy đậu có 100, anh tôi cùng thi một khoa đậu thứ 21 còn tôi thứ 36, thế nhưng chỉ không đầy một năm thì quả tôi có gặp rối rắm vì bị vu khống. Còn kết quả cuộc thi tuyển về sau cũng không đi đến đâu cả.Từ người thủ khoa cho đến người thứ 99 chờ mãi vẫn không thấy đỗi ngạch, duy có người chót bẹt thứ 100 được bổ dụng ngay.  Đang làm hành chánh, có lệnh động viên sĩ quan trừ bị, tôi vào quân đội. Ra trường, đuợc ưu tiên chọn đơn vị. Tôi chẳng nhớ và cũng chẳng màng chuyện “xuất xứ ly hương” để có con đường thênh thang tấn phát. Tôi lại chọn về phục vụ ngay trên chính quê hương của mình, chữ quê hương theo nghĩa chật hẹp. Trước khi bị điều động đi ngoài tỉnh, tôi cũng có dịp dẫn đơn vị nhỏ của mình băng qua quê ngoại. Nhận lệnh, hành quân, băng gò, lội qua con sông nhỏ còn nhớ chân tôi có lần dẵm lên cát trắng, rồi tràn vào xóm, rồi băng đồng đến tận chân núi. Một vài cuộc hành quân không chạm súng nhưng vùng đất có khoanh vòng chì mỡ trên bản đồ hành quân vẫn thường gặp tên quê ngoại của tôi. Mãi mấy năm sau khi tiếng súng đã thưa tôi mới có dịp về gần nhà. Mẹ tôi lúc này đã già lắm. Hình như càng già mẹ tôi càng nhắc nhiều về quê ngoại, có lẽ mẹ không quên một thời ấu thơ đầy ắp kỷ niệm với bạn bè, với mấy người chị em bạn dì đến lúc đó đã già hết cả rồi. Có lẽ mẹ cũng liên tưởng đến ngày chia tay. Tôi về thăm mẹ và định bụng về thăm cậu Hai tôi như là hồi tưởng và hoài niệm quê ngoại tôi. Mẹ tôi nói trong nước mắt, cậu mất đã hai năm rồi. Trong thời buổi chiến tranh, cái chết như cận kề. Tôi đã từng vuốt mắt cho  chiến hữu, có mặt phút hấp hối của những người thân nhưng nghe tin cậu Hai tôi mất, tôi thấy hụt hẫng và cảm thấy thiếu sót với cậu. Tôi trở lại con đường xưa. Con đường không phẵng phiu như ngày còn bé Những ngã rẽ đi vào xóm, những mái nhà tranh sao thấy xác xơ. Thôn xóm này, một thuở yên bình trù phú nay trông eo xèo như người mới ngủ dậy, ngỡ ngàng trước những đỗi thay từ đâu ập tới. Các anh chị em con cô con cậu của tôi người nào cũng già trông thấy. Tuổi xuân của họ bay đi, sớm va chạm những biến cố cuộc đời cay nghiệt. Bàn thờ tiên liệt họ ngoại của tội, tàn hương bám đầy trên cái kệ gỗ tam sơn. Chiếc ảnh bán thân của cậu Hai tôi đã ố vàng phân nửa. Thời gian chết tiệt chưa bao lâu nhưng đã có quá nhiều đỗi thay xoáy sâu vào cội rễ gia đình. Nhìn bức ảnh cuối đời của cậu, tôi hình dung lúc sau này cậu sống trong sự thiếu thốn, không làm ăn gì được vì phải chạy giặc. Người chết may có chỗ vùi được mảnh xác thân đã là quí, có thì giờ đâu mà xem huyệt, xem giờ. Những ông thầy như cậu Hai tôi hết thời. Nhưng tôi luôn nhớ cậu thường nói tiếng an bần lạc đạo. Nhắc đến chuyện ân nghĩa, đạo lý ở đời cậu thường ngâm: “ Thanh bần hữu ý đa nhơn hội “ Trọc phú vô tình thiểu khách lai.”  Cậu tôi quan niệm, ở đời phải có bạn bè. Mà bạn bè cốt ở cái chân tình. Dầu nghèo thanh bạch, có tình có nghĩa ắt có nhiều người kết thân. Trái lại anh giàu mà giàu bất lương còn khô khan keo bẩn khó có người lui tới. Chiến tranh đã lan tràn đến cả những nơi yên tỉnh nhất. Cái triết lý sống đơn giản như vậy, cậu Hai tôi cũng không thực hiện được suốt đời. Ngày nay, tôi còn “ ly hương “ xa tới tận chân trời. Nghĩ về quê hương, về quê ngoại một buổi thiếu thời, những cuộc đỗi đời chỉ ghi đậm những cảm tình chua chát, thật khó tìm lại được nét đẹp chơn chất quê nghèo.

%d bloggers like this: