Lê Trung Lượng

bia_mo_le_trung_luongDanh sĩ dưới triều vua Tự Đức, chưa rõ năm sinh, quê làng Phú Nhơn, nay thuộc thị trấn Sơn Tịnh, huyện Sơn Tịnh. Dòng họ Lê vốn gốc Thanh Hóa vào đây định cư đã nhiều đời. Nơi đây gần sông Trà Khúc, gần “Long Đầu hý thủy ” và “Thiên Ấn niêm hà” là những cảnh đẹp nổi bật và tượng trưng cho khí thiêng sông núi Quảng Ngãi. Lê Trung Lượng thi đỗ cử nhân khoa Nhâm tý 1852 (Tự Đức năm thứ 5) tại trường thi Bình Định. Sau đó, có lẽ trong khi chờ bổ nhiệm, Lê Trung Lượng ở nhà dạy học và trong số học trò của cụ có các cụ Nguyễn Duy Cung (Cử nhân 1868), chí sĩ trong phong trào Cần vương Bình Định, cụ tú Phan Thanh (tức Phan Thúc Nghiễm), người xã Tịnh An ngày nay, về sau cũng là một ông Đồ được nhiều người tôn kính. Một thời gian sau. Lê Trung Lượng được bổ nhiệm làm Tri huyện Nam Đàn (Nghệ An) và cụ đã sớm bộc lộ đức độ cao cả và tài kinh bang tế thế của mình. Cụ đã có công khẩn hoang, lập được 12 xã và được dân 12 xã ấy tôn làm Phước hiền. Có lẽ cũng từ đây, cụ Lê nổi lên như một tấm gương liêm khiết, trung hậu, đến mức vua Tự Đức phải ban khen “Thanh như Lượng” và chữ lót của dòng họ (chữ Trung) là do “Hoàng đế ân tứ” thay cho chữ Đức trước kia. Lê Trung Lượng được thăng án sát Bình Thuận. Cụ bất hòa với hai viên quan đầu tỉnh khác là quyền Tuần vũ Trần Điển và Bố chánh Nguyễn Văn Phương, dẫn đến việc năm 1874 (Tự Đức thứ 27), cụ bị hai ông này mật tấu vu cáo. Vua Tự Đức cho giải chức Lê Trung Lượng, giao cho bộ Lại xem xét. Bị oan, Lê Trung Lượng tố cáo lại hai ông Điển, Phương hành xử trái lệ nhà quan, cho mình vô tội và đề nghị vua phái người đi điều tra trớc khi luận tội. Vua Tự Đức lại sai Biên lý bộ Lại Đoàn Văn Hội và Giám sát Ngự sử Phạm Đăng Giảng tra xét. Vua lại quở trách những kẻ làm án cẩu thả, bèn giao cho Nội các và CƠ mật viện xem xét. Lần này những kẻ thi hành công vụ lại tỏ ra thiếu công minh khiến Lê Trung Lượng phải lăng nhục, hậu quả là cụ Lê bị tội “trảm giam hậu, các ông Điển, Phương bị 100 trượng và lưu 3.000 dặm, những người liên quan đều bị cách, giáng chức. Cùng với các môn sinh cụ Lê, những người dân ở Nam Đàn đã lặn lội đến kinh đô Huế đội sớ xin tha tội cho cụ, cụ mới được vua khoan hồng. Lê Trung Lượng bất ngờ được điều ra làm Bang biện Sơn phòng Thanh Hóa. Song chỉ đến năm 1880, cụ cùng 85 người ở Sơn Phòng “chết vì khí núi độc”, một cái chết khá mờ ám, song với điều kiện hồi bấy giờ đành phải mãi mãi chôn vùi những bí ẩn trong lòng đất. Ba tháng sau khi Lê Trung Lượng mất, gia đình cụ tìm đến tận nơi để bốc hài cốt đi bằng đường biển về quê mai táng ở núi Long Đầu, sau gia đình cảm thấy không yên ổn, lại bốc mộ cải táng về một đồng lúa phía đông.

Lê Trung Lượng có 10 người con, 4 trai, 6 gái. Người con thứ 6 là Lê Trung Đình,  nổi tiếng thông minh xuất chúng, khoa Giáp thân 1884 đỗ cử nhân, tức 4 năm sau khi Lê Trung Lượng từ trần.

Trở thành thủ lĩnh đầu tiên của phong trào Cần vương Quảng Ngãi. Con trai út của cụ Lê Trung Lượng là Lê Trung Kinh đỗ Cử nhân khoa Quí mão 1903, sống an phận ở quê cho đến chết.

Nổi rõ trong cuộc đời và sự nghiệp của cụ Lê Trung Lượng là đức thanh liêm, lòng yêu nước thương dân, là tinh thần khẳng khái, lòng tận tụy, bất chấp cường quyền của ông. Những phẩm chất như vậy đã phát huy cao độ ở Lê Trung Đình như một huyết thống quý báu của gia đình, đồng thời cũng là một biểu hiện rõ nét tính cách kiên trung, bất khuất của người dân miền Ấn – Trà mà càng về sau càng thấy rõ.

 

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: