Bờ Xe Nước

Từ 1992 trở lại đây hệ thống thủy lợi Thạch Nham lần lượt tưới mát các cánh đồng và làng mạc từ Bình Sơn phía bắc đến Đức Phổ phía nam Quảng Ngãi. Thỉnh thoảng một vài bài báo lại nói đến bờ xe nước như là bảo lưu hình ảnh về một giải pháp thủy lợi độc đáo, trong khoảng hai trăm năm (từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa cuối thế kỷ XX), từng đem lại sự no đủ cho dân cư. Nét văn hóa đặc trưng vùng sông Trà Khúc, sông Vệ và đã được triều đình biểu dương (1).bo-xe-nuoc-3

Góp phần vào việc tìm hiểu bờ xe nước, tôi xin trích từ hai tập sách cũ: “Địa dư xứ Đông Dương (2) và Quảng Nghĩa tỉnh chí” (8) và một vài tài liệu khác về sự ra đời, quy mô tổ chức và lợi ích bờ xe nước đem lại cho người dân.

Theo Địa dư xứ Đông Dương: “Xe nước (hình như) du nhập từ Trung Quốc, theo đường bộ vào miền Bắc (4) theo đường biển vào miền Trung. Xe nước xuất hiện ở Quảng Ngãi khoảng giữa thế kỷ XVIII; đến Quảng Nam và Bình Định đầu thế kỷ XX. Một số tỉnh khác không có xe nước”.

Ở Quảng Ngãi xe nước là giải pháp thủy lợi đặc biệt quan trọng. Trên sông Trà Khúc và sông Vệ từng có không dưới 114 bờ xe nước”.

Mô tả cấu tạo và cơ chế vận hành mỗi bờ xe nước (mà người Quảng Ngãi nào cũng biết) tác giả lưu ý: “Mỗi bờ xe nước là sở hữu của một nhóm “bảo cử”. Bảo cử bỏ vốn mua sắm vật liệu, dựng và bảo trì bờ xe và được trả công từ 1/3 – 2/3 sản lượng lúa thu hoạch trên mỗi diện tích sử dụng nước xe”.

Theo “Qung Nghĩa tnh chí”: “Tục truyền người phát minh ra bờ xe nước là lão Thêm, người làng Bồ Đề, phủ Mộ Đức, vào đời Tây Sơn, niên hiệu Thái Đức.

Theo các nhà khảo cổ thì tên Thêm ấy vào năm 1790, Thái Đức thứ 12, đã có một bờ xe nước trên sông Vệ. Người ta tìm thấy một lá đơn xin miễn công ích cho thợ chuyên trách giữ bờ xe. Trong đơn có phê 3 chữ “Thính chấp bằng” (6). Theo quan thống sứ La Borde thì 3 chữ son ấy là chữ phê của vua Tây Sơn”.

Tôi có đọc một tài liêu riêng nhà họ Nguyễn làng Lạc Phố (7). Theo đó thì năm 1790 vua Thái Đức tuần thú Quảng  Nam trở về Quy Nhơn có ghé nghỉ tại trạm Nghĩa Mỹ (làng Đông Mỹ thuộc xã Nghĩa Phương, huyện Tư Nghĩa, bờ bắc sông Vệ). Dịp đó nội tổ của Nguyễn Bá Nghi – đã có người con cả theo Tây Sơn, đưa người con trai thứ là Nguyễn Hữu Thể mới 16, 17 tuổi tiến nạp cho vua Thái Đức Nhà vua thu nhận (8). Từ phong cáchbình dân” của vua Thái Đức có thể nghĩ rằng: Lão Thêm ở làng Bồ Đề (bờ nam sông Vệ) hay tin cũng mang đơn đến xin vua miễn sưu dịch cho thợ xe nước của ông. Như vậy vua phê vào đơn lão Thêm 3 chữ “thính chấp bằng” là ở hành tại Nghĩa Mỹ, làng Đông Mỹ.

Tài liệu nói trên kể lại: Khoảng vài năm đầu đời Gia Long (Gia Long: 18021820), ông Nguyễn Hữu Thể lúc này là Tri thủ làng Lạc Phố có làm giúp một bài văn tế người thợ xe nước làng Long Phụng qua đời. Văn tế bằng chữ nôm như sau: “Nhớ linh xưa: vai vác bồ cào tay cầm đòn xóc. Nhằm năm, nhằm bảy, lên rừng già đốn lạt bắt dây. Tháng giêng tháng hai xuống đồng nội chẻ tre buột đốc Gốc lên ngọn xuống, đóng một hàng ngay tựa chỉ giăng. Lá héo cht khô gánh hai bó lẫn bằng bồ cốc…”

Bài văn nhắc lại công việc hàng ngày khẩn trương, nhọc nhằn của người thợ xe nước. Cng chứng minh rằng đến đầu đời Gia Long, làng Long Phụng ở cuối dòng sông Vệ đã có bờ xe; tức là khoảng mươi năm sau 1790, hệ thống bờ xe nước hai bờ sông Vệ đã căn bản hoàn thành. Chắc rằng trước hay sau đó không lâu cũng đã định hình hệ thống bờ xe nước hai bên bờ sông Trà Khúc.

 bo-xe-nuoc-tren-song-tra

Bờ xe nước trên Sông Trà – Ảnh Ngọc Trinh, 1964

QUY MÔ TỔ CHứC V LỢI  ÍCH BỜ XE NƯỚC ĐEM LẠI:

Năm 1928, “Địa dư xứ Đông Dương” nêu ra con số“không dưới 114 bờ xe nước trên sông Trà Khúc và sông Vệ” .

Năm 1938, “Quảng Nghĩa tỉnh chí” mà tác giả là Nguyễn Bá Trác, đương thời là tuần vũ tỉnh Quảng Ngãi thống “Trên sông Trà Khúc và sông Vệ có 96 bờ xe nước: Trong đó huyện Sơn Tịnh 25 bờ; huyện Tư Nghĩa 24 bờ; huyện Nghĩa Hành 18 bờ; huyện Mộ Đức 24 bờ xe nước”.

– Xe nước sông Trà Khúc có từ 8 – 10 bánh. Điển hình như:

+ Bờ xe Đồng Nhơn 10 bánh, tưới 105 mẫu.

+ Bờ xe Thu Phổ 9 bánh, tưới 150 mẫu.

+ Bờ xe Hưng Nhượng 8 bánh, tưới 70 mẫu.

 + Xe nước trên sông Vệ có từ 3 – 5 bánh.

+ Bờ xe Nghĩa Lập 5 bánh, tưới 24 mẫu.

+ Bờ xe Long Phụng 4 bánh, tưới 30 mẫu.

+ Bờ xe Bồ Đề 3 bánh, tưới 13 mẫu.

Không có con số tổng diện tích được tưới nước từ bờ xe. Nhưng từ những dẫn chứng điển hình có thể phỏng đoán diện tích ruộng cấy mùa tháng 8 hai bên sông Trà Khúc được tưới nước xe khoảng 5.300 mẫu và hai bên sông Vệ khoảng 950 mẫu.

Trong nông nghiệp, nước đứng hàng đầu trong 4 yếu tố quyết định kết quả mùa màng (nước, phân, cần, giống) Nước đến đâu đồng ruộng xóm làng tốt tươi đến đó. Không có nước bờ xe thì không có mùa chính vụ tháng 8.

Đầu mùa hè đến giữa mùa thu bờ xe nước vận hành. Nước sông dâng lên 40 – 50 cm, chảy vào các kênh mương hai bờ sông, rồi tự chảy hoặc bằng gầu sòng, gầu giai, xe lùa (9) đến hàng nghìn mẫu ruộng mùa h khát nước. Điển hình là sông Thoa, một con sông vào thời cổ, được cải tạo cùng lúc với việc hình thành hệ thống bờ xe nước sông Vệ. Sông Thoa nhận nước từ bến Thóc (làng Phú An) hữu ngạn sông Vệ Thông qua hệ thống 7 đập điều hòa và các mương nhánh, đảm bảo nước tưới ruộng, mùa tháng 8 mười mấy làng thuộc huyện Mộ Đức, trước khi đổ ra cửa Mỹ (Đức Phổ). Mạng lưới thủy lợi bằng mương đập 4 huyện lưu vực sông Trà Khúc sông Vệ do đó có thể tăng thêm ít nhất 3 ngàn mẫu được tưới vụ tháng 8.

Theo “Quảng Nghĩa tỉnh chí”: “Tỉnh Quảng Ngãi năm 1933: 443.000 dân chỉ có 97.566 mẫu ruộng đất. Hàng năm sản xuất 44.000 tấn thóc (44.000T/443.000) = bình quân mức ăn một nhân khẩu 100 kg thóc, tức là ăn

được 115 ngày, còn thiếu phải ăn hoa màu”. Người dân Quảng Ngãi vì vậy có câu tối ăn khoai đi ngủ, sáng ăn củ đi làm .

Trong hoàn cảnh chung nghèo khó ấy, rẻo đất hẹp dọc hai bờ sông Trà Khúc và sông Vệ bao gồm mấy làng ở hạ lưu sông Trà Khúc thuộc hai huyện Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, mà Lê Quý Đôn từng gọi là “tiểu Đồng Nai” (10) nổi lên như là những làng xã trù phú bậc nhất. Ở đây ruộng la luôn đạt năng suất cao nhất tỉnh. Ngoài lúa còn có mía đường và cau (mía quảng canh, đứng ở đất khô cao, không cần nước xe; cau đứng ở vườn, ănnước xe) là sản phẩm hàng hóa có giá trị. Mỗi năm Quảng Ngãi có thể xuất cảng trên 10.000 tấn đường. Năm 1929 xuất cảng 77 tấn cau khô (lo). Chủ yếu là từ các làng ven sông. Sản phẩm nông nghiệp “thừa” (tương đối) mở đường cho thủ công nghiệp và thương nghiệp đi lên. Trong những khu vực này, từ tháng 10, tháng 11 năm trước đến tháng 7, tháng 8 năm sau, hầu như làng nào, nếu không có vài ba trại “chà đường” thì cũng có vài trại “chẻ cau”  và lò sấy cau. Chưa có đường xe lửa thì đường và cau xuất qua cửa Cổ Lũy. Từ 1984 có đường xe lửa thì ga ông Bố trên bờ sông Trà Khúc và ga Hòa Vinh trên bờ sông Vệ có lúc gần như hai ga chuyên dùng” cho đường và cau Quảng Ngãi.

Nói cho cùng, sự no đủ một thời ấy, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, một phần nhờ ở bờ xe nước (phần khác nhờ ở mía đường).

Nói về xe nước không thể không nói đến bộ máy vận hành, nó là các “bảo cử’. “Bảo cử dùng phương tiện xe nước cung ứng nước tưới cho các chủ điền bằng phương thức “khoán trọn gói” cả vụ. Một “bảo cử gắn với những chủ điền nhất định trên một đồng ruộng “ăn” nước xe. Bảo cử tổ chức theo “phường hội”, gồm một ông “bầu” – ngôn ngữ hành chính gọi là “trương cử “, dân gian gọi là “trùm xe” – và một số thợ xe từ 4 – 5 người đến 7 – 8 người, tùy theo sự quan trọng và khả năng sinh lợi mỗi bờ xe. Thợ xe thường là con cháu họ hàng của ông “trm”. Họ gắn bó nhau bằng tình cảm gia tộc, đồng thời bằng lợi ích vật chất thông qua phương thức “khoán sản phẩm” sau vụ thu hoạch. Đến vụ thu hoạch sản lượng trên mỗi diện tích “ăn” nước xe chia thành 3 phần: Chủ xe nước 1/3, điền chủ (thường là địa chủ) 1/3, tá điền 1/8. Trong nội bộ bảo cử: tổng số thu nhập cả vụ trừ chi phí nguyên vật liệu… còn chia đều: một suất “đầu xâu”, một suất “bút chỉ dầu đèn” thuộc về ông “trùm xe. Còn lại chủ và thợ xe mỗi người một suất.

Lúa “ăn” nước xe mùa tháng 8 thường cấy cùng một lúc, chín cùng một lúc, lại có thể đụng phải mùa mưa lụt bắt đầu từ tiết Thu phân nửa sau tháng 8. Vì vậy không biết từ bao giờ có tập quán gặt “khoán”, địa phương gọi là “gặt hồi”. Có những nhóm “hồi” ổn định 5, 6 người đến 7, 8 người vừa đàn ông vừa đàn bà.  Trưởng nhóm gọi là “bầu” – chị “bầu hay chú “bầu” – cùng điền chủ ngã giá công “hồi”. Thường từ 15 “ăn” 1 (15/1), 14/1 hoặc 13/1 nghĩa là lúa gặt xong đem về nhà chủ cứ 15 bó thì “hồi” “ăn” 1 bó… tùy theo ruộng gần hay ruộng xa, ruộng khô hay ruộng ngập nước, lúa đứng hay lúa ngã… Nhờ có khoán “hồi” mà thu hoạch nhanh gọn, ít hao hụt. Chủ điền an tâm, đỡ mất công coi gặt, khỏi lo bữa ăn trưa cho thợ gặt. Người thợ gặt vui vẻ cố gắng làm nhanh gọn vì được suất ăn chia cao có khi gấp đôi bình thường. Cái được lớn nhất là được bình đẳng, tự do, khỏi bị nhà chủ thúc ép, hạch sách.

Từ trong xã hội nông nghiệp truyền thống xuất hiện kỹ thuật xe nước; đồng thời xuất hiện các “phờng hội” và các hình thức “khoán sản phẩm” thật hiệu quả và tiên tiến. Chúng đã cùng tồn tại và trải qua thử thách hàng trăm năm từ triều Tây Sơn, triều Nguyễn đến chính quyền Việt Nam n chủ cộng hòa (Liên Khu V 1945 – 1954) trên hai lưu vực sông Trà Khúc và sông Vệ. Đó là công lao của những thế hệ con người nông dân cần mẫn và thông minh, đã đun xe nước đến đồng ruộng, lại sáng tạo những hình thức “khoán sản phẩm thích hợp, vừa tăng năng suất lao động, vừa bảo đảm cho người lao động làm thuê mức tối thiểu về quyền bình đẳng và tự do.

Lê Văn Quát

(Tạp chí Cẩm Thành, số 11-2000)

 

(1) “Đại Nam nhất thống chí – KHXH. H.1970. Tập IV, trang 71: năm Minh Mệnh đúc Cửu đỉnh khắc hình tượng sông Vệ vào Dụ Đỉnh – Năm Tự Đức thứ 3 liệt sông Trà Khúc vào hàng sông lớn, ghi vào điển thờ”.

(2) “Đa dư xứ Đông Dương Sách giáo khoa, tiếng Php, do Bouault và E.De Mazaro. IDEO 1928 – Bài đọc tham khảo của Guillement. Trang 54.

(3) Quảng Nghĩa tỉnh chí” của Nguyễn Bá Trác. Tạp chí Nam Phong – số 22 Hàng Gai. H. 1933. Số tháng 6 và số tháng 7/1933. Trang 48 – 49.

(4) Mạc Đường, NCLS số 54 – tháng 6/1973: Vùng sông âm thuộc huyện Lang Chánh (Thanh Hóa) các dàn tộc dùng nhiều xe cọn(noria) để lấy nước. Họ tổ chức thành hệ thống “cn” gồm 9, 10 ci “cọn liên tiếp nhau để lấy nước”

(5) Chữ trong bài: Mẫu = mẫu ta = 5.000 m2

– Tháng = thăng âm lch

(6) “Thính chấp bằng” : nghĩa như: y cho”, “chuẩn y”.

(7) “Truyện phả về Văn phong Tiên sinh” do Tổng đốc Nguyễn Bá Nghi viết năm Tự Đức thứ 17 (1864) tại quân thứ Tuyến Quang. Cháu rể là nhà văn Nam – Trần Tuấn Khi dịch năm 1969 tại Sài Gòn.

(8) Nguyễn Hữu Thể sau trở thành võ quan, chức Đô Ty dưới quyền tướng Trần Quang Diệu. Trong cuộc hành quân từ Quy Nhơn đến Quỳ Hợp (Nghệ An) năm 1802 Trần Ouang Dệu bị bắt cùng toán quân đi cùng. Nguyễn Hữu Thể cũng trong số đó; nhưng có “lệnh ân xá” nên về nhà. Đầu đời Gia Long vừa làm Tri thủ (lý trưởng) làng Lạc Phố, vừa dạy học trò, thân sinh Tổng đốc Nguyễn Bá Nghi.

(9) Xe lùa: xe lùa nước, đạp chân. Người sáng  chế xe lùa là ông Nguyễn Hữu Châu, ấp Vĩnh Bình, huyện Đức Phổ – theo Nguyễn Bá Trác. QNTC. Sđd.

(10) Lê Quý Đôn, PBTL NXBKHXH H.1977, trang 119: “Phủ Quảng Ngãi thì xã Phú Xuân, huyện Bình Sơn, xã Phúc Khang, huyện Chương Nghĩa, đất đầu gần sông, đất nước tốt lành, đồn điền rộng rãi, cao mà bằng, ước hơn nghìn mẫu, cũng gọi là tiểu Đồng Nai…”

(11) Sau đó gặp khủng hoảng kinh tế. Năm 1930 xuất 35T, năm 1931: 40T. Năm 1934 tăng dần. Từ 1936 đến 1940, 1942 tăng gấp bội. Ccau tươi và cau khô.

(12) ĐNNTC. T.III. trang 31: Sông Lại Giang: Năm Tự Đức thứ 3 xếp vo hàng sông lớn, chép vào điển thờ.

Lê Văn Quát 

 

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: