CHÙA DIỆU GIÁC

chua_dieu_giacChùa Diệu Giác nằm ở thôn Phú Lộc, xã Bình Trung, ở huyện Bình Sơn, cạnh đường quốc lộ 1A cách thị trấn Châu ổ 1 km và cách trung tâm tỉnh lỵ 25 km về hướng bắc.

Sách Đại Nam nhất  thống chí quyển 2, phần Quảng Nghĩa viết:

“Chùa Diệu Giác ở huyện Bình Sơn, chùa. dựng trên gò cao, trước mặt trông ra hồ nhỏ. Hồi đầu bản triều, có sắc cho tên là chùa Viên Tông, qui mô rộng rãi, sau trải bao loạn lạc, chùa bị tàn phá, đến lúc đại định, các tăng đồ mới tu bổ lại. Từ đấy đn hương rất thnh, năm Thiệu Trị thứ nhất, đổi tên là chùa Diệu Giác, năm thứ năm người địa phương lại trùng tu, nhà cửa sạch sẽ rộng rãi, giới luật trang nghiêm, nhiều người đến lễ là xin thẻ “.

Theo các tờ khấu trình của Lý hương làng Phú Lộc vào năm Giáp tuất (1754 – tức Cảnh Hưng thứ 15). Võ vương Nguyễn Phúc Khoát ân ban “Sắc Tứ Viên Tông Tự” cho chùa. Đến năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) vì lý do phạm húy nên tên chùa đổi thành “Diệu Giác Tự” cho đến ngày nay.

Theo lời truyền khẩu của nhân dân trong vùng, chùa Diệu Giác được xây dựng bởi các nhóm thợ giỏi tại các làng nay thuộc xã Nghĩa Hiệp huyện Tư Nghĩa. Từ khi xây dựng đến nay, căn cứ vào khấu trình của Huỳnh Hữu Nghĩa năm 1896 thì chùa Diệu Giác tu sửa ở các lần:

Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) vâng trác chỉ của vua, sửa đổi biển đề tên chùa Viên Tông Tự thành Diệu Giác Tự.

Năm Thiệu Trị thứ năm (1845) chùa bị hư nát, tu sửa lớn.

Năm Tự Đức thứ 2 (1848) tu sửa tượng Phật và tháp mộ.

Đến giai đoạn năm 1944 chùa Diệu Giác được trùng tu nhà Đại Hùng Bửu điện, nhà tổ, miếu thờ.

Năm 1959 tu bổ ba bảo tháp trong khuôn viên chùa.

Năm 1974 tu sửa tổng thể chùa, vách chùa chất liệu vôi tam hợp được thay thế bằng vách xây ciment.

Chùa Diệu Giác xây dựng theo dạng chữ khẩugồm nhà Đại Hùng Bửu điện ở phía trước và nhà tổ ở phía sau, hai bên tả hữu là nhà khách thập phương và nhà để nấu nướng.

Nhìn tổng thể, chùa Diệu Giác được xây dựng theo nguyên tắc lấy đường thần đạo để bố cục đăng đối các công trình, từ cổng tam quan đi vào, 2 bên lầu chuông lầu trống xây dựng đăng đối, tiếp đến là chùa, về phía đông nam của chùa là nơi yên vị ba bảo tháp của các Hòa Thượng, thiền sư tr trì chùa.

Nhà chính (Đại Hùng Bửu điện) của chùa Diệu Giác xây dựng qui mô rộng rãi với kiến trúc gồm nhà tiền đường, chính điện và hậu cung:

Tòa nhà Đại Hùng Bửu điện xa kia xây dựng bằng vách vôi tam hợp, đến năm 1974 sửa chữa lại bằng chất liệu ciment. Tuy nhiên hệ thống cột. và vì kèo vẫn giữ nguyên vẹn. Nhà Đại Hùng Bửu điện có 4 cột to cao, cột làm bằng loại gỗ tốt, tròn trịa, trau chuốt đẹp. 4 cột này đỡ hai bộ vì kèo chính, vì kèo này có dạng trụ chồng đầu choãi cánh dơi được chạm khắc uốn lượn mềm mại. Đế trụ chồng trang trí hình hoa sen được tạo tác rất tinh tế, sắc sảo. Trên đầu mỗi cột chính có 3 tay kèo mái, tổng cộng nhà chính điện có 12 kèo mái thả xuôi về phía bờ hiên theo 4 góc. Các tay kèo dài, chắc khỏe được khắc rãnh mềm mại thanh thoát. Bề mặt các tay kèo trang trí có mô-típ cá chép hóa long, rùa ngủ dưới trang sen, các đường viền hoa lá. Đầu kèo trang trí hình đầu rồng gọi là long phù. Các kèo mái thả xuôi từ đỉnh nóc về phía bờ hiên được đỡ bởi các cột hiên, hàng cột hiên tiền đường chạm nổi rồng. Nhà chính điện chia làm 3 gian với 3 vì kèo, gian giữa là gian chính thờ Phật với 4 cột gỗ, hai bên có hai gian thờ phụ. Tiếp theo chính điện là hậu cung trang trí đơn giản. Phía sau tòa Đài Hùng Bửu Điện là nhà tổ và hai bên là nhà tả hữu còn lại nguyên nền.

Hai bên tả hữu là lầu chuông và lầu trống có 4 mặt. Cấu trúc phần đỉnh cắt cổ diêm, ở phần cổ diêm trang trí 4 chữ ở 4 mặt, mặt chữ vạn được ‘lồng trong vòng tròn, trên đỉnh là 2 búp sen đang nở. Ở phần tâm chính điện là hoành phi với bảng đề Diệu Giác Tự bằng chữ Hán, trên là bánh xe pháp luân, hai bên có rồng chầu theo thế lưỡng long. Các mặt bên đều đúc nổi hình tượng đợi thích ý nghĩa chúc phúc.

Trong nội thất chùa, trên đỉnh của gian chính điện có treo bảng hoành phi Diệu Giác Tự thếp vàng, nền xanh. Trên các đỉnh cửa được trang trí hồi văn theo kỹ thuật chạm trổ rất công phu. Các mô-típ trang trí bao gồm các diềm hoa dây, dơi, bộ tứ linh: long, ly, quy, phụng. Ngoài ra còn có các mô-típ cánh chả cách điệu hoặc các cành mai, trái đào Hiện nay trong chùa còn lu giữ án thờ bằng gỗ có kỹ thuật khắc chạm tinh vi, là bằng chứng cho thời kỳ rực rỡ của chùa.

n thờ được làm từ gỗ mít lõi bền chắc. Chiều cao của án là 1,42 m được chia làm 2 phần chân án và thân án. Chân án cao 0,67 m, tạo dáng theo chiều cong mềm mại, giữa hai bên chân án chạm nổi đầu rồng. Thân án có chiều ngang 0,73 m, chiều cao 0,69 m, toàn bộ được trang trí hoa văn hoá tiết mềm mại sống động.

Mặt chính của án thờ được phân chia thành 3 phần ô hộc, trong các ô hộc trang trí một số các họa tiết của mô-típ tứ linh bát bửu.

Toàn bộ các chủ đề trang trí được thực hiện theo kỹ thuật đục vòm chạm nồi rất tinh tế, các chủ đề trang trí được bố cục chặt chẽ, hai bên viền dây leo, trên dưới viền cánh sen.

Mặt hai bên hông của án thờ trang trí các họa tiết bát bửu của đạo nho.

Phần giữa của ô hộc trang trí bình hoa và mâm ngũ quả. Xung quanh các ô hộc trang trí này được viền dây leo và cánh sen theo kỹ thuật.đục vòm chạm nổi.

Cách bố cục thờ trong chùa Diệu Giác chia làm 3 phần: gian giữa là gian chính thờ phật A di đà (Amitabha Bouddha) đang ngồi thiền định, phía phải là tượng Đại Thế Chí, phía trái là tượng Quan âm Bồ tát.

Phía sau cụm tượng này là từng Phật Thích Ca đứng, tượng mới làm, chất liệu bằng thạch cao.

Ngoài gian thờ chính thờ Phật, trong nội thất chùa còn 6 án thờ. Hai án thờ ở phía ngoài thờ thần hộ pháp (Dvarapala) bảo vệ chùa. Tượng thần hộ pháp bằng gỗ, mình mặc giáp trụ, mắt xếch, cỡi beo, tay chống kiếm.

n thờ phía tả thờ Đức Khổng tử, tượng bằng gỗ cao 0,65 m, chiều ngang thân 0,32 m, mình mặc áo thụng xanh điểm hoa vàng, đầu đội mũ bình thiên, tay cam hốt, râu tóc trắng. Đây là pho tượng gỗ đẹp, quý hiếm, niên đại khoảng thế kỷ 16-17.

n thờ phía hữu thờ Quan. Công, Chu Thương và Quan Bình cùng ngựa xích thố. Đây là các pho tượng bằng gỗ có kích thước nhỏ, tượng được sơn son thếp vàng.

Phía sau hậu cung có ba bài vị thờ các sư trù trì là Tế Hiệp – Hải Điện hiệu Viên Minh Hòa Thượng, Đại Niệm – Hoàng Từ hiệu Quảng Tất Đại Sư và Phật Tuyết hiệu Tường Quang Quảng Độ Hòa Thượng, trên vách treo bức tranh Bồ đề Đạt Ma Lạt Ma qua sông. Trong gian hậu cung còn thờ những người chết được người thân gửi nương tựa cửa chùa.

Ngoài ra ở trên án thờ đặt ở phía trước gian thờ Phật có tượng Tiêu Diện bằng đồng cao 0,50 m.

Bên trong nội thất chùa còn có một chiếc chuông đặt nơi vách trái cạnh cửa ra vào đúc năm Ất sửu (1805) đời Gia Long do Hòa Thượng Nguyễn Văn Viên chứng minh và đề bài minh trong chuông. Chuông có dáng đẹp, đai chuông gắn lưỡng long, tiếng chuông thanh trong ngân xa. Chuông có chiều. cao 1m, đường kính miệng chuông 0,52 m.

Về phía cửa chính đi vào có một chiếc khánh nhỏ, trên ghi năm chữ: “Sắc tứ Viên Tông Tự” không ghi năm đúc. Phía lầu trống có một chiếc trống lớn có đường kính mặt 0,68 m, chiều dọc thân 0,75 m trên khắc các chữ: “Phạm Thái Tông, Đỗ Thái Sư, Phạm Thái Thường”, ngoài ra không thấy có dấu hiệu no khác.

Trong khuôn viên chùa Diệu Giác có ba bảo tháp cổ kính, kiến trúc còn nguyên vẹn là di sản quý của chùa, phản ánh lịch sử hình thành và phát triển của chùa: tháp Thủ Tọa Chiêu, tháp mộ Đỗ Ha Thượng, tháp mộ Đỗ Văn Viên.

Chùa Diệu Giác là ngôi chùa duy nhất có sự hiện diện của các thiền sư thuộc nhiều thiền phái khác nhau: Thiền phái Trúc Lâm ở giai đoạn khai sơn chùa, thiền phái Liễu Quán dòng Lâm Tế ở giai đoạn khởi phát và hưng thịnh của chùa và cuối cùng là sự hiện diện các thiền sư dòng Lâm tế của phái Minh Hải ở chùa Thiên ấn trong giai đoạn về sau của chùa.

 

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: