CHÙA ÔNG

CHÙA ÔNG

Chùa Ông là di tích kiến trúc đã được Bộ Văn Hóa Thông Tin ra quyết định xếp hạng Di tích Quốc gia. Chùa tọa lạc tại thị tứ Thu Xà, xã Nghĩa Hòa, cách tỉnh lỵ Quảng Ngãi 10 km về hướng đông. Chùa Ông là theo cách gọi dân gian, tên chữ Hán của chùa là “Quan Thánh tự”. Chùa xây dựng vào năm 1821, Minh Mạng năm thứ hai, do tứ bang Minh Hương: Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam, Quảng Đông cùng nhau tạo lập. Từ đó đến nay chùa đã trải qua 4 lần trùng tu: năm 1881, 1894, 1920, 1991 , với sự đóng góp tiền của của các quan lại triều Nguyễn, thương gia và dân chúng ở Quảng Ngãi. Tuy qua nhiều lần trùng tu, song kết cấu kiến trúc cổ xưa của chùa vẫn được bảo lưu khá nguyên vẹn.

 chuaongthuxa

Chùa thờ Quan Công ở gian chính điện, thờ Phật Quan âm Nam Hải ở gian hậu cung theo kiểu “Tiền thánh hậu Phật”. Ngoài ra ở hậu cung còn có cụm tượng Thiên Hựu với Thiên Lý Nhãn, Thiên Lý Nhĩ, Cửu Thiên Huyền Nữ và cụm tượng Kim Đẩu với 12 bà mụ.

Về quy mô, tuy Chùa Ông có vẻ khiêm nhường so với các ngôi chùa do người Hoa tạo lập ở Hội An, nhưng đã có sự kết hợp hài hòa hến trúc Hoa – Việt trong một tổng thể chung với đường nét chạm trỗ hết sức điêu luyện công phu.

Từ ngoài vào, các công trình kiến trúc được bố trí trên một trục đạo tuần tự gồm cổng tam quan, bình phong trụ biểu, lầu trống chuông và chùa. Hai bên mặt tiền chùa có hai cổng phụ thấp, phía sau chùa là đền thờ Tiêu Diện.

Nhìn chung các công trình kiến trúc trong tổng thể chùa được bố cục chặt chẽ, hoàn chỉnh.

Cổng tam quan cấu trúc một gian, bốn cột, hai bộ vì chồng rường trái bí theo lối tam hoành. Hoành thứ ba uốn cong hình thuyền trang trí đầu rồng đuôi phượng. Các hoành liên kết với nhau qua các vì chồng và gác qua đầu cột.

Mái tam quan lợp ngói âm dương, đỉnh mái uốn cong hình thuyền trang trí rồng đuôi phủ dây leo thực vật. Bờ mái trang trí dạng ô hộc với năm ô trang trí. Hai bên tả hữu cổng tam quan l miếu thờ Thiên Hậu có kiến trúc bình thường.

Bình phong cao 2 mét, mặt trước đắp nổi hình beo nhe răng vểnh đuôi trông rất dữ tợn và sống động, mặt sau đắp nổi hình con ly trên cụm mái. Trên đỉnh bình phong là hai con nghê chầu hạt châu và quay đầu vào chùa. Hai bên bình phong là hai trụ biểu. Lầu chuông lầu trống  xây dựng đăng đối qua trục đạo. Mái bằng cắt ô chấn song dùng để chuông trống tiến hành lúc tế lễ.

Chùa quay mặt về hướng đông, kiến trúc theo hình chữ tam gồm ba nhà liên kết nhau: Tiền đường, chánh điện và hậu cung. Đỉnh bờ mái mặt trước của chùa có ghi ba chữ: “Quan Thánh Tự”. Tiền đường mặt trước có ba cửa lớn và hai cửa vòm nhỏ. Trong nhà tiền đường có 18 cột chia làm ba gian hai chái. Hàng cột hiên gồm 6 cột thấp, được nâng lên bởi các bệ đá hình cẩm đôn. Đây là kết quả trùng tu thời Khải Định (1920) nhằm đưa mặt tiền của kiểu dáng nhà rường lên cao hơn cùng với hệ thống cửa vòm theo lối gotique phía trước tạo thêm vẻ đẹp cho chùa. Bộ khung nhà gồm 4 bộ vì kèo vỏ cua kiểu chồng rường giả thủ. Các giả thủ theo lối gấp khúc, đầu giả thủ ngoạm sít thượng lương và đòn tay. Trên bề mặt vì kèo chồng rường giả thủ chạm nổi đầu rồng với các đám mây lửa, các đường viền dây leo thực vật. Mặt trính (hoành) chạm nổi hình hoa cúc tám cánh rất sinh động.

Các vì kèo thả xuôi từ vì vỏ cua gác qua đầu cội giữa và chốt mộng ở hàng cột hiên. Bẫy hiên ngoạm đô đòn tay, đầu bẫy hiên trang trí thực vật. Vách của tiền đường và mặt trước của chánh điện là hai hệ thống cửa bàn khoa (cửa gỗ chấn song thấp).

Trên đỉnh khung cửa, có đính sáu mắt cửa hình tròn, giữa khoét lòng chảo chấm đỏ, xung quanh màu vàng. Phía trên của hệ thống mắt cửa là tam xà đỡ hệ thống liên ba đố bảng. Các liên ba đố bảng được trang trí thành ba hệ thống mang tính đăng đối của hai bên cửa vào. Hệ thống trên trang trí bát bửu, hệ thống giữa trang trí tứ linh, hệ thống dưới trang trí dây leo thực vật. Các chủ đề trang trí thể hiện qua kỹ thuật chạm thủng và chạm nổi theo từng ô bảng lồng. Phần giữa của hai dãy liên ba bảng lồng đăng đối qua lại được chạm nổi họa tiết trang trí lưỡng long tranh châu. Bên dưới gắn tấm hoành phi bằng gỗ sơn son thiếp vàng hai bên có các chữ nho đăng đối nghĩa “Ho nhiên chánh khí – trung tâm quán nhựt”.

Nối liền nhà tiền đường và chánh điện là 4 vì trính cầu. Các vì trính cầu gác qua đầu cột vách của nhà tiền đường va hàng cột trước của nhà chánh điện, nhằm đỡ máng xối thoát nước. Vì kèo mỗi bên thả xuôi theo đầu cột, chốt mộng và gác lên các trụ đỡ trên mặt trính. Trụ đỡ trang trí hoa lá rất đẹp và thanh thoát.

Nhà chánh điện có 12 cột chia làm 3 gian: gian giữa thờ Quan Công, Chu Thương, Quan Bình. Hai gian bên tả hữu thờ Thần tài. Thồ trạch, ngựa xích thố, tả ban và hữu ban tùng tự. Gian thờ Quan Công riêng biệt bằng 4 cột to, cao, 4 cột này lớn bởi trụ đỡ bằng gỗ có dạng hình cẩm đôn. Đầu cột nâng bộ vì kèo chồng rường chày cối. Mô-típ chày cối ở đây là một trụ chồng đầu choãi cánh dơi. Cánh dơi này là bảng gỗ gắn vào đầu trụ chồng nhằm đỡ thượng lương, đòn tay, để tránh không cho đầu trụ chồng đụng vào thượng lương vì đây là điều kiêng ky. Đế trụ chồng có kích thước hình khối chạm nổi dây leo thực vật. Bộ vì kèo chồng rường chày cối nâng mi lên cao đồng thời cắt cỗ mái phía trước theo dạng chấn song con tiện để đưa ánh sáng và không khí bên ngoài vào chánh điện. Cấu kiện vách sau lưng chánh điện bằng gỗ trang trí ô hộc. Hai đầu vách là

hai cánh cửa hông nhỏ thông qua hậu cung, giữa vách là khám thờ Quan Công cao 2,2m. Khám thờ này được khắc chạm mô-típ lưỡng long tranh châu ở đỉnh, hai bên chạm lộng mô-típ cành mai hoa cúc cùng mô-típ đầu rồng nhưng đuôi là dây leo thực vật. Khám thờ Quan Công.được tạo tác bằng gỗ, sơn son thếp vàng, là một tác phẩm điêu khắc gỗ hết sức công phu.

Sau chánh điện là hậu cung, thông thương bằng hai cửa phụ nhỏ. Hậu cung bộ khung xà nhà gồm có 8 cột, chia làm 3 gian. Cột ở đây vuông, thô sơ chống đỡ 4 vì trính chuyền xuyên suốt lòng nhà. Trính chuyền được gác lên đầu cột vvách, đỡ bộ vì kèo cánh ác nhờ hai cột trốn. Đỉnh vì kèo cánh ác có hoành ngang giằng giữa hai vì kèo và đỡ bộ vì chồng rường trái bí. Bộ vì chồng rường trái bí có 3 vì chồng ngắn nhằm đỡ thượng lương và đòn tay hai bên. Vách sau của hậu cung là hệ thống cửa chấn song, thấp. Vách hông của hậu cung có một cửa vòm nhỏ để ra vào.

Gian giữa của hậu cung thờ Phật bà Nam Hải Quan Âm, Địa Tạng cỡi beo và Chuẩn Đề, bên giữa thờ bức họa tổ sư Đạt Ma qua sông. Hai gian phụ hai bên thờ cụm tượng Thiên Hậu và Kim Đẩu. Cụm tượng Thiên Hậu có 5 tượng gồm: tượng Thiên Hậu, Cửu Thiên Hu.yến Nữ, Phán Quan, Thiên Lý Nhãn, Thiên Lý NÚĩ với hai loại kích thước lớn nhỏ. Cụm tượng Kim Đẩu gồm: tượng Kim Đẩu, Phán Quan và 12 bà mụ. Các tượng thờ ở hậu cung chất liệu bằng đồng, gỗ hoặc đất nung, chế tác hết sức công phu, trau chuốt. Các tượng bài trí quay mặt ngợc hướng tượng thờ ở gian chánh điện.

Như vậy mặc dù liên kết với nhà chánh điện, song hậu cung vẫn là mặt tiền của ngôi chùa thờ Phật với ba chữ đại tự: “Quang Minh Tự”. Phía trước chùa là am thờ Tiêu Diện, vách xây, mái cắt cỗ diêm không trang trí.

Ngoài ra trong chùa có 6 văn bia chữ nho chia làm hai loại: loại văn bia có niên hiệu Thành Thái thứ 7 tức năm 1895 và văn bia có niên hiệu Khải Định Canh thân niên, tức năm 1920, là các năm Chùa trùng tu. Các văn bia này trang trí chạm nổi lưỡng long tranh châu ở trán bia, diềm bia trang trí đầu rồng mình quấn dây leo thực vật. Bia ghi lại danh sách những người cúng trùng tu gồm tên người, nơi ở, số tiền cúng.

Chùa Ông là một ngôi chùa mà ở đây nghệ thuật trang trí đã đạt đến trình độ tinh xảo về kỹ thuật. Tại đây chúng ta bắt gặp các kỹ thuật đắp nổi, chạm nổi, chạm thủng, chạm lộng ở trên các bình phong, vách gỗ, khám thờ, vì kèo, bẫy hiên, trụ chồng, tượng, diềm bia, chuông… Đôi khi, các nghệ nhân xây dựng chùa còn sử dụng kỹ thuật điêu khắc đá biến trụ đá kè chân cột thành dạng cẩm đôn thanh thoát.

Tóm lại, Chùa Ông hay “Quan Thánh Tự” là một ngôi chùa cổ được bảo vệ khá nguyên vẹn. Chùa còn lưu lại những tác phẩm điêu khắc chạm trỗ công phu có giá trị về mỹ thuật. Ngoài ra trong chùa còn lu giữ các di vật và nhiều pho tượng cổ quý giá. Chùa Ông có sự giao thoa, kết hợp hài hòa các yếu tố kiến trúc của người Việt và người Hoa: Trên cơ sở cấu kiện nhà rường truyền thống ở miền Trung (các vì kèo chống rường chày cối, vì kèo chồng rường giả thủ) còn có sự xuất hiện vì kèo cánh ác cột trốn trính chuyền của đồng bằng Bắc bộ và bộ vì kèo chồng rường trái bí mà một số nhà nghiên cứu cho rằng nó mang phong cách Hoa Bắc (Trung Quốc). Chúng ta còn tìm thấy sự đan xen yếu tố tín ngưỡng của người Hoa với sáu mắt cửa trên đỉnh hệ thống cửa nhà chánh điện. Một yếu tố khác không kém phần quan trọng đó là truyền thống văn hóa của cư dân sông nước với hình ảnh chiếc thuyền rồng mà các khoang thuyền được mô tả rất cụ thể trên đỉnh mái cổng tam quan.

Những điều trên cho thấy Chùa Ông là một kiến trúc nghệ thuật rất có giá trị về các mặt lịch sử và mỹ thuật.

ĐOÀN NGỌC KHÔI

 

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: