DI TÍCH VĂN HÓA CHĂM-PA

Một cơ tầng văn hóa khác kế tiếp Văn hóa Sa Huỳnh về mặt thời gian, tồn tại và phát triển trên vùng đất Quảng Ngãi suốt từ những thế kỷ đầu Công nguyên đến thế kỷ 15 là Văn hóa Cham pa. Năm 1924, nhà khảo cổ người Pháp H.Pamentier đã khai quật tháp Chánh Lộ thuộc phạm vi thị xã Quảng Ngãi. Chánh Lộ là ngôi thánh đường Hin-đu giáo Champa lớn nhất vùng Quảng Ngãi của người Amaravati. Người Pháp đã tìm thấy ở Chánh Lộ khoảng 100 tác phẩm điêu khắc đá bao gồm các tượng, phù điêu.

Phong cách nghệ thuật điêu khắc Chánh Lộ thế kỷ X-XI phát triển trong nền tảng của phong cách Trà Kiệu với các khuôn mẫu kinh điển đã được bản địa hóa; những nghệ nhân Champa đã thổi vào các tác phẩm điêu khắc sức sống và linh hồn Champa.

 ngheda-lehongkhanh

Những năm gần đây, với những phát hiện mới về khảo cổ học Champa vùng đất dọc hạ lưu sông Trà Khúc đã dần hé mở và đi đến nhận định có thể có một tiểu quốc Champa ở vùng đất Quảng Ngãi. Cuộc đào thám sát ở khu vực Cổ Lũy – Phú Thọ năm 1998 đã cho thấy ở đây tồn tại các công trình kiến trúc của một thủ phủ Champa với các ngói ống mặt hề, chóp trang trí dạng búp sen, các loại đồ gốm, các loại kendi hoàn toàn giống với Trà Kiệu và niên đại của nó vào khoảng thế kỷ 2, 3 sau công nguyên. Với những bằng chứng khảo cổ học đã tìm được, có thể cho rằng thủ phủ Cổ Lũy tồn tại khoảng từ thế kỷ 2, 3 sau công nguyên cho đến đầu thế kỷ 15. Bảo vệ Cổ Lũy có hệ thống thành xây gạch án ngữ phía cửa biển.

Phía bờ bắc của sông Trà Khúc là thành Châu Sa, thành xây dựng bằng đất đá ong laterite trộn với đất sét đầm chặt nên bờ thành có màu nâu đỏ. Thành Châu Sa được người Champa xây dựng vào khoảng thế kỷ VIII – IX với hệ thống đường thủy dày đặc, với hệ thống hào thành liền với các dòng sông Hàm Giang, sông Làng, sông Trà Khúc đi ra các cửa biển Sa Kỳ, cửa Đại. Đến nay đã phát hiện trong thành Châu Sa tồn tại các di tích Champa có niên đại khoảng thế kỷ VI- X, đó là khu sản xuất các tín vật Phật giáo bằng đất nung. Núi Chồi có niên đại ở vào khoảng thế kỷ VI – VIII, khu phế tháp Gò Phố và văn bia Châu Sa có niên đại khoảng thế kỷ IX – X.tuong-vu-nu-cham-1

Như vậy hai nơi Cổ Lũy – Phú Thọ và thành Châu Sa có thể là thủ phủ của tiểu quốc Champa cổ vùng Quảng Ngãi, có niên đại sớm muộn khác nhau. Và sự tồn tại của tiểu quốc này kéo dài từ thế kỷ 2, 3 sau Công nguyên đến giữa cuối thế kỷ 15.

Những kết quả nghiên cứu khảo cổ học cho thấy ở đa điểm tả ngạn sông Trà Khúc có địa điểm văn hóa Châu Sa ở núi Sứa và địa điểm phát hiện trống Héger I liền kề nhau, chứng tỏ trong thời tiền sử vùng đồng bằng hạ lưu sông Trà đã có sự tập trung đông đúc một cộng đồng người có sự giao lưu với Văn hóa Đông Sơn ở phía Bắc. Cổ Lũy- Phú Thọ, một trung tâm của tiểu quốc Champa cổ niên đại tương đương Trà Kiệu đã tìm thấy sự giao lưu mạnh mẽ với  Văn hóa Hán, thể hiện qua các loại đầu ngói mặt hề có niên đại thế kỷ 2, 3 sau công nguyên và các loại gốm in văn ô vuông, hoa thị, văn hình thoi… Sự tạo lập tiểu quốc Champa ở Quảng Ngãi không khác so với các nơi, cũng bao gồm cửa biển cảng thị để giao thương, thủ phủ thành quách nơi đặt trung tâm chính trị, núi thiêng, sông thiêng và một thánh địa thiêng, có thể biểu diển bằng mô hình sau:

 

Khoảng đầu thế kỷ XX, H. Parmentier trong tập kiểm kê có miêu tả các đền Chàm ở miền Trung Việt Nam đã thống kê ở Quảng Ngãi có khoảng trên 10 di tích Champa, song qua sự khảo sát nghiên cứu đến nay đã phát hiện có khoảng trên 40 đền tháp Champa, hầu như các đền tháp này đã đổ nát thành phế tích. Đền tháp lớn nhất là Chánh Lộ, An Tập, Gò Phố, Hòn Yàng. Ngoài ra còn có hàng loạt các ngôi đền nhỏ như Tiên Đào, Phú Lộc, Núi Ông, Núi Bút, Nghĩa Lâm, Đại An, Hành Đức, La Hai, An Ba, Phú Khương, Khánh Vân… Đặc điểm các đền tháp được xây dựng dọc theo các dòng sông Trà Khúc. sông Trà Bồng, sông Vệ, sông Trà Câu và một số sông cổ khác bị bồi lấp. Các đền tháp xây đựng trên đất bằng hoặc gò đất cao có quy mô lớn, niên đại sớm như Chánh Lộ, An Tập, Hòn Yàng, còn các đền tháp xây dựng trên đồi có quy mô nhỏ và niên đại muộn hơn, c thể ở vào thế kỷ 13 trở đi, do chiến tranh liên miên, nhà nước Champa không đủ tài lực để xây dựng những ngôi tháp to lớn đồ sộ như trước đó. tuong-bo-nadin

Hiện nay, ở Quảng Ngãi, các di vật Champa không còn nhiều. Trước đây người Pháp khai quật Chánh Lộ đã lấy đi các pho tượng ở đền tháp này đưa về trưng bày ở Bảo tàng điêu khắc Champa tại Đà Nẵng. Các pho tượng Champa tìm thấy ở các phế tháp khác hầu như không còn nguyên vẹn, chúng bị gãy vỡ các phần đầu, tay của thân tượng.

Nhìn chung các pho tượng Champa ở Quảng Ngãi có niên đại từ thế kỷ thứ VIII (phù điêu Vishnu ở Phú Thọ) đến thế kỷ 12 (bệ đá trang trí hình tu sĩ ở tháp Khánh Vân); các pho tượng mang phong cách Chánh Lộ còn di tồn lại như tượng Gajasimha được tạo dáng, trang trí đẹp. Về các loại đồ gốm Champa được tìm thấy ở Quảng Ngãi khá ít, hầu hết là đồ đất nung với xương gốm tinh mịn có màu đỏ hoặc vàng, một số ít có tráng men. Ngoài ra còn có loại gốm thương mại do người Chăm trao đổi với Trung Hoa, chẳng hạn như đồ gốm Lục Triều thế kỷ VI là các loại hủ có tráng men vàng, một số có màu tro; đặc biệt có loại hủ dùng để cải táng trên có khắc chữ Sanskrit. Tại vùng thềm sông Phước Giang (Nghĩa Hành) tìm thấy loại vò hình trứng có tráng men, đáy bôi hồng hoàng dùng để làm quan tài theo tục mai táng trên sông. Đây là chiếc vò có tiêu bản đẹp, ít xuất hiện ở nơi khác, mang dáng dấp loại chu, hình trứng của Long Thạnh (Văn hóa Sa Huỳnh). Ở giai đoạn muộn hơn, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy trong nội thành Châu Sa những chiếc hủ sành dùng để làm quan tài mai táng người chết (sau khi đã hỏa táng).

Về loại hình văn bia, ở Quảng Ngãi tìm thấy các loại văn bia Champa được khắc trên đá bằng tự dạng Sanskrit hoặc chữ Chăm cổ. Loại văn bia khắc trên đá tự nhiên tìm thấy ở Trng Bàng (Đức Phổ), gồm có mười dòng chữ được khắc sắc sảo, văn bia này nằm sát biển là di sản quý giá của tỉnh Quảng Ngãi; loại văn bia khác được khắc trên đá đặt ở các tháp thờ nhằm tôn vinh các vị thần (vua) được tìm thấy ở Chánh Lộ, Châu Sa, nội dung của nó là tư liệu lịch sử quý giá để nghiên cứu Vương quốc cổ Champa.

Như vậy, trong dòng chảy của lịch sử từ đầu công nguyên đến thế kỷ 15, Văn hóa Champa ở Quảng Ngãi có chuỗi mạch phát triển liên tục không bị đứt gãy, từ giai đoạn tiền Chăm (Linyi) đến Vương quốc Champa, nó để lại một kho tàng di sản vô cùng quý giá trong nghiên cứu khoa học và trưng bày bảo tàng.

ĐOÀN NGỌC KHÔI

 

THP CHNH LỘ

Tháp Chánh Lộ là tháp Chăm có quy mô lớn nhất mà chúng ta được biết ở vùng phía nam châu Amaravati của Vương quốc Chăm, thuộc địa bàn tỉnh Quảng Ngãi ngày nay.

Niên đại xây dựng tháp Chánh Lộ được nhiều nhà nghiên cứu ước đoán vào thế kỷ X đầu thế kỷ XI. Tháp bị hủy hoại, đồ nát theo thời gian và đến nay đã hoàn toàn mất dấu vết.

Bản tường trình của kiến trúc sư kiêm nhà khảo cổ người Pháp H. Parmentier về kết quả cuộc khai quật ở Chánh Lộ do ông tiến hành vào năm 1904, sau đó được công bố rộng rãi trong một tài liệu có tên là Inventare descriptf des monuments Champ de L’annam (1) có thể giúp chúng ta hiểu biết những nét chủ yếu về ngôi tháp quý giá này. Theo đó, tháp Chánh Lộ tọa lạc tại khu vực nay là bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi. Tên tháp gọi theo tên của làng Chánh Lộ thuộc phủ Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi vào thời điểm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nay nằm trong địa bàn phường Trần Phú, thị xã Quảng Ngãi. Tháp – hay đúng hơn là nhóm tháp (temple) Chánh Lộ gồm: tháp trung tâm (sanctuaire); tháp cổng ngỏ và 2 tháp khác nằm về phía tây – nam và đông – bắc tháp trung tâm. Tổng diện tích khu tháp được khai quật là 7.200m2 (120m x 60m) trong đó nền tháp trung tâm có hình bát giác, một kiểu dáng kiến trúc tháp Chăm tương đối hiếm, mà hiện nay chỉ còn thấy ở nhóm tháp Bằng An (Điện Bàn – Quảng Nam).choe-cham

Bị đổ nát quá lâu trước khi khai quật, vì vậy rất khó hình dung về kiến trúc của nhóm tháp. Sự phát hiện 3 nền tháp nằm theo trục bắc – nam, với tháp trung tâm ở giữa cho thấy có mối liên hệ nào đó giữa nhóm tháp Chánh Lộ với các nhóm tháp khác cũng được xây dựng thành 3 nhóm tháp theo trục bắc – nam như: Đồng Dương, Chiên Đàn, Khương Mỹ (Quảng Nam) và Hòa Lai (Ninh Thuận). Ở các nhóm 3 tháp, theo P. Stern, bao giờ tháp Nam cũng cổ nhất (về phong cách) rồi mới đến tháp Trung tâm và tháp Bắc.

Vì sao các nhóm kiến trúc 3 tháp bao giờ tháp Nam (chứ không phải là tháp Trung tâm) cũng được xây trước? Đây là một bí ẩn mà đến nay chưa một nhà khoa học nào tìm ra lời giải. Tháp Chánh Lộ có nền tháp hình bát giác, liệu phần trên có hình chóp nhọn như tháp Bằng An (cũng có phần đế – thân hình bát giác) hay không? Đế tháp và dĩ nhiên thân tháp Chánh Lộ có hình bát giác (như tháp Bằng An) trông giống hệt những chiếc cột bát giác của những ngôi nhà đền ở khu di tích Phật giáo Đồng Dương và khu tháp PôNagar. Vậy ở đây có mối liên hệ nào? Những câu hỏi khó giải đáp nay vẫn còn để ngỏ gần một thế kỷ nghiên cứu tháp Chàm.
Tuy vậy điều đặc biệt đáng lưu ý ở Chánh Lộ chính là giá trị của các hiện vật điêu khắc đá (tượng, phù điêu, bi ký, lanh-tô, mi cửa có chạm khắc,…) tìm thấy trong cuộc khai quật năm 1904 của Parmentier và được bổ sung bởi cuộc khai quật năm 1988 của Viện Khảo cổ học Việt Nam.
Trong số gần 100 hiện vật này, đẹp và thu hút sự chú ý nhiều nhất của các nhà nghiên cứu là nhóm tượng hình người như tượng thần Brahma, thần Shiva, nữ thần Uma (vợ thần Shiva), thần giữ đền Dvarapala, vũ nữ Apsara, thủy quái Makara và các tượng, phù điêu động vật: ngỗng thần Hamsa, chim thần Garuda, rắn thần Naga, sư tử, Gaja-simha (đầu voi mình sư tử)… Một số tượng và phù điêu mà H. Parmentier thu được hiện đang được trưng bày tại bảo tàng điêu khắc Champa Đà Nẵng; và đây là nhóm hiện vật khó có thể bỏ qua của bất cứ cuộc khảo sát, nghiên cứu nào về nghệ thuật Chăm.
Điểm nổi bật của các tượng, phù điêu tìm thấy ở Chánh Lộ, cũng như các tượng, phù điêu tìm thấy ở nơi khác mang phong cách Chánh Lộ là: trong khi vẫn còn phảng phất bóng dáng của phong cách Mỹ Sơn E1 với những đường nét trau chuốt cổ điển; bố cục chặt chẽ, nghệ thuật Chánh Lộ đã có sự “phá cách ” khá mạnh về khuôn khổ, đường nét, mang đậm cảm tác ngẫu hứng sáng tạo của nghệ nhân, làm cho các pho tượng và phù điêu trở nên sống động, giàu ấn tượng và biểu cảm, hình thành rõ nét một phong cách nghệ thuật mới độc đáo mà J.Boisselier và nhiều nhà nghiên cứu gọi là “Phong Cách Chánh Lộ” (2)

Quan sát cụm tượng Linga – Yoni Chánh Lộ, bên cạnh những đường nét chạm trổ công phu, trau chuốt, tuân thủ bố cục, tỷ lệ nghiêm ngặt, đã thấy xuất hiện nơi bệ Yoni vành đai vú căng tròn, nảy nở, tràn đầy sức sống. Còn tượng thần giữ đền Dvarapala thì kích thước to lớn gấp đôi người thường, mạnh mẽ và sẵn sàng trong tư thế “người bảo vệ”, hòa hợp độc đáo với các vũ công chắc khỏe đang thể hiện say đắm một vũ điệu đầy hoan lạc. Tượng thủy quái Makara thể hiện con quái vật với đôi mắt lồi to, miệng há và hàm răng lởm chởm; hai bên miệng là 2 tượng người, một đàn ông, một đàn bà. Sự đối chọi quyết liệt nhưng lại nằm trong một chỉnh thể hòa hợp nghệ thuật giữa một bên là con quái vật hung hăng, đe dọa, một bên là cái tĩnh tại trầm lắng đầy nội lực của người đàn ông với cánh tay cầm đóa sen đưa lên ngực, và người đàn bà với những đường nét thanh tú đã gợi cho những ai chiêm ngưỡng nhiều ý tưởng sâu xa về cuộc đấu tranh giữa thiện và ác; về sự tồn tại của bóng tối và ánh sáng trong chính mỗi con người,…
Tháp Chánh Lộ và phong cách Chánh Lộ trong kiến trúc và điêu khắc Chăm đã, đang và sẽ còn thu hút sự quan tâm đáng kể của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.
LÊ HỒNG KHÁ NH
 
THÁP KHÁNH VÂN

 

Vào tháng 7 năm 1998, Viện khảo cổ học và Sở VHTT Quảng Ngãi đã phối hợp khai quật phế tích tháp Chăm- Khánh Vân (thuộc thôn Khánh Vân, xã Tịnh Thọ, huyện Sơn Tịnh), một trong ba, bốn mươi phế tích đền, tháp Chăm trên đất Quảng Ngãi.
Tháp Khánh Vân xây dựng trên một ngọn đồi cao gần 50 mét so với mặt biển, được nhân dân quanh vùng gọi là đồi Tháp Hời, chung quanh là những cánh đồng rộng và phẳng. Theo tín ngưỡng Bà-la-môn giáo, ngọn đồi chính là biểu tượng của núi Mê ru – nơi cư ngụ của các thần và cánh đồng màu xanh thoáng đãng vây quanh là biểu tượng của biền sữa thời kỳ tạo thiên lập địa.
Khi đã bóc đi một khối lượng lớn gạch đá đổ nát trên bề mặt và đào sâu từ 2-3 mét, toàn bộ phần chân đế tháp đã hiện ra gần như nguyên vẹn, cho thấy đây là một ngôi tháp tương đối lớn với phần nền có bình đồ vuông mỗi cạnh 10 mét, không kể phần lồi ở cửa chính (hướng về phía mặt trời mọc) và 2 cửa giả (hướng về 2 phía nam, bắc).
Tương ứng với tỷ lệ diện tích nến và chiều cao phổ biến ở các tháp Chăm, diện tích nền 10 x 10 m của tháp Khánh Vân, cho thấy tháp có chiều cao 20-24 mét, tức là tương đương với các tháp Chăm lớn nhất hiện đang tồn tại như Khương Mỹ, Bằng An, Mỹ Sơn A1….
Phần còn lại của chân tháp (cao nhất 3,1 mét, thấp nhất 1,8 mét) được xây dựng bằng chất liệu “gạch Chăm” xếp chồng lên nhau, gắn kết bằng chất liệu và kỹ thuật, như các tháp Chăm khác, mà đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa có được giải thích thỏa đáng…
Theo PTS Lê Đình Phụng, người phụ trách chuyên môn của nhóm khai quật và là một chuyên gia về khảo cổ học tháp Chăm, chất kết dính các viên gạch là loại keo trích từ cây dầu rái, một loại cây có nhựa dầu khá phổ biến ở vùng rừng núi Quảng Nam- Quảng Ngãi mà người Chăm đã sớm khai thác và chế biến sử dụng.
Giữa nền tháp, khi đào ở độ sâu hơn 3 mét, nhóm khai quật phát hiện một bệ thờ bằng đá (dài 140cm, rộng 46cm, cao 33cm), có điêu khắc trang trí hình ngựa thần, cửa tháp có hình chóp, một hình người và các hoa văn lá đề ở mặt trước và hai bên. Bệ thờ này bị vùi dưới một lớp cát lẫn sạn nhỏ, nằm hơi lệch tâm so với vị trí các bệ thờ thường gặp ở tháp Chăm, chứng tỏ có tác động về sau này của con người, làm dịch chuyển vị trí ban đầu. Ú Cũng theo PTS Lê Đình Phụng, những hình chạm khắc mang tính biểu tượng trên bệ thờ và 4 trụ ốp chân tháp, xu hướng thu lại thành khối chắc khỏe của các trụ này, cùng với sự tham gia của các vật liệu đá và trang trí, cho thấy tháp Khánh Vân có sự gần gũi về phong cách với tháp Chánh Lộ, cho phép đoán định thời gian xây dựng tháp vào khoảng cuối thế kỷ XI.
Năm 1942, trong công trình L’art du Champa (ancien An nam) ét son évolution, xuất bản ở Toulouse (Pháp), nhà nghệ thuật học P. Stern đã gọi đây là phong cách chuyển tiếp giữa phong cách Mỹ Sơn Al và phong cách Bình Định.
Gần đây (1994), nhà nghiên cứu Ngô Đăng Doanh đề nghị gọi là phong cách Chiên Đàn. Tuy vậy phần đông các học giả trong và ngoài nước vẫn dùng thuật ngữ “Phong cách Chánh Lộ” song đồng thời cũng hiểu nó là một phong cách chuyển tiếp từ Mỹ Sơn Al đến Bình Định.
Như vậy, những kết quả nghiên cứu sơ bộ từ cuộc khai quật phế tích Khánh Vân, đã khẳng định một lần nữa sự tồn tại của phong cách Chánh Lộ trong nghệ thuật đền tháp Chăm, đặc biệt là ở Quảng Ngãi, vùng đất nằm phía nam châu Vijaya của vương quốc Chăm pa (Chăm, Chàm) cổ.
Hy vọng rằng, trong một tương lai không xa, những cuộc khai quật như ở Khánh Vân sẽ được tiến hành ở phế tích tháp Phú Hòa (không xa về phía nam tháp Khánh Vân), phế tích tháp An Tập (thuộc địa phận huyện Tư Nghĩa, chếch về phía tây Chánh Lộ và có qui mô khá lớn) nhằm phác thảo tương đối rõ nét diện mạo đến tháp Chăm trên đất Quảng Ngãi.
LÊ HồNG KHáNH
(Theo Quảng Ngãi, Ðất nước – Con người – Văn hóa) 
(1) H.Parmentier – Thống kê – khéo tả các di tích Chăm ở Trung bộ Việt Nam – PullE.F.E.O. Paris. Leroux, 1908 – 1918.
(2) J.Boisselier – La Statuaire du Cham pa. Paris 1963. đ

 

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: