Đình Làng Lý Hải

ĐìNH LàNG Và NHà Thờ Tiền Hiền Lý HảI

Di tích này nằm ở thôn Đông xã Lý Hải, phía đông đảo Lý Sơn. Mặt trước nhìn ra phía biển, cảnh quan đẹp và thơ mộng.

Đình làng và nhà thờ được xây dựng vào năm Minh Mạng nguyên niên (1820) do 8 tộc họ tiền hiền là Nguyễn, Dương, Trương, Trần, Võ, Nguyễn Đình, Nguyễn Văn, Lê và dân làng cùng góp công để tạo dựng. Sau họ Lê không còn được tôn là tiền hiền nữa, đình làng và nhà thờ Tiền hiền chỉ thờ 7 vị tiên công, những người có công đầu tiên khai phá mở mang vùng đất xã Lý Hải, gom các thôn: thôn Đông, thôn Tây, Trung Yên, Trung Hòa, Đồng Hộ thành làng mạc trù phú, sầm uất.

dinh_lang_ly_hai1

Đình Làng Lý Hải – Ảnh lê Hồng Khánh

Đình làng và nhà thờ Tiền hiền Lý Hải do những thợ mộc, thợ nề ở Lý Sơn và thợ chạm khắc gỗ thuộc xã Phổ Thuận, huyện Đức Phổ ngày nay thi công. Để xây dựng ngôi đình lớn này, các nhóm thợ thường dăm bảy người tập hợp dưới quyền điều hành của người thợ cả. Lần trùng tu năm Bảo Đại nhất niên – 1926, bản chữ Hán trong đnh (bản A) có ghi cựu Lý trưởng Nguyễn Hưng được giao làm đốc công để trùng tu. Đồng thời làng đã viết tờ bảo trì, cùng đồng ký thỏa thuận, mọi việc thất thoát hư hỏng thì đốc công phải chịu trách nhiệm chiếu theo hương ước, lệ làng. Sau này, công cuộc trùng tu năm Bảo Đại thứ 13 (1938), theo bản chữ Hán ở đình (bản C), làng cũng đã làm giấy tư trí bảo từ cho ông Nguyễn Hào làm đốc công tu sửa, nhằm tăng thêm trọng trách với người trực tiếp làm công tác trùng tu.

Đình làng và nhà thờ Tiền hiền xã Lý Hải đến nay trải qua 4 lần trùng tu: sau 2 lần kể trên, lần 3 vào năm 1943 và lần 4 vào năm 1974, chưa kể lần mới đây.

Hai lần trùng tu vào năm 1926 và năm 1938 chỉ tu bổ và sửa chữa các bộ phận hư hại. Trong các lần trùng tu tiếp theo th lần trùng tu năm 1943 là lớn nhất. Lần này trùng tu và tôn tạo qui mô đình trung và đình hạ, đem lại cho ngôi làng đình làng có dáng vẻ bề thế to lớn như hiện nay.

Đình làng Lý Hải mặt chính điện quay về hướng đông, được kiến trúc theo hình chữ Tam gồm tiền đường, chánh điện và hậu cung mà n gian quen gọi là đình hạ, đình trung và đình thượng. Tất cả các bộ phận kiến trúc này của đình lng Lý Hải đều được bố trí theo trục đông – tây.

a) Đình H (Tiền đường)

Nội thất của đình hạ (tiền đường) gồm 18 cột chia làm 3 gian 2 chái. Cấu kết bộ khung gỗ gồm 4 vì kèo trụ chồng cánh dơi, các kèo xuôi qua các đầu cột đỡ hệ thống đòn tay mái và thượng lương. Điểm tiếp giáp của sự hên kết kèo cột những người thợ thực hiện theo phương pháp, đầu kèo dưới chống lên đuôi kèo trên, cùng xuyên qua rãnh ở đầu cột được giữ cố định do lối ngoạm sít chốt mộng và được đòn tay trên lèn chặt. Các trnh, xuyên (hoành) liên kết nhau qua đầu cột bằng phương pháp xuyên, chốt mộng nhằm để giữ sự cố định chắc chắn của lòng nhà.

Mặt trnh đỡ chống, đế và trụ chồng tạo tác theo mô-típ hình “chày cối” đầu trên choãi cánh dơi. Theo quan niệm tín ngưỡng dân gian, cánh dơi nhằm đỡ hai kèo mái ở hai bên, đồng thời giúp cho đầu trụ chống không đụng vào đỉnh kèo (mặt dưới của thượng lương) để tránh sự xui rủi. Cánhi và đế trụ chồng được chạm những đường cong uốn lượn, đối xứng, cân phân, thanh thoát. Bề mặt của đầu kèo và đuôi kèo được trang trí bàng các đường gờ chồng xếp và các mô-típ dây leo thực vật tạo nên vẻ đẹp riêng và cảm giác nhẹ nhàng của tổng thể công trình.

Các kèo mái hiên, nối tiếp với kèo giữa, xuyên qua đầu cột vách và gác qua đầu cột hiên nhằm đỡ phần mái hiên. Bề mặt của đầu kèo hiên cũng được trang trí mô-típ dây leo hết sức công phu, tỉ mỉ. Phần vách hiên trước của nhà tiền đường được thay thế bằng toàn bộ hệ thống cửa bàn khoa thấp (ở phần chính diện) và hai cửa phụ tả hữu hai bên. Tại phần trên của đỉnh cửa được trang trí 6 mắt cửa. Mắt cửa phần bên trong là chốt tra, phía bên ngoài vách được trang trí mô-típ hoa cúc. Trang trí mắt cửa ở đây thể hiện quan niệm tín ngưỡng về việc xua tan âm khí, trừ tà cầu mong sự bình yên trong cộng đồng.

Hàng cột hiên ở mặt tiền của nhà tiền đường được xây dựng bằng gạch, gồm có 6 cột, mô-típ xây dựng các cột giống nhau theo cặp đôi đối xứng.

Hai cột giữa đắp nổi hình rồng quấn quanh thân cột. Mô-típ rồng đắp nổi theo kiểu “long giáng”, với bờm tóc tua tủa, vờn theo dải mây tung bay ngoạn mục.

Hai cột đối xứng cũng xây bằng gạch, trụ tròn, có khắc hai câu đối. Các câu đối này đã bị mưa nắng xói mòn, không đọc được nội dung.

Hai cột ở đầu hiên chái, kiểu dáng trụ vuông, phần đế cột đặt trên lưng hai con nghê quay đầu vào nhau. Thân cột ghi hàng chữ nho đã mờ nét. Mô thức đôi nghê đỡ trụ đình chầu nhau thể hiện theo cặp âm dương là kiểu mô thức ít thấy xuất hiện trong kiến trúc đình chùa Việt Nam. Đôi nghê được tạo dáng với các mảng khối sinh động. Thân nghê ghép sành sứ, phần đầu nghê mắt, mũi và răng đều lộ tai vểnh, bờm tóc dựng đứng trông rất dữ tợn.

Phần mái của nhà tiền đường lợp ngói đất, đỉnh bờ mái trang trí mặt trời (ở giữa) vậ hai rồng chầu 2 bên theo kiểu lưỡng long triều nhật. Hai đầu của đầu hồi nhà tiền đường đắp nổi mặt long phù. Bờ mái của đầu hồi trang trí rồng phượng kiểu mô-típ long phụng triều quì. Đầu góc bờ mái trang trí cá chép hóa rồng.

Mặt bằng của nhà tiền đường có chiều ngang 9,4m, chiều dài 12,7m, diện tích 119,38m2.

Trong nội thất của nhà tiền đường thờ thập loại cô hồn và là nơi đặt. long đình dùng rước thần và các thuyền đua long, lân, quy, phụng dùng trong ngày hội đua thuyền.

b) Đình trung (chánh điện)

Đình trung liên kết với đình hạ bằng một máng xối dài. Về mặt kết cấu, ở đây là hai nhà tách rời, không có sự liên kết bằng hệ thống kèo như ta thường thấy ở các đình chùa có kiến trúc hình chữ tam khác. Mặt bằng của đình trung (chánh điện) gồm 16 cột làm thành 4 hàng: 2 hàng cột lớn (chính) ở giữa để đỡ bộ vì kèo của khung nhà, hai hàng cột ở hai bên mái có chức năng là cột hiên.

Kết cấu kiến trúc của đình trung chia thành một gian hai chái. Khung gỗ gồm ba bộ vì kèo với kiểu trụ chồng “chày cối đầu choãi cánh i: Cánh dơi và đáy trụ chống được tạo dáng đẹp, cân đối, nhẹ nhàng. Các liên kết trnh, xuyên (hoành), kèo với đầu cột chính đều được người thợ mộc thực hiện theo phương pháp xuyên chốt mộng, tạo thành bộ khung nhà hết sức chắc chắn.

Tại hai đầu hồi của đình trung, hai bên có hai kỳ lân chầu tượng trưng cho sự vững bền. Tại phần đỉnh bờ mái được trang trí theo môtíp lưỡng long triều nhật. Kết cấu phần mái của đình trung có phần khác hơn so với đình hạ. Phần mái trên lợp ngói đất, phần mái dưới vẫn giữ nguyên ngói âm dương.

Phần vách đình trung xây dựng bằng gạch và vôi vữa, ở đầu hàng vách có 2 cửa vòm nhỏ được thiết kế để ra vào.

Nội thất đình trung thờ: Tam hoàng Ngũ đế, Ngũ hàng tiên nương, chúa Ngu Man nương, Tiền hiền, Hậu hiền. Tục thờ Tam hoàng Ngũ đế ngũ vị tiên nương (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) được biện lễ theo kiểu Tàu, tục thờ bà chúa Ngu Man nương mang tính chất phổ biến ở khu vực miền Trung và phần nào đó có liên quan đến lịch sử của đảo Lý Sơn.

c) Đình thượng (Hậu cung)

Đinh thượng liên kết với đnh trung bằng một máng xối. Về kiến trúc thì đình thượng không dùng gỗ mà bằng hợp chất vôi vữa trộn cát mật. Phần vách của đình thượng được trổ 2 cửa hông nhỏ để ra vào.

Phần mái của đình thượng kiến trúc theo mô-típ cắt mái chồng cổ diêm. Mái trên và mái dưới được lợp ngói âm dương. Phần cổ diêm được chia làm 4 mặt, mỗi mặt được trang trí đấp nổi theo nhiều đề tài khác nhau. Mặt phía tây trang trí đề tài mai điểu, mặt phía đồng trang trì đề tài hoa và thú lạ mặt phía bắc trang trí đề tài ngư điểu.

Đỉnh bờ mái của đình thượng được trang trí lưỡng long chầu vào bình hồ lô, bốn góc mái trên trang trí phượng hong, 4 góc mái dưới trang trí rồng, tất cả được đắp nổi.

Nội thất đình thượng thờ Thiên Y A Na.

d) Nhà thờ tiền hiền

Nhà thờ tiền hiền được nối với đình làng bằng nhà cầu nhằm tránh mưa nắng khi qua lại. Nhà có mặt bằng dài 6,5m, rộng 5,4m, diện tích 35,lm2. Mặt bằng có 4 hàng cột với tổng số 12 cột, chia làm một gian 2 chái. Kiến trúc bộ khung nhà tiền hiền với hệ thống kèo, cột, trính, xuyên giống như nhà chánh điện của đình làng: Vách nhà tiền hiền xây gạch và đá chẻ, phần mái của nhà tiền hiền lợp ngói đất, đỉnh mái trang trí lỡng long triều nhật. Nội thất nhà tiền hiền chia làm 3 gian: gian chính giữa thờ tiền hiền, hai bên tả ban, hữu ban thờ hậu hiền. Nội thất nhà thờ tiền hiền trang trí nhiều bức liễn đối cẩn xà cừ gần trên các cột, các bức tranh cẩn xà cừ, hoành phi được gắn trên vách và trong mặt sau bàn thờ.

e) Miếu thờ thành hoàng

Ở về phía bắc của đình làng và nhà thờ tiền hiền, trong khu vực di tích. Đây là ngôi miếu nhỏ, mái lợp ngói âmơng cổ kính, bên trong thờ thành hoàng Trấn quận công Bùi Tá Hán đời Lê và Nguyễn Tú tài thời Nguyễn.

f) Nghĩa từ

Ở về phía nam của đình làng và nhà thờ tiền hiền. Nghĩa từ được xây dựng với nhiều am thờ, kiến trúc nhỏ nhưng đẹp, là nơi thờ tự thập loại cô hồn, được cúng tế vào tiết thanh minh. Ở Quảng Ngãi làng nào cũng có nghĩa từ, song nghĩa từ của Lý Hải được bố trí trong không gian chung của kiến trúc đình làng tạo nên sự phong phú hòa hợp về cảnh quan.

ĐOÀN NGỌC KHÔI

 

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: