THÀNH QUẢNG NGÃI

Thành Quảng Ngãi được xây dựng tại xã Phú Nhơn, phía bắc cầu Trà Khúc thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương (1749). Ðến niên hiệu Gia Long (1802) thành Quảng Ngãi được dời vào xã Phú Ðăng huyện Chương Nghĩa (gần huyện lỵ Tư Nghĩa ngày nay). Cả hai di tích thành cổ trên không còn nữa.

nga-tu-chinh

Ngã tư chính thị xã Quảng Ngãi – Ảnh Trần Trọng Uyên, 1/2000

Ðến đời Gia Long năm thứ 6 (1807) thành Quảng Ngãi lại được dời ra xã Chánh Mông lúc đó cũng thuộc huyện Chương Nghĩa (sau này đến đời Ðồng Khánh (1885 – 1889) xã Chánh Mông được đổí thành xã Chánh Lộ), hiện nay thuộc phần đất của hai phường Nguyễn Nghiêm và Trần Hưng Ðạo, thị xã Quảng Ngãi.

Thành được xây xong năm 1815 sau 8 năm khởi công do kiến trúc sư De Puymanel và Théodore Le Brun thiết kế theo kiểu thành Vauban.

Thành có hình đa giác chu vi đo được 500 trượng 2 thước (2000m, 8 tấc) cao 1 trượng (4m), chung quanh có hào rộng 20m, có nước sông Trà theo mương dẫn vào.

Thành được xây bằng đá ong, dày 1,6m, bên trong đổ đất ngang mặt thành để xe, ngựa có thể di chuyển quanh mặt thành.

Ban đầu, theo thiết kế có 4 cửa: đông, tây, nam, bắc. Về sau, lấp cửa nam chỉ còn 3 cửa.

Phía tây, trước cửa thành có bắc một chiếc cầu qua hào. Trong thành có một vọng lâu để quan sát người và vật từ xa. Cửa thành làm bằng gỗ lim, ban đêm được đóng kín, chỉ mở đủ một người đi qua nếu cần thiết.

Trong thành chỉ có quan lại, thông ngôn, ky lục, binh lính và gia đình của họ ở.

Nội thành được phân bố qua 2 giai đoạn khác nhau:

Năm 1885, hành cung ở phía nam thành, mặt quay về hướng bắc. Phía trên hành cung là trường Ðốc, phía dưới hành cung có trại lính. Cách con đường từ tây sang đông, phần đất phía bắc có dinh án sát, bố chính, đốc học. Bên trái là dinh lãnh binh, trại lính giản và thái y viện.

1885 – 1945, hành cung để nguyên, các dinh sở đổi tên, một số vị thế bị chuyển dịch theo ý Pháp để tiện việc điều hành công vụ.

Bên kia đường, nơi trước đặt thái y viện đổi thành nhà thương (bệnh viện), dinh án sát không thay đổi, dinh bố chính gọi là dinh tuần vũ. Dinh lãnh binh được dời sang cạnh dinh đốc học. Sát đường, nghiêng về phía đông, điền vào chỗ lãnh binh cũ là sở lục lộ. Ði tiếp về đông có bưu điện, kho lương, trường tiểu học Pháp – Việt.

buu-dien-3

Bưu điện Quảng Ngãi – Ảnh Trần Trọng Uyên, 1/2000

Theo Quảng Ngãi tỉnh chí (1933), con đường từ cửa tây thẳng tới cửa đông chia làm 2 dãy đất : Dãy nam, giữa có hành cung, phía dưới có tòa công sứ làm trên đất cao, có vườn hoa rộng, cây cỏ đẹp, phía trên có trường tiểu học Pháp – Việt. Xa chút nữa là xưởng lục lộ, sau xưởng có nhà máy điện thắp sáng cho thành phố đến 11 giờ khuya. Sau này nhà máy được dời ra ngoài thành, phía tây bắc gọi là gốc gáo. Trên nữa là đồn lính khố xanh với hai chữ “Garde indigène” trước đồn.

Dãy phía bắc ngang hành cung là dinh quan lãnh binh (về sau, nơi này là dinh tuần vũ) phía trên là bưu điện rồi đến dinh án sát.

Trên đường ra cừa Bắc có kho lương dài 150m rộng 4m (năm 1933 có trường nữ tiểu học). Bệnh viện nằm ở góc đông bắc, nhà lao ở góc thành phía tây gần sở kiểm lâm.

Trong thành có đào nhiều giếng. Công sở đều ở trong thành, chỉ có phòng căn cước và nông phố ngân hàng bên ngoài.

Thành Quảng Ngãi bị phá huỷ năm 1947 trong cuộc chiến tranh kháng Pháp. Hiện nay chỉ còn lại mô đất cao, dấu tích bờ phía nam sát trường tập (tên gọi của sân vận động Quảng Ngăi thời pháp thuộc).

(Theo Quảng Ngãi, Ðất nước – Con người – Văn hóa) 

 

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: