Văn Hóa Sa Huỳnh

Bắt đầu từ phát hiện của M. Vinet năm 1909 về khu di tích mộ chum bên bờ đầm An Khê ở Sa Huỳnh, những bí ẩn trong lòng đất Quảng Ngãi dần dần xuất lộ. Một thế kỷ nhìn lại, phải thừa nhận công lao của các nhà khảo cổ người Pháp trong việc xác lập khái niệm Văn hóa Sa Huỳnh (còn gọi là Sa Huỳnh cổ điển) do M. Colani đưa ra trong hội nghị Tiền sử học Thái Bình Dương tổ chức ở Manila Philippines) vào cuối năm 1937, nhằm để chỉ dạng mộ chum cùng hiện vật khác ở thời đại sắt được phát hiện, khai quật ở Qung Ngãi, Quảng Bình và vùng đông Nam bộ. Tên của nền văn hóa kiểu táng thức mộ chum được lấy từ tên Sa Huỳnh – một làng nhỏ cực nam Quảng Ngãi – nơi phát hiện đầu tiên.

 monoilyson

Tuy nhiên người Pháp cũng chỉ dừng lại ở đó. Những tri thức Văn bia Sa Huỳnh được tích lũy khá chậm chạp. Hầu như trong thời kỳ này các di tích tiền sử Quảng Ngãi đóng vai trò cốt lõi trong nghiên cứu của các học giả người Pháp. Qua thống kê trong niên giám của trường Viễn Đông Bác Cổ (B.E.F.E.O) cũng có thể thấy rằng các nhà khảo cổ học người Pháp khai quật rất nhiều mộ chum Sa Huỳnh: M. Vinet phát hiện 200 chum, bà La Barre đào khoảng 300 chum, bà M. Colani đào khoảng 187 chum. Như thế cũng có thể nhận thấy rằng khu mộ chum ở Sa Huỳnh có số lượng lớn chum táng, trong có chứa nhiều đồ tùy táng như: đồ đựng bằng gốm, công cụ sản xuất bằng đá và bằng sắt, đồ trang sức bằng thủy tinh, bằng đá ngọc néfrit, mã não, agat, jeđeit. Niên đại của Văn hóa Sa Huỳnh mà các nhà khảo cổ người Pháp khai quật nhìn chung ở vào giai đoạn sắt sớm (khoảng một, hai thế kỷ trước công nguyên), được gọi chung là Sa Huỳnh cổ điển.

Từ năm 1975 đến nay, tốc độ nghiên cứu và tích lũy tri thức về Văn hóa Sa Huỳnh được thúc đẩy nhanh bằng những phát hiện khai quật và nghiên cứu hàng loạt các di tích Văn hóa Sa Huỳnh khắp các tỉnh miền Trung Việt Nam.

Khởi đầu là cuộc thám sát, khai quật của các nhà khảo cổ Việt Nam tại Long Thạnh (Sa Huỳnh) và Bình Châu vào năm 1977- 1978 thu được số lượng lớn mộ chum cùng hàng loạt các di vật tùy táng bằng gốm, đá và đồ thủy tinh. Hầu hết những sưu tập có giá trị đẹp về kiểu dáng, phong phú và đa dạng về loại hình. Mẩu than tìm thấy trong tầng cư trú di tích Long Thạnh qua phương pháp phóng xạ C14 đã cho niên đại 3.370 +40 năm cách nay. Đây là niên đại sớm của di tích tiền Sa Huỳnh, có một ý nghĩa rất quan trọng trong việc khẳng định tính bản địa của Văn hóa Sa Huỳnh. Có nghĩa là Văn hóa Sa Huỳnh được thành tạo ngay trên dải đất miền Trung Việt Nam từ các nguồn hợp văn hóa thời đại đá mới như: Văn hóa Bàu Tr với kiểu dạng bốn “răng trâu cùng phong cách tô chì sống và văn hóa mộ chum Tây Nguyên, văn hóa Biển Hồ với các điểm như Trà Dôm, Biển Hồ, Lung Leng.

Từ năm 1996, văn hóa Sa Huỳnh lần đầu tiên được phát hiện trên đảo Lý Sơn, mở đầu bằng cuộc khai quật ở Xóm Ốc, Suối Chình (đảo Lý Sơn), thu được hàng loạt các di vật gốm, công cụ đá vỏ ốc trang sức bằng thủy tinh, vỏ nhuyễn thể. Sự phát hiện khai quật các di tích Văn hóa Sa Huỳnh trên đảo Lý Sơn đã mở ra hướng nghiên cứu tính chất biển và hải đảo của Văn hóa Sa Huỳnh.

Hầu như các nhà nghiên cứu khảo cổ học đều thống nhất rằng các di tích tiền Sa Huỳnh ở khu vực miền Trung Việt Nam đã tiếp thu kỹ thuật chế tác rìu, và phong cách tô chì sống, con lăn… của dòng chảy văn hóa đá mới như Bầu Tró, Hoa Lộc. Giáo sư Hà Văn Tấn cho rằng Văn hóa Bầu Tr là nguồn động lực phát triển của các di tích tiền Sa Huỳnh. Bên cạnh đó, dòng chảy văn hóa mộ chum Tây Nguyên tràn xuống vùng đồng bằng duyên hải, các nhà nghiên cứu cho rằng các di tích tiền Sa Huỳnh đã có sự tiếp thu và có sự dội ngược lại (Nguyễn Khắc Sử, 1995).

Qua cuộc hội thảo khoa học kỷ niệm 90 năm Văn hóa Sa Huỳnh (1909- 1999) các nhà nghiên cứu khảo cổ học Việt Nam đều cho rằng trung tâm chính của văn hóa tiền Sa Huỳnh – Sa Huỳnh là khu vực 2 tỉnh Quảng Ngãi và Quảng Nam với hệ thống các di tích Long Thạnh, Bình Châu, Bầu Trám, Xóm Ốc, Bãi Ông (sơ kỳ đồng thau) đến các di tích Phú Khương, Suối Chình, Tiên Phước, Tam Mỹ, Hậu Xá… (sơ kỳ sắt).

Trong sự tồn tại và phát triển Văn hóa Sa Huỳnh đã có sự giao lưu với các văn hóa đồng đại khác nhau trong khu vực chẳng hạn đồ đồng thau của văn hóa Đông Sơn được tìm thấy trong các di tích Văn hóa Sa Huỳnh như các vũ khí bằng đồng của Văn Hóa Đông Sơn tìm thấy ở Gò Mả Vôi hoặc Bình Châu tìm thấy rìu đồng Đông Sơn, hay ở vùng sông Trà Khúc tìm thấy trống đồng Héger I, ở Bầu Lát cạnh địa điểm Núi Sứa (di tích Văn hóa Sa Huỳnh)…. Đồng thời các nhà khảo cổ học tìm thấy khuyên tai hai đầu thú Văn hóa Sa Huỳnh ở Bản Chiếng, mộ chum ở Non-nok Tha (Thái Lan), đồ gốm Sa Huỳnh ở Kalanay (Philippines).

Như vậy, diện mạo của văn hóa tiền Sa Huỳnh – Sa Huỳnh ở Quảng Ngãi nói riêng và trong khu vực miền Trung nói chung, đã được các nhà khảo cổ học Việt Nam nghiên cứu và phát dựng tương đối hoàn chỉnh với các phổ hệ văn hóa, những giai đoạn, những con đường phát triển để thành tạo nên các trung tâm văn minh Sa Huỳnh sắt.

 Về phương diện địa-lịch sử (Géo-history) thì khảo cổ học Quảng Ngãi trong hai thập niên nghiên cứu đã xây dựng được phác đồ không gian của các di tích khảo cổ học trong thời đại kim khí Quảng Ngãi diễn tiến từ núi à đồng bằng duyên hải à hải đảo như sau:

Vùng Trung du miền núi: các điểm di tích: Gò Nà, Gò Quánh, Trà  Xuân. 

Vùng Đồng bằng Duyên Hải: Long Thạnh, Phú Khương, Bình Châu.

Vùng hải đảo Xóm ốc, Suối Chinh (đảo Lý Sơn) 

Các di tích khảo cổ ở vùng trung du miền núi có dấu hiệu sớm hơn, có thể ở cuối hầu kỳ đá mới – sơ kỳ kim khí, chẳng hạn như Gò Nà tìm thấy rìu có vai cùng các loại cuốc đá có bản lưỡi to, rộng. Hầu hết các điểm di tích này đều có dấu hiệu mộ chum với vỏ chum mỏng, in văn thừng thô và một số mảnh gốm có văn in răng sò.

Các di tích tiền Sa Huỳnh – Sa Huỳnh vùng đồng bằng duyên hải phát triển kéo đài từ sơ kỳ đồng thau (Long Thạnh) đến sơ kỳ sắt sớm (Phú Khương) đã có sự tụ cư đông đảo lâu dài biểu hiện qua tầng cư trú dày, khu mộ táng số lượng chum rất nhiều. Về cơ bản điểm khai quật Long Thạnh đã tìm thấy bộ su tập có giá trị như bộ sưu tập kiểu bình lọ hoa gốm, sưa tập về đồ trang sức gắn đá ngọc néphrit, sưu tập về công cụ cuốc đá “lưỡi mèo”, bốn “răng trâu. Điểm khai quật Bình Châu cho thấy cư dân Sa Huỳnh có một kỹ nghệ đúc đồng phát triển thông qua các hiện vật như nồi nấu đồng, khuôn đúc đồng, xi đồng. Đồ gốm Bình Châu rất đặc trưng với phong cách tô đỏ và tô chì trên các loại bát bồng có chân đế, nồi gốm có chân và không có chân.

Điểm khai quật Xóm ốc có bộ sưu tập công cụ và đồ dùng trang sức bằng vỏ nhuyễn thể rất phong phú phản ánh tính chất biển và hải đảo của Văn hóa Sa Huỳnh. Tại địa điểm Xóm Ốc, các loại đồ đựng bằng gốm và công cụ mang đậm phong cách Bình Châu, khuyên tai thủy tinh ba mấu nhọn mang đậm tính chất Sa Huỳnh cổ điển.

Trong bài viết này chúng tôi chỉ đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất về Văn hóa Sa Huỳnh nói chung và các điểm di tích Văn hóa Sa Huỳnh ở Quảng Ngãi nói riêng.

Bạn đọc muốn hiểu rõ hơn hãy tìm đến Bảo tàng tỉnh hoặc thăm các khu di tích ngoài trời ở đồi cát ven đầm An Khê thơ mộng hay đồi cát Bình Châu lộng gió hoặc đảo Lý Sơn xinh đẹp sẽ hiểu rõ hơn cảnh quan sinh sống của người tiền sử.

Đoàn Ngọc KHôi

(Theo Quảng Ngãi, Ðất nước – Con người – Văn hóa) 

 

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: