LÀNG DIÊN NIÊN

HƯƠNG  ƯỚC  LÀNG  DIÊN  NIÊN  (*)

PHỦ  SƠN  TỊNH

 

TIẾT THỨ 1: TOẠ THỨ

 

Tọa thứ tại nhà hội, chiếu tùy cổ tục hương ẫm phân toạ như sau:

 

MỤC I: GIAN GIỮA

 

Khoản 1:  Người nào phái khoa, tân cựu học tú tài, cử nhân trở lên và ấn quan thì ngồi riêng gian giữa trước tất cả văn võ viên chức.

 

Khoản 2:  Văn võ viên chức, tân cựu học tú tài, cử nhân, cao đẳng tiểu học, giám thủ, thích lý, giám tự, tuỳ theo phẩm thứ (tả văn hữu võ) ngồi gian giữa, ghế thứ.

 

MỤC II:  GIAN BÊN TẢ

 

Khoản 3:  Người nào đậu sơ học và lý hương đương thứ, ngồi gian bên tả.

 

MỤC III:  GIAN BÊN HỮU

 

Khoản 4: Biền binh và cựu hương chức ngồi gian bên hữu.

 

Khoản 5:  Bốn khoản toạ thứ kể trên đều đã định lệ rồi, song trừ khoản 1 ngoại viên nhân nào hoặc vì tôn thuộc, sư đệ hay niên xỉ mà công nhiên tương nhượng để sự đôn luân càng tốt.

 

MỤC IV:  NHÀ HỘI TRANH

 

Khoản 6:  Nhà hội tranh có ba gian, lão nhiêu, phó xã đoàn, dịch mục, đoàn thập, thập trưởng, ngòi gian giữa, tráng dân gian tả còn thuỷ nhập và dân ngụ gian hữu đều tùu tuổi phân trên dưới.

 

TIẾT THỨ 2:  TẾ  TỰ

 

MỤC I: TẾT NGUYÊN ĐÁN

 

Khoản 7:  Mỗi năm đến Tết nguyên đán thì trước một ngày, ngày chung trứ, lý hương sức dân đem cờ trống, trần thiết tại đình và nha thờ tiền hiền Phan Quang tôn thần. Ngày Nguyên đán viên chức chủ bái, lý hương tề tập đến hai sở (kể trên) bái lễ. Đồ trần thức thủ đình giữ, hương kiểm và xã đoàn sức dân tuần phòng. Hết ba ngày Tết dọn cất. Lễ dùng hương, đèn, trầm trà, trầu, cau, rượu trích tiền tế điền một đồng (1$00).

 

MỤC II:  MỞ MÕ

 

Khoản 8:  Thượng tuần tháng giêng có lể mở mõ, giao lý hương chọn ngày tốt hành lễ. Lễ dùng trầu, cau, rượu, trích tiền công dụng ba giác (0$30).

 

MỤC III:  SẮC THẦN

 

Khoản 9:  Sắc thần rất hệ trọng, hiện nay tại đình cửa nẽo không được chắc chắn để thờ có bất tiện, đồng ứng đem thờ tại nhà thờ tiền hiền Phan Quan tôn thần. Mỗi năm hai kỳ, chủ bái, lý hương tề tập đến coi phơi và niêm lại để thờ.

 

MỤC IV:  TẾ XUÂN KỲ AN

 

Khoản 10:  Rằm tháng hai tại đình có lễ tế xuân, tự lai thường thường thì chủ bái là tiên chỉ hay thứ chỉ, còn bồi bái thì Phan Quang tôn thần tự trưởng. Mùng một viên chức, chủ bái và lý hương tề tập lựa thừa hành dự tế: 4 phân hiên, 1 đánh chiêng, 1 đánh trống, 3 thị lập trong tẩm, 2 thị lập ngoài tiền đường, 4 lễ sinh, 8 nhạc công, 40 dân rước sắc (Diên Hoà 20, Diên Bình 12, Diên Lộc 8). Lựa xong người nào chuyên việc gì phải kê yếu tại nhà hội cho biết. Ngày 14 trần thiết tại đình, đến ngày rằm các sắc viên nhân (lễ phục hay thanh phục) sức dân đem cờ trống, tàn, lọng, long đình, y liệp và lễ nhạc, tề chỉnh, đến nhà thờ tiền hiền Phan Quang tôn thần rước sắc về đình phụng tế. Tế dùng hương đèn, trầm, trà, trầu, cau, rượu, quả phẩm, trích tiền tế điền năm đồng (5$00).

 

Khoản 11:  Tế tất phải nghiêm, khi tế ai lo phần ấy, xã đoàn và hương kiểm ở ngoài đàn áp không ai được vào, duy có một người lý hương đứng hầu kiểm nghi. Lễ thành đưa sắc thần trở lại nhà thờ thần tiền hiền an phụng. Rồi về nhà hội dùng cơm trưa, trích lúa tuần đinh hai mươi lăm ang (25 ang)

 

MỤC V:  NGÀY UÝ THẦN TIỀN HIỀN

 

Khoản 12:  Rằm tháng ba họ Phan Quang tu tảo mộ Thần tiền hiền và tế xuân tại tôn thần từ. Làng sức dân đến tảo mộ, đem cờ, trống, chiêng, lọng đến trần thiết và trợ hành. Làng đến dự tế để đáp công đức lớn đối với làng. Lễ dùng một mâm trầu, cau, rượu, trích tiền tế điền năm giác (0$50).

 

Khoản 13:  Ngày mồng một tháng năm là ngày kỵ thần tiền hiền, lý hương sức dân đem cờ đến trần thiết, tại tôn thần từ, chủ bái, viên chức và lý hương đến hành lễ. Lễ dùng hương, đèn, trầm, trà và quã phẩm, trầu cau, rượu, trích tiền tế điền một đồng rưỡi (1$50)

 

Khoản 14:  Ngày hai mươi tám tháng mười có kỵ chánh thất thần tiền hiền tại tôn thần từ. Lý hương đến hầu lễ. Lễ dùng một mâm trầu, cau, rượu, trích tiền tế điền năm giác.

 

MỤC VI:  LỄ HƯNG QUỐC KHÁNH NIỆM

 

Khoản  15:  Mùng hai tháng năm cung ngô hưng quốc khánh niệm, viên kỳ,hương chức tề tập tại đình, trần thiết, long trọng treo cờ, đốt pháo, bái hạ khánh lễ. Lễ trích tiền tế điền một dồng (1$00), lúa tuần đinh năm ang (5 ang).

 

MỤC VII:  LỄ  LỆ

 

Khoản 16:  Ngày hai mươi lăm tháng chạp tại đình có lễ lệ kỵ đông điền, hoa lợi, chạp đình, chạp mộ thần và thượng tiêu. Sáng sớm viên chức chủ bái và lý hương tề tập tại đình, trần thiết và sức dân, đến tu tảo mộ thân tiền hiền Phan Quang tôn thần cho quang phiết rồi về đình hành lễ. Lễ dùng trầu, cau, rượu, hương, đèn, trầm, trà trích tiền tế điền hai đồng rưỡi(2$50) lúa tuần đinh mười ang (10ang). Họ Phan Quang lại niệm tổ đức đem một con heo và một cỗ xôi đến phụ tế. Lễ này chủ bái vái cúng.

 

MỤC VIII:  HẦU KỴ NHỮNG NGƯỜI CÓ CÔNG

 

Khoản 17:  Trong làng viên nhân nào quá cố mà có công đức với làng, mỗi khi gặp ngày úy, nếu người chủ tự có mời, thì một người lý hương đến. Lễ dùng một mâm trầu, cau, rượu, trích tiền công dụng ba giác ( 0$30)

 

TIẾT THỨ 3:  KHÁNH ĐIẾU  –  KHAO VỌNG  –  HÔN LỄ

 

MỤC 1:  KHÁNH HẠ

 

Khoản 18:  Người nào thi đậu tân học, tú tài cử nhân (trở lên) hay văn võ viên chức được thăng thưởng thì làng tề tập sức dân đem cờ, trống long đình, tàn lọng và y liệp đi rước rất long trọng, về đình yết thần. Làng dùng một mâm trầu cau, rượu và đốt pháo để mừng, trích tiền công dụng một đồng năm giác (1$50).

 

Khoản 19:  Đậu cao đẳng tiểu học thì chĩ đi mừng thôi thăng thưởng và đăng khoa:  một câu liễn giá một đồng rưỡi (1$50), Cao đẳng tiểu học một câu liễn một đồng (1$00), còn phát khoa thì đặt cách rước mừng ngoại.

 

Khoản 20:  Người nào lâm thời mông tứ biển ngạch, thọ quan, thọ dân, tứ đại đồng đường, tiết phu, nghĩa phụ, hiếu tử, thuận tôn, thì sẽ định rước mừng còn các xã thôn có khánh, hỷ đến mời sẽ tề tập định hành.

 

MUC  II:  TANG LỄ

 

Khoản 21:  Viên nhân nào thệ thế (trừ cấp chứng ngoại), quan chức hạn một ngày đến một tháng, thứ dân một ngày đến một tuần tống táng. Diên tế và lễ phẩm cần phải kiệm ước, không được xa xí. Chí như hàng họ thân bằng đến điếu tang, người gần thì tang chủ dùng trầu, nước, còn xa thì cơm thường khoãn đãi (không được thết rươu) để được tỉnh tiết.

 

Khoản 22:  Viên nhân nào quá cố thì chiếu theo nhơn phẩm mà đi điếu (dùng tiền) và tống táng (dùng cờ trống) vản lại cốt hiệp tình lễ. Người nào có công đặc sắc, sẽ tề tập tống táng riêng. Người xuất ngụ tùy tục làng ngụ. Còn đối với người tha xã mà làng niệm tình tống điếu thì tề tập sẽ định.

 

MỤC III:  KHAO VỌNG

 

Khoản 23:  Phàm như nhương tai kỳ phước, lễ tế, thiết trai, hoàn nguyện, lạc thành, tuỗi tôi, mừng nhà mới, ăn cưới, thì được tuỳ tiện tham kiên chước cổ cho hiệp thời nghi chớ không nên quá xa xỉ thành tệ chí như đồng bóng, phù phép, thiết đàn làm nộm, vọng tín hư phí nhứt thiết cấm chỉ.

 

MỤC IV:  HÔN LỄ

 

Khoãn 24:  Việc hôn thú thì tùy gia phong kiệm, nhà gái không được yêu sách, tự phàm hai họ kết hôn, hạn một tháng đến sáu tháng thành hôn (trừ có duyên cớ ngoại). Nhà nghèo thì tiền sính ngân không quá hai đồng (2$00) một đôi hoa tai, bốn người họ, nhà hữu sản thì tiến sính ngân bốn đồng (4$00) một đôi hoa tai va sáu ngươi họ. Phải có trầu cau rượu, đủ lễ, còn nhà phú quí thì tuân theo nghi định năm Khải Định thứ tư mà làm chớ không được xa xí. Tiên gia lang thì một hạng sáu tiền, một hạng một quan hai tiền, người xã khác gấp đôi, nạp tại hương bộ (trừ mua trích lục ngoại). Hương bộ thâu nhận đến nguyệt để tính giao lý trưởng, trước vào thâu sách và chuyển giao hương bổ nhận thủ. Cưới vợ làng khác thì tùy tục lệ làng ấy.

 

TIẾT THỨ TƯ:  KIỀM PHÒNG

 

MỤC I: ĐỘNG TỊNH

 

Khoản 25:  Kiềm phòng động tịnh là phận sự trước nhất của chánh phó xã đoàn mà nhân dân cũng có một phần trách. Nều ngộ có sự động phi thường thì đương thứ lý hương phải hiệp với chánh phó xã đoàn sức dân hết sức kiềm phòng, bắt cho được giải trình, nếu hư ứng trách phạt.

 

MỤC II:  ĐẠO KIẾP

 

Khoản 26:  Muốn trừ trộm cướp tất trước phải kiềm phòng, mà kiềm phòng trộm cướp là nghĩa vụ của hương kiểm. Vậy phải sức dân thời thường tuần trấp, trinh thám. Như có ai mưu trộm cướp thì hiệp với lý hương một mặt sức dân vây bắt, một mặt báo trình, nếu dung túng cẩu liểu, hương kiểm và dân canh phải bị phạt.

 

Khoản 27:  Quần tam tụ ngũ, hát hò, hát hố (trừ hát dã nền nhà) dạo ngoài đường la giỡn, hý cuộc, đánh bạc, tìm cách trai gái cướp trộm thì đều cấm. Nếu có xảy ra lý hương và chánh phó xã đoàn bắt đến hội sở, nhẹ nghiêm trách, nặng giải trình. Người hoa gia cùng bọn ấy đồng tội. Còn huynh trưởng ngày thường không cấm giới cũng không khỏi lỗi.

 

MỤC III:  CANH TUẦN

 

Khoản 28:  Việc canh tuần tự lai đã lựa mấy chỗ yếu xứ và giới thủ thiết lập vọng canh, mỗi đêm canh mỗi vòng bốn người.

a)     Xóm Diêm Hoà một vọng canh ở địa giới tiếp giáp bộ Lộc Thọ.

b)     Xóm Diên Bình một vọng canh ở địa giới tiếp cận bộ Vĩnh Lộc và Xuân Hoà và một vọng canh ở địa giới tiếp cận bộ Vạn Lộc.

c)      Xóm Diên Lộc một vọng canh ở giữa làng gần cầu, hễ đến tối bắt cầu là ai đi qua thời dân canh phải hỏi, nếu có đưa thân thuế chỉ ra coi và quả là người lương thiện để đi. Bằng không biết tên họ, tình nghi hoặc đi xe không đèn, không thẻ thuế xe, không thẻ căn cước xe, thì phải triệt giữ lại chòi canh, đánh mõ báo lý trưởng giải trình. Nếu khoán phế canh tuần hay dung túng gian nhân đi ăn trộm bò, trâu hay tài sản của người, thì đêm ấy về phiên những người nào canh tuần, những người ấy chịu trách nhiệm, mà người quản suất là hương kiểm xã đoàn cũng không từ lỗi được. Còn như người nào bị tình nghi hay án quản thúc, bất thời lý hương đến nhà kiểm điểm, không có sẽ trách phạt, bị phạt ba lần giải trình.

 

MỤC  IV:  CANH PHÒNG HOA LỢI

 

Khoản 29:  Hoa lợi ngoài đồng như: lúa, mía, khoai, mì đậu v.v… phải đặt tuần đinh canh giữ, người nào cắt trộm, hái trộm hay thả trâu. bò, heo, dê, ngỗng v.v… phá hại hoa lợi, tuần đinh bắt được phải chiếu số bồi thường. Nếu tuần đinh phóng phế để người khác bắt được tường lý hương, thì tuần đinh bị bồi thường và phải phạt. Đến mùa thu hoạch ba lợi, thì cứ một trăm ang, tuần đinh thâu hai ang. Việc tuần đinh tự lai đã có ba xóm thuê đặng mùa thì đồng niên ba trăm ang (xóm Xuân Hoà một trăm năm chục ang, xóm Diên Bình chín chục ang; Diên Lộc sáu chục ang) mất mùa thì hai trăm ang (Diên Hoà một trăm ang, Diên Bình sáu chục ang, Diên Lộc bốn chục ang). Lúa thâu trữ tại hương bồn (có tờ nhận) và lý trưởng phải chép vào sổ thâu để dùng việc làng.

 

Khoản 30:  Nhà nào bị mất trộm vặt như gà, vịt, ngỗng, heo, dừa, mít, hành, tỏi, cau tiêu, thơm v.v… Tài chủ bắt được báo hương kiểm, hương kiểm đến khám quả thì bắt đứa kẻ trộm bồi thường và bắt phạt. Nếu tài chủ không bắt được, song có bàn cận chứng cứ, đến tường, thì hương kiểm ghi vào sổ tay, chờ lúc bắt được, hay phác giác ra, thì từ ấy về trước, ai bị mất gì đều kê ra tính bầt thường; hương kiểm trước tên vào sổ tình nghi thiết đạo và phạt nữa […]

 

Khoản 31:  Ai thấy được tài vật hoặc điền khí người khác bỏ quên hay đánh rơi thì hô hoán, hay nhặt đem giao lý trưởng, lý trưởng thông cáo khắp trong làng, ai mất đến nhìn nhận, song phải có đủ tài liệu, dấu tích chứng tỏ là của mình mới được nhận. Nếu thấy được mà giữ làm của riêng, giác xuất sẽ bọ nghiêm phạt. Như không ai nhận lý trưởng phải trình quan để thông sức cho biết đến nhận.

 

Khoản 32:  Mỗi năm khi đồng niên hoa lợi thu hoạch rồi thì từ tháng chín đến tháng chạp, điền hộ làm giấy giao kèo với nghiệp hội cho chủ vịt, giấy phải nói rõ cho vịt ăn tại đám ruộng số hiệu gì, tiền thuê là bao nhiêu (tiền thuê trả trước) có lý trưởng chứng nhận áp triện. Giao kết xong tin tuần đinh biết mới được thả vịt. Song đám ruộng nào đã cấy hoặc gieo mạ thì dù có làm giấy thuê rồi cũng không được viện hạng ấy mà thả. Còn số tiền thuê thì chia ba: điền hộ hai phần, làng một phần, lý hương nhận, ghi vào sổ thâu để sung công dụng.

 

TIẾT THỨ 5:  CÔNG ÍCH CÔNG LỢI

 

MỤC I:  VỆ SINH CÔNG CỘNG

 

Khoản 33:Ai có giếng phài giữ gìn sạch sẽ, thành giếng phải xây đá hay làm khung tre. Cấm không được tấm giặt, phóng uế bốn phía giếng và trẻ con không dược đến gần giếng rất nguy hiểm. Còn nước các suối khe, thì cấm từ tháng giêng đến tháng tám, không ai được thả vịt và tất cả làm đục nước bò trâu uống sinh bệnh.

 

Khoản 34:  Đường đi trong làng cần phải dẩy cỏ, các nhà ở gần phải thường dọn quét đường cho sạch. Cấm không được bỏ cỏ mục, phóng uế vật và thả heo ủi trên đường. Hai bên đường phải đào mương cho nước khỏi đọng sinh muỗi.

 

Khoản 35:  các súc vật chết trôi hay cỏ mục, đụn lại nơi các cầu, cống, suối, hói, làm cho nước phiên ngưng thì điền hộ gần đó phải lấy cây dọn đi cho khỏi ô uế sinh bịnh.

 

Khoản 36:  Người nào đau các chứng thiên thời, thổ tả v.v…phải báo ngay nhà thương điều trị, nếu chẳng may chết thì báo hương bộ đến khám, cho phép trong 24 giờ chôn ngay, chôn theo phép vệ sinh.

 

Còn nhà nào có súc vật chết, thì nhứt thiết không được xẻ thịt chia phần và cấm bỏ dòng nước, phải lựa chổ cao ráo xa nước, đào chôn cho sâu và bỏ vôi phòng khỏi truyền nhiễm.

 

Khoản 37:  Bất kỳ người nào bán thịt thú vật có bịnh như heo gạo v.v… Thấy được bắt giữ, báo lý hương khám quả sức chôn thịt và đuổi không cho bán nữa. Còn người nào mua lầm mà không chịu chôn hay tri tình mà không báo lý hương sẽ bị phạt.

 

Khoản 38:  Những điều vệ sinh công cộng thường thức nói trên, rất cần yếu cho sinh mạng dân làng, vậy lý hương phải nên châu hành kiểm soát, ai tuân làm hiệp thức được thưởng, ai trái sẽ phạt.

 

MỤC II:  TU TRÚC ĐƯỜNG SÁ, CẦU CỐNG.

 

Khoản 39:  Đường sá cầu cống, như có khuy khuyết, hương mục phải sức dân tư  ích tu trúc cho được bình thẳng. Điền hộ nào muốn cho mương nước ngang qua đường, phảl làm cống xây gạch hay bắt ống tre, trên mặt đắp bình thẳng như củ. Còn đường trong xóm thì mỗi năm hai kỳ thượng tuần tháng giêng và thượng tuần tháng bảy, các xóm phải sức dân (bất cầu chánh ngụ) đồng công tu trúc cho được tử tế.

 

MỤC III:  VỆ NÔNG.

 

Khoản 40:  Cấm các nhà làm ruộng không được lấn bờ ruộng, ăn cắp điền khí, phóng súc sản, phá điền hoà, lẻ bò trên bờ ruộng, tháo trộm nước ruộng của người để tưới ruộng mình, đơm cá, thả lờ và lội bắt cá cạn trong ruộng, bất cầu ruộng ai, người nào phạm các điều kể trên, điền chủ hay tuần đinh bắt được, báo lý trưởng tổn hại ít bắt bồi và phải phạt, nhiều trình quan nghĩ trị.

 

Khoản 41:  Đến mùa lúa chín như ngập lụt, thì lý hương phải gia tâm sức thu hoạch, ruộng sâu trước, ruộng cao sau, và cấm thợ gặt không được yêu sách, tìm ruộng cao, bỏ ruộng ngập, thành ra hư tổn hoa lợi của người.

 

Còn người mót muốm mót phải chờ gặt xong đám ruộng thợ gặt lên bờ, mới được xuống  mót, đương gặp nửa đám hay gần hết, cấm không được ào xuống hỗn loạn, với thợ gặt, thành níu kéo nhiễu hại nhà nông. Như có ngưới nào không tuân hương ước, ào xuống gây ra nằm vạ đánh lộn ồn ào, giải trình nghiêm phạt.

 

Khoản 42:  Hạn từ rằm tháng mười trở lên, phải triệt khử các sa sịa, không được ngăn nước đơm cá, ngập ruộng khó cày cấy được.

 

Khoản 43:  Rủi bị mía cháy, thì các chòi mía trong làng phải nghỉ cả, chòi gần đạp gìum, chòi xa giúp công trâu bò, đạp cho mau xong, thợ đường, trai mía không được nhơn đó mà yêu sách, bán đường xong chiếu tuỳ thời giá trả công.

Còn như trai hàng, trai mía, thợ đường, thợ nuồi tự  tiện lấy mía cây (mía hồi) mía ngọn đem về nhà hay đem bán thì đều cấm chỉ. Tài chủ để chúng nó làm như thế cũng bị lỗi.

 

Khoản 44:  Ruộng nương trong làng nhờ xe nước nhiều lắm, vậy nếu rũi gặp thiên tai như bão lụt, giàn xe ngã sập, các điền hộ phải ra công đến gíup cho kịp nước tưới, ruộng khỏi khô, còn như tắm thả trâu bò trên mương xe và leo trên giàn máng thì đều cấm, vì sợ mương lở nước tràn, giàn sập làm hại đến nhân mạng: ai vi ước thợ xe bắt được, trình lý trưởng trách phạt.

 

Khoản 45:  Tre rất cần cho nhân dân, hướng lai trong làng đã xuất lực trồng một hàng tre để làm công dụng “trước thuộc xứ cây Trâm, nay trước nhập Tàu voi”, bắc gần tư thổ, tây giáp bộ An Phú, đông gần tư thổ, vậy phải nên công đồng bảo vệ cấm chủ ruộng tiếp cận không được cuốc phá gốc tre, đốn tre và cắt măng, bất kỳ ai và gặp ở chỗ nào, bắt được chiếu khoản 30 hương ước này, trọng phạt. Còn tre các tư chủ trong làng cũng chiếu lệ trên.

 

MỤC IV:  CỨU TAI TRUẤT NẠN

 

Khoản 46:  Nhà nào bị hoả tai, hễ nghe hô hoán, đánh mõ thì ai cũng mang đồ cứu lửa (ống tre đựng nước, gàu, câu liêm v.v…) chạy đến hết sức cứu. Lửa cháy rồi, lý hương phải báo trình và sức dân phu, hoặc giúp tre hoặc giúp tranh, làm liền cho khổ chủ một cái nhà tạm; như cháy ít thì sức tu bổ lại, để khổ chủ có chỗ dung trú.

 

Khoản 47:  Nếu có thủy tai hay cuồng phong, ai rủi bị súc sản phiêu lưu, tài vật hao tản, lý hương phải sức dân đến giúp. Nếu bị hại nhiều, nhà trôi, người chết, phải trích tiền công dụng sáu quan giúp khổ chủ và khuyên lân bàn giàu giúp tiền, lúa, tranh, tre, nghèo giúp công làm nhà để tỏ nghĩa tương lân.

 

Khoản 48:  Gặp trộm cướp, dân trong làng phải lập tức cầm dây, gậy đến tiếp cứu, hoặc đi triệt các yếu lộ, hoặc vây bắt, song cốt yếu là phải đắc lực.

 

Khoản 49:  Gặp những trường hợp trên nếu ai điềm nhiên, không cứu giúp hoặc kiếm cớ đóa tị, trách phạt.

 

Khoản 50:  Cứu tai truất nạn vốn vì công nghĩa, công tâm, ai rủi bị thương như lính cứu lủa phỏng lửa;vây kẻ trộm bị đánh v.v… thì lý hương lập tức khám thương tích, nhẹ trích tiền công dụng giúp ba quan sức đi nhà thương điều trị, nặng sáu quan, song người nào gặp kẻ trộm mang đạo tang mà theo giựt để làm của riêng, nếu có bị đánh trọng thương cũng không viện lệ này được. Còn ai đến cứu nhà người mà đánh cắp tài sản của khổ chủ, thì sẽ bị trọng phạt và trước vào sách tình nghi thiết đạo.

 

Khoản 51:  Người nào đau chết hạn trong 24 giờ phải báo hương bộ liền đến khám, chiếu qui trình cấp giấy mai táng và tuỳ nhà cho củi để dùng đủ việc tang, sức dân ai biết nghề gì, đến giúp cho xong việc (thợ may may áo, thợ mộc đóng hòmv.v…) song không được yêu sách. Về tiền công nếu tang chu ̉có thành tâm, thì trả mỗi công không quá năm tiền, người nào vì lân tình không nhận càng tốt. Dân âm công đãi một bữa. Ấp dịch phải sức dân trợ hành tống táng và đắp mã cho chỉnh đốn. Xong việc về nhà tang chủ dùng một mâm trầu cau, rượu tạ ơn.

 

MỤC V:  HỌC HÀNH GIÁO DỤC

 

Khoản 52:  Tự lai cùng thiết với làng Vạn Lộc một trường học, rất huyền cách, trẻ em tám chín tuổi trở xuống đến học không tiền, vậy tộc nào phụ huynh, tôn trưởng phải lựa trong tộc người nào có học thức và hạnh kiểm có thể dạy dỗ trẻ em được thì cùng nhau bảo dưỡng người ấy để chỉ vẽ con em trong họ học tập, tộc nào không có người biết chữ, thì xin phép rước thày theo chương trình các hương trường mà dạy dỗ. Tộc biểu phải thưởng kiểm cố, trò nào thông minh đỉnh đạc, thì khuyến khích cho mà thành đạt, trò nào phạm lỗi cũng nên khuyến lệ cho bớt đần độn.

 

Khoản 53:  Mỗi năm đến kỳ các công trường lưu hạ, làng sẽ xin phép quan trên, lựa trong làng các học sinh tánh tạnh thuần cẩn, không can khoản màcó bằng sơ học Pháp Việt, để luân phiên dạy giúp những người trưởng thành không biết chữ. Cứ mỗi tối từ 7 giờ đến 9 giờ, lúc rãnh việc ruộng trưa, đến tại nhà hội mà học, mỗi phiên dạy từ mười người trở xuống, trong 15 ngày đủ biết đọc chữ quốc ngữ và biết viết thì thôi, mười người khác đến học; thày giáo cũng luân phiên đến dạy, dầu đèn về phần làng chịu truất tiền công dụng ra mua, dạy phải có sổ ghi tên, vở soạn bài, vở luân hoán, mãn buổi dạy thày giáo phải ký tên vào các sổ sách và vở học trò, để lâm thời quan trên kiểm cố, thày nào dạy sai chương trình phải chịu trách nhiệm.

 

Mỗi phiên dạy lý hương một người phải đến kiểm điểm và ghi tên những người đến học vào sổ kê tên. Mỗi tuần đại hào mục, hội trưởng đến kiểm duyệt một lần và khuyến lệ cho sự học mau có ích và khỏi mất thì giờ, ngày sau biết đọc Quốc ngữ và ký tên để khỏi phụ lòng huấn hoá của phụ huynh và không phải đến nỗi tự hối là quá dốt.

 

Khoản 54:  Mỗi tháng một kỳ nhóm tại đình, hội đồng đại hào mục và lý hương đem những điều phụ huynh cấm giới trong hương ước này giảng cho dân nghe.

Còn những điều quan hệ đến luân lý cang thường, đạo đức, trật tự, tôn lão, kỉnh trưởng, những cách tề gia, tu thân và những phương pháp tiếp vật, xử mình đều phải giãng hết.

 

Khoản 55:  Phụ huynh, tôn trưởng, có quyền huấn hoá tử đệ, con trai thì dạy đi học làm ruộng, làm nghề, con gái thì dạy nũ công, trai gái đều phải làm hết nghĩa vụ. Họ nào có người nhỏ tuổi, cố cùng không ai dạy dỗ thì phải giao cho cận phòng hay tộc biểu thâu dưỡng dạy dỗ, chớ không được bạc đãi, cho khỏi lưu tán, sinh hư. Người nào phóng đãng mất dạy, hành chỉ trái phép, say rượu, la rầy, đấu tụng, phải dụ về nghiêm trừng, để biết đổi lỗi làm lành. Còn người nào muốn đi chỗ khác sinh lý, phải tường các tộc biểu và phụ huynh biết, chớ không được lưu liên ở ngoài tập nên thói xấu.

 

TIẾT THỨ 6:  QUÂN PHÂN ĐIỀN THỔ.

 

Khoản 56:  Làng hướng lai không có công điền, công thổ quân phân, năm Khải Định thứ chín có trưng các núi Viên Sơn, Động Trọc, Dương Sơn, Núi Giữa va vườn chùa Linh Sơn Tự; vườn chùa này từ khi trưng đến nay đã khai thác thành thổ, ước một mẫu (xem trích lục) trong làng đã đồng ý cho thuê mỗi năm mười hai đồng (12$00), để dùng vào việc tế tự. Các núi kìa (kể trên) thì dưỡng thủ tài mộc sung vào việc tu bổ đình từ và công dụng. Từ nay trừ việc hái củi dùng việc tế tự và giúp việc tang ra, cấm nhân dân không được lén vào hái củi phá núi làm tổn hại lâm sản vi ước trách phạt. Còn tiền các núi ấy có cấy tranh, lúc cắt (song cấm đốt, đốt phải xin phép có làng ký áp) chia ba làng một phần để lợp.

 

Khoản 57:  Văn thơ trong làng và loại khai giao lý trưởng giữ bộ Gia Long và nhân thế bộ thì hương bộ giữ, còn tự khí, tự vật và tiền lúa, thì giao hương bổn giữ, ai sai chạy thì trách phạt.

 

TIẾT THỨ 7:  PHÂN BỔ SƯU THUẾ

 

Khoản 58:  Thuế ruộng có trích lục, thuế thân có bài chỉ, mỗi năm đến kỳ thu thuế, sau khi nhận bài chỉ đinh điền, thời lý hương phải trình với hội đồng xã thôn đại hào mục, chiết tính người nào ruộng đất bao nhiêu, thuộc hạng gì, phải nạp thuế, thuế bao nhiêu và mỗi suất đinh phải nạp bao nhiêu, kê biên niêm yết rõ ràng rồi giao cho lý trưởng chiếu theo đó mà thâu. Còn năm ngày tư  ích chờ sức đi làm đâu sẽ đi, song lý hương phải lựa chia chỗ gần, chỗ xa cho công đồng. Nếu phóng phú sai bần, tưụ khinh, lỵ trọng có lỗi.

Người nào muốn đi chỗ khác sinh lý, phải gởi trước đinh điền thuế và đại nạp tư ích cho lý trưởng, như không tiền phải có phụ huynh đảm bảo mới được đi. Dân ngoại tịch (chánh và ngụ) phải nên ra sức mỗi người năm ngày đi làm những công việc có ích trong làng như: trồng tre, cấy tranh, trồng cây, cấy bói, tu bổ đình từ, vọng canh v.v…

 

TIẾT THỨ 8:  THƯỞNG PHẠT

 

MỤC I: THƯỞNG

 

Khoản 59:  Thưởng phạt phải công bình không nên tư luận. Mỗi năm đến Tết Nguyên đán làng nhóm tại nhà hội, trích tiền công dụng để mua sách vở, giấy bút, xét bất cầu con ai trong làng mà học tập chuyên cần, tánh hạnh thuần cảnh, đậu bằng sơ học hay yếu lược, thời gọi đến để cấp thưởng, có viên kỳ hương chức, tộc biểu và phụ huynh học sinh đến dự.

Còn trò nào biếng nhác, lêu lổng ( có chứng chỉ thày giào cho biết) thì không được thưởng.

 

Khoản 60:  Hương chức nào mẫn cán, công bình, không có lỗi gì, lại hay húng lợi trừ hại có công trạng thì được chép vào sổ hương sách, để lưu danh về sau và yết tại nhà hội để đều nghe biết.

Dân người nào có công bắt kẻ trộm, cứu lửa đắc lực hay chức việc nào làm việc giỏi, thì lương trích tiền công dụng thưởng từ hai giác (0$20) đến năm giác (0$50) để thị khuyến.

 

MUC II. PHẠT

 

Khoản 61:  Hương chức làm việc bê trễ, không đắc lực và không tuân điều ước, người nào làm điều gì trái với luân lý (bất hiếu, bất mục, bất hữu, bất huyên) bất cầu nam, phụ, lão, ấu, lấn lướt người trên, kẻ dưới, mạng mạ, chưởi lộn, xét quả tường hội đồng đại hào mục, chiếu tùy nặng nhẹ định phạt.

 

Khoản 62:  Lệ phạt thì từ một ngày đến năm ngày, dịch mục, thập trưởng, thập đoàn gấp rưỡi, hương chức trở lên (chỉ phạt bạc thôi) gấp đôi. Mỗi ngày đại nạp hai giác (0$20) nếu không tiền phải phạt dịch. Phạt dịch thì ghi tên và số ngày phạt vào sổ phạt dịch, chờ lúc nào có việc sức đi làm. Tiền phạt nạp lý trưởng trước vào sổ thu, giao hương bổn nhận giữ để bất thời tiêu việc công.

Tên những người bị phạt (phạt dịch hay phạt bạc) đều ghi vào quyển sổ phạt tại làng để biết có tự hối không. Nếu bị phạt hai ba lần mà còn chưa chừa, thì đem nguyên ủy trình quan nghĩ trị để răn về sau.

 

TIẾT THỨ 9:  THỂ LỆ HỘI ĐỒNG

 

Khoản 63:  Tề tập viên kỳ, chức dịch tức là hội đồng (tục gọi nhóm làng) phải có định thời khắc qui trình.

Gần đến hội đồng, thì trước ba ngày, hội trưởng (đại hào mục) hay lý trưởng đặt tờ báo cáo cho người dự hội biết; phải tường kê hội tại chỗ nào, ngày tháng nào, trù định việc gì và ai dự hội, giao thập đoàn hay ấp dịch đi báo cáo hay tri thỉnh, đến nhà ai phải lấy tự tích làm bắng. Nếu viên nhân nào có duyên cớ chánh đáng không đi hội được phải có tự tích phúc lạc cho hội đồng biết. Nếu thập đoàn, ấp dịch báo cáo bất châu sẽ trách phạt.

 

Khoản 64:  Ngày hội đồng hội viên tề tập định việc gì là cốt ở việc làm. Người nào khiếm diện thời sau không được lấy lẽ gì ngăn trở việc làng đã bàn định đến. Duy tiên chỉ viên, hoặc hội trưởng viên có khiếm diện vì duyên cớ chánh đáng, thì hội đồng rồi phải đến tường các y viên tri chiếu.

 

Khoản 65:  Ngày rằm mỗi tháng có hương chức thường hội đồng, do đại hào mục hội trưởng thi hành kiểm sát, như có khiếm diện kỳ hào sung hành. Người dự hội thì viên chức và lý hương và xã đoàn.

 

Khoản 66:  Hội đồng xã thôn đại hào mục, thường hội đồng mỗi năm bốn kỳ: mùng mười tháng hai, tháng năm, tháng tám và tháng mười một, do đại hào mục hội trưởng chủ toạ. Tiên chỉ viên thi hành kuiểm sát như có khiếm diện thứ chỉ viên sung hành. Người dự hội thì đại hào mục hội trưởng, kỳ hào, các tộc biểu, lý hương chánh phó xã đoàn và viên chức làm dự đồng.

 

Khoản 67:  Hội đồng bất thường thì lâm thời đại hào mục hội trưởng chiêu tập những người có chân trong hội đồng.

 

Khoản 68:  Mỗi khi hội đồng phải trạch một người sung thư ký. Chủ toạ hội trưởng sức kê các người hiện diện và lấy chử ký để sau đính vào biên bản hội đồng trình chiếu.

 

Sáu mưới tám khoản kể trên đã vâng Quan công sứ bản tỉnh, và tỉnh đường đại thần, liệt hiến Đại thần và Phủ Đường phê duyệt. Xin bắt đầu từ ngày khai chánh sang năm (1.1 Bảo Đại thứ  13) thi hành trong địa điện làng diên Niên.

 

Những tục lệ trước trái với hương ước này thì đều đình chỉ.

 

Làm tại Diên Niên ngày rằm tháng bảy

Năm bảo Đại thứ 12

Ngày 20 tháng 8 năm 1937

 

Khán

Sơn Tịnh ngày 15.11.1937

Tri phủ

Ký tên: Phan Q. Thao

 

Phan Quang Trỉ (ký)

Phan Quang ấp

Phan Quang Bá

Phan quang Đ… (ký …)

 

Tùng cửu phẩm VõĐịch tự ký

 

Thích lý                                       Phan Quang Thí tự ký

Thích lý                                       Phan Quang Khải tự ký

Thích lý                                       Phan Quang thị áp chỉ

Thích lý                                       Phan Quang Hiệp tự ký

Thọ kỳ                                         Nguyễn Nhược (do hiện bệnh)

Cựu tượng binh                           Võ Kỉnh tự ký

Cựu tượng binh                           Nguyễn Thích áp chỉ

Cựu tượng binh                           Trương Tích áp chĩ

Hương bổn                                   Nguyễn Dung tự ký

Hương Kiềm                                Nguyễn Trị áp chỉ

Hương mục                                  Nguyễn Trà tự ký

Phó xã đoàn                                Phan Lung áp chỉ

Thủ đình                                      Xa Vảng tự ký,

Lý trưỡng                                     Nguyễn Trượng ký

Hương bộ                                     Phan dư ký

Tộc biểu                                       Phan Tình tụ ký

Tộc biểu                                       Đặng Quảng tự ký

Tộc biểu                                       Nguyễn Phòng tự kỳ

Tộc biểu                                      Nguyễn Lục tự ký

Tộc biểu                                      Võ Hanh tự ký

Tộc biều                                      Phan Soạn tự ký

Thập đòan                                  Đổ Đáo tự ký

Thập đoàn                                  Nguyễn  Kha tự ký

Dinh mục                                    Nguyễn Cùng áp chỉ

Dinh mục                                    Trương Tiết áp chỉ

Dinh mục                                    Trần An áp chỉ

Tộc phái                                     Nguyễn Khâm tự ký

Tộc phái                                     Huỳnh Phái tự ký

Tộc phái                                     Nguyễn Trị tự ký

Tộc phái                                     Nguyễn Thuần tự ký

 

Phụng sao

Lý trưởng Nguyễn Trượng

 

Khán và chứng thực sao y bản chánh

Sơn Tịnh, ngày 17.10. 1941

Tri phủ

 

Sơn Tịnh,ngày 7.9.1941

—————————–

 

Sơn Tịnh, ngà 7.9.1942

Phủ đường

 

——————————

(*):  Làng Diên Niên nay là thôn Diên Niên, xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

 

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: