LÀNG DIÊN TRƯỜNG

HƯƠNG  ƯỚC  LÀNG  DIÊN  TRƯỜNG

TỔNG  PHỔ  VÂN,  HUYỆN  ĐỨC  PHỔ

 

Ngày  23  tháng  7  năm  Bảo Đại thứ 12

                (Ngày 30 tháng 8 năm 1937)

 

Chúng tôi là viên hào, lý hương làng Diên Trường, tổng Phổ Vân, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

Hội đồng nghị định chiếu theo tục lệ lưu truyền trong làng xưa nay tham chước trình độ hiện thời mà lập chánh hương ước có các điều khoản kể ra sau này:

 

 

TIẾT THỨ 1:  TOẠ THỨ

 

Tọa thứ thời có sổ hương ẩm để giữ trật tự và chính phong hoá, người nào có phẩm hàm và niên xỉ ngồi trên trước, người nào nhỏ theo vị thứ ngồi sau, không được tiện đẳng, người nào muốn tỏ bày ý kiến gì thời phải thưa trình cho có lễ phép, không được lớn tiếng giữa đình trung, hội sở, nếu ai không tuân hương ước thời phạt một bàn trầu, cau, rượu.

 

TIẾT THỨ 2:  TẾ TỰ

 

1)  Trong làng có chung với làng Diên Khánh một sở đình, hai sở miếu (miểu Chưởng Sinh, miểu Cao Các), một sở Nghĩa Chỉ và một sở Thần Đàng mỗi năm hiệp tế một lệ; lấy ngày 15 tháng ba là ngày tảo lăng ông làm kỳ. Trước ngày tế phải hội định với làng Diên Khánh phân phái, phân hành cho ấp và trần thiết, rước sắc, tảo lăng, tảo mộ, đặt người dự tế: tối ngày 15 tế Nghĩa Chỉ trước, sáng ngày 16 rước sắc về đình, miếu và các sở đều tế một lần. Mỗi làng chi nhu các lễ tế ấy độ hai chục đồng (20$00), tế rồi thưa thân huệ kỉnh chánh tế phần đầu, bởi tế một phần nọng tạo miễu và các người dự tế đều kỉnh tộ thiệt một sườn, còn bao nhiêu đem ra hương ẩm khoản đãi nhứt luật.

 

2)  Trong làng có một sở chùa chung với làng Diên Khánh lâu nay trích trí ruộng công điền của hai làng là tám sào, và năm sào tư chủ cúng cho chùa, đều biệt giao cho người tăng thủ tự canh tác, cúng tế, sám hối trong sở chùa tam nguyên, tứ quý, và lập tranh đều về phần người tăng chủ từ chịu cả.

 

3)  Trong làng lại chung với làng diên Khánh một sở Đạo đường, hai làng có cúng ruộng công điền một mẫu ba sào thời cũng biệt giao cho người ra ở kiểm thủ nha Đạo đường canh quả để tu bổ lợp nhà thờ ấy.

 

TIẾT THỨ  3:   KHÁNH ĐIẾU,  KHAO VỌNG,  HÔN LỄ

 

1)  Khánh điếu:  Phàm trong làng đi phúng điếu, khánh hạ cho một người nào có đánh giá công lao với làng như đám chết đi ba quan tiền, và một bàn trầu, cau, rượu; đám mừng hay làm nhà đi ba quan, ngoài ra không đi cho ai nữa.

 

Phàm trong làng có người chết thời hạn trong 24 giờ phải trình với hương bộ trước vào bộ tử, còn về việc tống táng nếu là quan viên, kỳ hào thời cho để được ba ngày, còn thường dân thời phải chôn trong hạn 48 giờ.

 

Bất cầu người nào lâm tang thời người bà con tộc thuộc và người lân cận phải đến giúp tức thời, còn dân phu đưa tang và nghi tiết tống táng thời tùy phẩm vọng của người và tuỳ tang chủ xin; nhưng phải tùy người có phẩm giáhay không mà đưa đón cho có phân biệt, không được phô trương quá phép. Chôn rồi chờ khi nào làng có công hội sẽ đem một bàn trầu, cau, rượu đến nhà hội mà báo đáp ơn làng xóm để trọng sự thể của làng.

 

Về việc khoản đãi thời tùy tang chủ liệu biện, cấm không được làm heo, bò, không được phù phép. Nếu người nào quá cố vì bệnh truyền nhiễm thời cấm không được khoản đãi mà làng cũng không được bức sách.

 

Những người dân nào mà làng phái sức đến giúp tang gia, có duyên cớ gì thời phải trình cáo trước, nếu không trình cáo mà thiện hiện khoán khiếm thời phạt bạc hoặc phạt hành dịch một ngày rưỡi.

 

2)  Khao vọng:  Phàm trong làng người nào làm khao vọng gì, thời tuỳ sức hoặc chừng nào mà làm chừng nấy, không được trang sức mà làm cho […] như có số đông người thời phải đến quan xin phép mới được làm, nếu trái phép thì trình quan nghĩ phạt.

 

3)  Hôn lễ:  Việc hôn lễ thời tùy hai nhà trai gái thuận định với nhau cho giản tiện thì tốt, không được yêu sách. Nhưng lúc thành hôn rồi, hạn trong tám ngày phải trình với hương bộ trước vào trong sổ giá thú, người nào muốn mua trích lục thời phải nạp bạc 0$20.

 

TIẾT THỨ  4:  CẦM PHÒNG VIỆC ĐỘNG TỊNH, TRỘM CƯỚP, VIỆC CANH BA LỢI NGOÀI ĐỒNG

 

1)  Việc động tịnh:  Phàm trong làng cấm không được la lớn tiếng làm ồn ào mất sự yên tịnh và tụ tập nhiều người bày cờ bạc rượu chè làm điều phi vi; nếu không tuân hương ước mà hương chức bắt được thời phạt mỗi tên sáu giác 0$60 hoặc phạc hành dịch ba ngày.

 

Phàm có nơi nào tụ tập chơi bời trái phép, mà sự tụ tập dung thường thời làng phạt những người tụ tập mỗi người 0$60 hoặc hành dịch ba ngày; nếu sự tụ tập mà có tình trạng đáng nghi thời phải lập tức báo quan; như người nào thấy mà tư tình ẩn nặc thời cũng phạt 0$60 hoặc phạt hành dịch ba ngày.

 

Trong làng phần chánh phó xã đoàn, đoàn thập, đoàn phu, đêm ngày canh phòng địa diện, kiểm xét gian phi, thấy người nào lạ mặt, lạ tiếng, hay nhà nào tụ tập đông người, thời phải xét hỏi, nếu các người lạ mặt không có căn cước, bài chỉ, hoặc các người tụ tập không có mục đích gì chánh đáng thời phải lập tức báo quan, nếu tư tình ẩn nặc mà có phát xuất ra việc gì lạ, thời những người có trách nhiệm đều có lỗi. Và đêm ngày chánh, phó xã đoàn phải đốc sức dân đoàn, dân phu canh tuần theo dọc đường hoả xa và đường thiên lý, cấm trâu bò không được thả ăn rong trên đường và bỏ cây, đá trong đường rầy xe lửa, hoặc quăng dây […] trên dây thép, nếu bắt được giải quan nghiêm nghị; còn người đương sự mà dụng tìmdụng ẩn thời tội chẳng khác phàm dân ấy.

 

Phàm trong làng người nào có bà con quen biết phương xa đến thăm mà ở đêm, hoặc có người khác làng khác tổng đến trú ngụ làm việc gì (tuy chánh đáng mặc dầu) gia chủ cũng phải trình với lý hương xét ghi căn cước, bài chỉ; nếu không tuân gia chủ phải phạt 0$30; còn xét ra mà có tình trạng quan ngại thời giải cả gia chủ trình quan địa phương.

 

Trong làng có lập một số điếm canh, có đặt năm tên tuần trưởng, thường ngày đêm phải đốc sức dân phu canh tuần, có phân phiên thứ, trong một tháng mỗi tên dân canh ba kỳ, mỗi một kỳ ba ngày đêm, dân canh đều có tên viết trên bản canh tại sở vọng lâu, trong dêm canh nếu có công văn, công khẩn phải tức thời cắt dân hộ vệ chuyển đệ, và các xã lân cận lâm thời có xảy thủy họa tai, đạo tặc phải đem dân ứng tiếp, nếu thị thường bỏ qua thì hương kiểm có lỗi, còn tên dân canh nào bỏ phiên canh thời phạt bạc 0$30 hoặc phạt dịch một ngày rưỡi (trừ ra tên dân nào có duyên cớ, có xin phép với lý hương ngoại).

 

2)  Việc trộm cướp:  Phàm trong làng có việc trộm cướp xảy ra dân canh đánh mõ báo hiệu lên, thời dân trong làng bắt cầu người nào cũng phải cầm dây, dùi chạy đến ứng tiếp, phòng triệt các nẻo đường mà bắt kẻ trộm, người nào bắt được thời làng xuất tiền công quỹ thưởng 1$00 (một đồng), nếu người nào bị gian đạo kháng cự lại có thương tích, thời làng cũng xuất tiền công quỹ cấp cho đi nhà thương, còn người nào bắt gian đạo mà tự tiện dung ẩn, xét đồng tình giải quan tra tra xét.

 

Phàm trong làng bắt được người đốn trộm một cây bị phạt 0$60, hoặc phạt hành dịch ba ngày, bẻ trộm một mụt măng phạt 1$20 hoặc phạt hành dịch 6 ngày và chặt cây lâm cấm của làng thời phạt 1$20 hoặc phạt hành dịch 6 ngày. Nếu người nào không

tuân trình quan nghĩ trị.

 

3)  Việc canh ba lợi ngoài đồng:  Trong làng có lập khoản ước đặt 5 người tuần trưởng, 5 người tuần đinh để giữ ba lợi ruộng đất trong bộ, cứ chiếu theo ruộng đất mỗi năm mỗi mẫu người điền chủ phải chịu 1 ang lúa, lúa ấy tuần trưởng và tuần đinh thâu giữ. Nhưng lúa tuần trưởng đã thâu được phải chia làm ba phần, một phần sung công qũy ghi vào sổ thâu, còn hai phần giao cho tuần trưởng, tuần đinh chia nhau mà ăn. Nếu tuần trưởng, tuần đinh không làm hết bổn phận để cho ba lợi của điền chủ bị mất trộm thì bọn ấy phải bồi thường.

 

Phàm trong làng trừ khi nông vụ cày cấy ngoại, cấm những người có trâu bò không được thả ăn trên bờ ruộng đất có ba lợi, ăn phá lúa, mạ, đạp lở bờ ruộng, nếu không tuân hương ước, bắt được phạt 0$30 hoặc phạt hành dịch một ngày rưỡi và bắt bồi thường tổn hại ba lợi cho người điền chủ (bạc phạt ấy cho người bắt được 0$20, còn 0$10 sung vào công quỹ ghi vào sổ thâu chi).

 

TIẾT THỨ  5:  CÔNG ÍCH CÔNG LỢI

 

VỆ SINH CÔNG CỘNG, ĐƯỜNG SÁ CẦU CỐNG, CÔNG VIỆC VỆ NÔNG, CỨU TAI TRUẤT NẠN, HỌC HÀNH GIÁO DỤC

 

1)  Công ích công lợi:  Trong làng cứ mỗi ba tháng thời chiêu tập một lần, hào mục lý hương và tộc biểu nhóm họp nơi công hội làng để trù định việc ích lợi trong làng, có làm biên bản trình quan địa phương xét, các người có trách nhiệm dự hội, không có duyên cớ gì mà bất tuân hương ước thời phạt bạc 0$30, hoặc phạt truất ngôi thứ.

 

2)  Hiệu lịnh chiêu tập trong làng như sau này:  Nhóm thường trong mỗi tháng lấy ngày mồng một làm kỳ khởi, mới có tiếng chiêng thì những người đương sự phải đến ngay ấy phải tới nhà hội mà nhóm, lâm thời có việc quan khẩn thời phải dùng tiếng chiêng và tiếng trống để cho người đương sự phải tới gấp; còn về phần thủy hoả, đạo tặc, tai nạn thì phải dùng tiếng thanh la mà làm hiệu lịnh, việc thôi châu quan thuế thời có tiếng mõ và tiếng trống dân canh tuần thời có tiếng mõ và còi, nếu người nào không tuân theo lịnh hiệu thì phạt một bàn trầu, cau, rượu và bạc 0$30, hoặc phạt hành dịch một ngày rưỡi.

 

3)  Trong làng có một cái đầm (đầm An Khê) chung với làng Diên Khánh lựa một người có tư bản để cử làm đầm trưởng (Diên Trường ba năm, Diên Khánh ba năm).

 

Đầm trưởng kiểm cố ngư nghệ thâu thuế nạp cho lý trưởng, mỗi năm chiếu theo quan thuế thâu nạp, còn bao nhiêu cúng tế, tu bổ các sở miếu chung quanh đầm và cấm không cho người nào làm lưới chài, lưới quét đánh cá trong đầm ấy. Nếu người đầm trưởng nào không tuân hương ước cho làm lén bắt được phạt 3$00 và một bàn trầu, cau rượu sung vào công quỹ của làng, nếu ngang trình quan địa phương nghĩ trị.

 

4)  Vệ sinh công cộng:  Phàm trong làng cấm không được ném bỏ những thú vật chết và những dồ dơ uế trên các con đường cái, thủy đạo, gò mả, đất hoang. Những loại vật chất như mèo, heo, gà, chuột và những đồ nhơ uế thời phải đào lỗ chôn sâu, xa nhà và giếng, các giếng uống, ao hồ, vũng, lý hương phải sức vét cho sạch sẽ, nếu giếng không có thành thời phải làm sơn ly bao bọc bốn phía, nói tóm lại là không được làm việc gì phòng ngại đến vệ sinh công chúng trong làng, nếu người nào không tuân hương ước thời phạt bạc 0430 hoặc phạt hành dịch một ngày rưỡi.

 

Phàm trong làng nhà nào có trâu bò rủi bị bịnh chết thời phải trình với làng xét cho xẻ lấy da và sừng, còn thịt thời phải đào lỗ chôn sâu, xa nơi nhà ở, giếng uống nước; cấm không được ăn thịt và đem bán; nếu người nào bất tuân hương ước phạt bạc 0$60 hoặc phạt dịch ba ngày.

 

5)  Đường sá cầu cống:  Phàm trong làng mỗi năm hương mục phải bắt dân tư ích tu bổ đường sá cầu cống cho vững vàng chỉnh đốn, hết bao nhiêu công dân phải kê làm hai bản, một bản trình quan địa phương, một bản lưu chiếu tại làng. Những con đường gần ruộng đất người nào, mà người ấy có ý xâm lấn hoặc tự tiện cuốc mặt đường làm mương rãnh tháo nước thì phạt bạc 0$60 và bắt bồi trúc con đường ấy lại như củ. Người nào muốn đem nước qua tháo vào ruộng thời phải đặt lù làm cống v.v… phải thưa với làng cho phép mới được.

 

6)  Công việc vệ nông:  Trong làng có năm cái đập chung làng Diên Khánh, tục kêu đập Làng, đập Đá bạc, đập Bồ Đề, Đập Co, đập Ông Thìn, xưa nay làng Diên Trường, Diên Khánh mỗi đập mỗi làng có đặt một người tri yển để coi sóc đập, tùy theo mỗi năm đập lở nhiều ít mà quy điền phân bổ, mỗi mẫu ruộng phải chịu bao nhiêư  độn, bao nhiêu nọc, bao nhiêu bò cào cát, bao nhiêu nhân công, tri yển phải biên tên họ điền chủ rõ ràng trình cho đại hào mục xem xét rồi mới đánh thanh la cho mọi người biết, và đốc sức điền chủ chánh xã, phụ canh dọn mương cho rộng rãi, cùng bồi đắp các đập ấy cho chắc chắn, để dẫn nước vào ruộng. Nếu người nào có ruộng mà không đi đắp đập, trách thâu nhơn công mỗi 0$20, bạc thâu ấy chia làm ba phần, một phần bỏ vào công quy,̃ hai phần cho tri yển trưng dụng, nếu tri yển dụng tình dung ẩn theo thói bán chế gian tham, trách phạt trầu, cau, rượu một bàn và bạc 0$30 đến 0$60 hoặc phạt hành dịch từ một ngày rưỡi đến ba ngày, bỏ người ấy không cho làm tri yển nữa.

 

Trong làng có chỗ thủy khẩu thường hay mưa to, cát lấp chỗ thủy khẩu ấy, thời nước không chảy được phải ngập thúi rửa ba lợi hơn 20 mẫu ruộng, làng Diên Trường, Diên Khánh mỗi làng có cử một người tri cửa để gặp khi lụt ngập phải đốc sức điền hộ, đến đào chỗ thủy khẩu ấy nước chảy ra biển, cứ một người có ruộng bị ngập từ một sào đến sáu sào phải đi làm một người, từ sáu sào đến một mẫu, phải đi một người và phụ một đôi bò cào cát một buổi, từ một mẫu trở lên phải đi hai người, người nào không đi cứ một người một ngày thâu thiếu 0$30; bạc ấy chia làm ba phần, một phần sung vào công quỹ của hai làng, còn phần cho người tri cửa ăn lo. Nếu người tri cửa dụng tình dung ẩn, theo thói bán chế gian tham xét quả xét trách phạt trầu, cau, rượu một bàn, bạc 0$30 bỏ vào công quỹ, bỏ người ấy không cho làm tri cửa nữa.

 

7)  Cứu tai truất nạn:  Phàm trong làng người nào gặp phải tai nạn, như hoả tai, nịch thuỷ v.v.. và các tai nạn bất thường, nghe hô hoán thời bất cầu người nào cũng phải chạy đến tiếp cứu, tùy theo các tai nạn ấy mà dụng đồ tiếp cứu, trừ ra người nào có duyên cớ chánh đáng, hoặc ở xa cách không nghe ngoại. Nếu người nào nằm yên ở nhà không đến cứu nạn, thời phạt bạc 0$30 hoặc phạt dịch một ngày rưỡi.

 

8)  Học hành giáo dục:  Trong làng, người nào có con em từ bảy tuổi trở lên, thời tùy gia tư và bản năng của chúng nó mà cho đi học, trừ những con nhà nghèo không thể đi học được thì phụ huynh và tộc biểu phải dạy bảo cách ăn ỡ cho khỏi trái tình tục luật lệ, phàm những con em ngỗ nghịch, hành vi trái phép thì phải răn dạy, nếu không nghe trích trinh ngữ nghị, tộc biểu nào bất tuân thì phạt bạc 0$30 hoặc phạt truất ngôi thứ.

 

TIẾT THỨ  6:  QUÂN PHÂN ĐIỀN THỔ

 

Nguyên làng Diên Trường và làng Diên Khánh có thờ ông tổ ngưỡng linh Nguyễn Quận công, khi trưng ruộng đất để lại cho hai làng đồng dân chia nhau mà ăn; lệ cứ ba năm quân cấp một lần; hiệp cùng hai làng, chiếu tính số ruộng đất, trích ruộng tế điền. Hương dụng trước phải xin phép đấu giá được bao nhiêu giao hương bản nhận thủ ghi vào sổ chi thâu của làng, và trừ trích ruộng lương điền để cấp cho lính, còn bao nhiêu thì định cấp cho lão nhiệu, cô quả, hương chức, tráng dân mỗi phần bao nhiêu phân tính rõ ràng rồi lập đồng quyền có đủ hào lý, viên kỳ, tộc biểu hai làng ký chỉ minh bạch, rồi đến quan địa phương xin phép. Khi được phép quan trên cho rồi thì hai làng nhóm họp lại để phân ruộng chia đất tốt xấu (cốt để cho đều khỏi phải hơn thua) […] cứ mỗi phần mấy sào, mấy thước, xứ thì viết một hàng có ghi số hiệu và chừa quãng trống để cho người nào nhận phần nào phải ký nạn vào bộ cấp ấy, lý trưởng phải biên lai cho người chấp chiếu, khi lập bộ cấp xong rồi thì hào mục, lý hương, tộc biểu phải nhóm họp lại mà sắp sổ phân theo thứ, để khi cấp ruộng cứ chiếu theo vị thứ ấy mà […] nhận […] nhửng người nào đã có làm nhà ở vào ruộng đất công thì phải nhận phần thực của mình, không được nhận ra nơi khác. Nhưng từ nay về sau cấm không ai được làm nhà vào nơi ruộng đất công, nếu không tuân hương ước phải phạt 0$30 va phải dở nhà lập tức, nếu ngạnh trình quan nghĩ trị.

 

TIẾT THỨ 7:  PHÂN BỔ SƯU THUẾ

 

Phàm đến vụ thuế sau khi nhận bài chỉ đinh điền về, lý trưởng phải trình với hội đồng xã thôn đại hào mục chiếu tính, người điền chủ nào ruộng đất bao nhiêu, hạng gì, phải nạp bạc thuế bao nhiêu, phải suất đinh, phải nạp bao nhiêu, kê biên niêm yết rõ ràng, rồi lý trưởng cứ chiếu theo đó mà thâu, nếu phù thâu trình quan nghĩ trị.

 

TIẾT THỨ  8:  THƯỞNG PHẠT TRONG LÀNG

 

1)  Thưởng:  Trong làng người nào có công đức với làng, làm nhiều điều ích lợi chung cho công chúng trong làng, hương chức tận tâm làm việc, người nhiệt thành cứu giúp tai nạn thời làng đem cao toạ thứ lên hạng người có công lao, khi tế tự cũng trích kỉnh một phần biếu, hoặc làm một bản danh dự yết tên các người ấy vào chỗ hội quán, hoặc tùy trường hợp mà thưởng bạc từ một đồng (1$00) trở xuống.

 

2)  Phạt:  Các hương chức không lo tròn bổn phận, thiếu sự công tâm, những người trong gia đình cư xử với nhau không được hoà thuận, không lo làm ăn, những kẻ thấy tai nạn không cứu vớt v.v… chỉ làm phạt truất toạ thứ, truất phần biếu và tuỳ trường hợp mà phạt bạc từ 0$30 đến 1$50, hoặc phạt dịch từ một ngày rưỡi đến bảy ngày rưỡi.

Những số tiền phạt nói trên các tiết đều trước vào sổ chi thâu cùa làng, nếu người nào không có bạc nạp thì phạt dịch do hương kiểm, hoặc hương dịch đưa đi làm các đường liên hương hoặc quét dọn các công sở trong làng, hoặc làm những công việc lợi ích đồng hương

Ngày  20  tháng  7  năm Bảo Đại thứ 12

Khán

Quảng Ngãi, ngày  10.12.1937

Công sứ                                    Tuần vũ

Ký tên: Gey                      Cung Quang Địch

(đóng dấu)                               (đóng dấu)

 

 

Phụng sao y                                        Khán

Thạch By ngày 2010.1942            Tri huyện

Lý trưởng            Chứng thực        Ký tên: không rõ

                              Tri huyện             (đóng dấu)

 

Cựu lý trưởng

Hào mục cựu lý trưởng

Hương ước sách

Hương ước bổn kỳ hào

Cựu đại hào mục

Lý trưởng

Phó lý trưởng

Miễn điêu

Hương bộ

Hương kiểm

Hương mục

 

Hương mục

Hương bộ

Hương bổn

Cựu hương mục

Cựu tri hương

Tộc biểu

Tộc biểu

Tộc biểu

Tộc biểu

Tộc biều

Tộc biểu

Tộc biểu

Nguyễn Bá Đệ tự ký

Nguyễn Đạo tự ký

Nguyễn Bá Sửu tự ký

Nguyễn Bút tự ký

Trần Trự tự ký

Nguyễn Bá Hạnh ký (do hữu đồng triện)

Huỳnh Lãng tự ký

Lê Dụ áp chỉ

Võ Phương ký

Trần Tùng tự ký

Nguyễn Sở thủ ký

Nguyễn Giáo tự ký

Nguyễn tự ký

Nguyễn Tiên tự ký

Trần Nhữ tự ký

Trấn Xu áp chỉ

Nguyễn Thời thủ ký

Nguyễn Sở thủ ký

Nguyễn Lân tự ký

Võ Sung tự ký

Võ Đạo tự ký

Nguyễn Thuận tự ký

Lê Sàng tự ký

Lê Đố thủ ký

 

 

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: