LÀNG PHỦ LỄ

HƯƠNG  ƯỚC  LÀNG  PHỦ  LỄ

TỔNG BÌNH  THƯỢNG,  PHỦ  BÌNH  SƠN

 

Ngày 27 tháng 5 năm Bảo Đại thứ 12

Ngày 5 tháng 7 năm 1937

 

Chúng tôi là viên hào, lý hương, tộc biểu làng Phủ Lễ, tổng Bình thượng, phủ Bình sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

 

Thân tờ tỉnh sức No. 2886 ngày 3 tháng 6 năm 1937 về việc chỉnh đốn hương thôn.

 

Tuân chiếu theo tục lệ lưu truyền trong bàn cư và châm chước tình tục hiện thời. chúng tôi nghĩ định các điều khoản hương ước như sau này:

 

TIẾT THỨ 1: HƯƠNG ƯỚC TỌA THỨ

 

Khoản thứ 1:  Khi làng nhóm hội tại nhà hương hội, thì chính gian giữa văn vẻ, ấm quan dân biểu nghị viên, chức sắc, khoa mục (tú tài trở lên) lĩnh hạc hội viên, đại hào mục hội trưởng, ấm sinh, quan viên tử, tân cựu chánh phó tổng, chánh phó tổng đoàn (chưa có phẩm hàm) tân cựu thủ sắc, đại hào mục, lý trưởng cựu, xã đoàn cựu, tuổi 70 trở lên đều chiếu theo vị thứ mà ngồi (võ khoa văn 2 trậc).

Gian bên tả: tiền thứ lý trưởng, xã đoàn có quan bằng, tuổi 50 trở lên, miễn sai, miễn điêu, tân cựu hương chức có quan bằng, chưa đúng 60 tuổi đều chiếu theo vị thứ mà ngồi.

Gian bên hữu: Tân cựu hương chức không quan bằng và ấp chức tộc biểu, bao nhiêu tuyển sinh, yếu lược (đủ thành đinh) tráng dân.

 

Khoản thứ 2:  Khi làng nhóm hội thì các người dự nhóm phải chiếu theo vị thứ mà ngồi để cùng nhau bàn luận, nếu người nào say rượu, hoặc la nói ồn ào, không có trật tự thì phạt từ 0$40 tới 1$00 không tuân trình quan nghĩ trị.

 

TIẾT THỨ 2:

 

Khoản thứ 3:  Mỗi năm hiệp lễ một lệ xuân ở đình, ngày 10 tháng 2 An Nam và Nghĩa trũng tại nhà hương hội cũng trong ngày ấy, lễ tế nhu phí 50$00 trở lui còn ở chùa thờ Phật ngày rằm tháng giêng dùng huơng hoa, trầm trà sùng bái nhu phí 1$00 trở lại..

 

Khoản thứ 4:  Thường năm đến ngày hưng quốc khánh niệm (ngày 2 tháng 5) thì sớm ngày ấy, hưu quan, chức sắc, thân sĩ, hào lý, tộc biểu đều đem đồ thạnh phục tụ hiệp tại đình làng làm lễ khánh niệm, nhưng lễ ấy chỉ đốt đèn, xông trầm, hương hoa, đốt pháo, nhu phí 2$00 trở lại.

 

Khoản thứ 5:  Trong hàng quan viên chức sắc, hay lựa người lão thành có phẩm vọng, đạo đức, cử làm chủ tế phụng thủ thần sắc. Khi tế thì ông chủ tế chính bái ở gian giữa đình, gian tả lý trưởng, gian hữu hương bộ, làm bồi bái hai bên tiền hậu hiền, thì phó lý xã đoàn hầu bái, hương kiểm, hương mục, hầu chinh cổ, lựa hai người miễn sai hay miễn điêu, hầu kiểng trống, và tám người học sinh trong làng làm tỵ lập: và tư lễ, tư nhạc, nếu các người dự tế có tang (từ 9 tháng trở lên) hay bị đau, thì phải cáo trước hai tuần để lựa người quyền tế.

 

Khoản thứ 6:  Trước ngày tế ấy hương chức phái hương dịch lựa trong các ấp những người dân tráng, không tang cớ, đúng bảy giờ sớm ngày 10 tháng 2 ấy, thân dẫn đến nhà ông chủ tế (đều có khăn đen, áo đen, viên hào, hương chức, tộc biểu cũng đều đến phụng nghinh thần sắc lên đình, hầu tế xong khoản đãi rồi (đãi tại nhà hương hội) phụng nghinh thần sắc về nhà ông chủ tế mà tôn trí mới được giải tán.

 

TIẾT THỨ 3: KHÁNH HẠ

 Khoản thứ 7:  Trong làng người nào được thưởng phẩm hàm, văn: hàn – lâm – đãi – chiếu cửu phẩm văn giai và thi đậu tú tài thì lễ mừng 2$00; vo ̃cửu phẩm bá hộ, cửu phẩm đội trưởng, và thi đậu cao đẳng tiểu học bằng cấp thì lễ mừng 1$00 trở lui, tùy theo vị thứ, chức vụ lớn nhỏ mà chuẩn định, còn các khoản khánh hạ khác không thuộc về trong làng thì lâm thời hội định, nhưng không được quá số 1$00.

Các khoản khánh hạ kể trên lâm thời hoặc dùng đối trướng, pháo rượu, hay bạc tùy nghi nhưng không được quá số đã định.

 

TIẾT THỨ 4: ĐIẾU TANG

 

Khoản thứ 8:  Đám tang trong làng, quan viên, chức sắc, khoa mục, thì lễ điếu 2$00 trở lui, chiếu theo phẩm trậc mà chuẩn định, kỳ hào lễ điếu 1$00 trở lui chiếu theo vị thứ mà chuẩn định, tân cựu hương chức miễn sai và miễn điêu, tộc biểu, lễ tiến 0$80 trở lui, chiếu theo chức vụ mà chuẩn định; lão nhiêu, tuyển sinh, yếu lược lễ điếu 0$40, tráng dân 0$30. Các khoản điếu tang kể trên, lâm thời hoặc dùng đối trướng, trẩu rượu, hay bậc tùy nghi nhưng không được quá số đã định.

 

Khoản thứ 9:  Nghi tiễn đưa đám tang, quan viên chức sắc, khoa mục thì làng đưa 4 cây cờ, một cái trống lớn, một cái trống nhỏ, một cái kiểng, môt ban nhạc; xóm đưa 6 cây cờ một cái trống lớn, một cái trống nhỏ, một cái kiểng, một ban nhạc [..] ngoại, kỳ hào có công nghiệp trong làng thì làng đưa hai cây cờ, một cái trống nhỏ, một cái kiểng; xóm đưa 4 cây cờ, một cái trống lớn, một cái trống nhỏ, một cái kiểng, một ban nhạc; tân cựu hương chức có quan bằng và miễn sai, miễn điêu thì làng đưa một cái trống nhỏ,một cái kiểng; xóm đưa 4 cây cờ, một cái trống nhỏ, một cái kiểng; tân cựu hương chức không quan bằng, và tộc biểu, lão nhiêu, tuyển sinh yếu lược thì làng đưa một cái kiểng, xóm đưa một cái trống nhỏ, một cái kiểng, dân tráng thì xóm đưa một cái kiểng những cha mẹ và vợ các người nói ttrên đều chiếu theo vị thứ của con hay chồng mà tống táng, còn về phần âm công, tùy theo số tang chủ trình xin mà cấp cho (các người lai ngụ có tư cách nói trên mà lại có công với làng thì các lễ khánh điếu cũng chiếu theo khoản trên mà làm).

 

Khoản thứ 10:  Các nghi tiết tống chung đã kể trên, lâm thời hương chức dẫn tới chủ tang mà bài liệt, tống táng xong rồi, nếu nhà tang chủ tình nguyện khoản đãi cũng được, nhưng chỉ một tiệc mà thôi, lễ đáp tạ làng xóm, một bàn trầu cau là đủ, còn nhà nghèo không được khoản đãi hàng xóm. Nhưng khi nào tang chủ không dám thừa nhận các nghi tiết tống chung kể trên thì thôi.

 

TIẾT THỨ 5:  HÔN THÚ

 Khoản thứ 11:  Con trai trong làng từ 18 tuổi trở lên, con gái từ 15 tuổi trở lên, mới được gã cưới còn kỳ hạn lễ cưới sau ngày định ước rồi, chỉ trong 6 tháng phải làm lễ cưới. (trừ có duyên cớ ngoại) lễ cưới thì nên để hai nhà trai gái tùy tiện nghị định với nhau, miễn là nhà gái đừng yêu sách quá đỗi thì thôi. Cưới xong trong 8 ngày phải đến hương bộ xin khai vào sổ hôn thú và lãnh trích lục. Nhà con gái không được yêu sách, nếu không tuân trình quan nghĩ trị.

 

TIẾT THỨ 6:

 

 Khoản thứ 12:  Trong làng có 5 ấp (Mỹ Hoà đông, Mỹ Hoà tây, Mỹ Chánh, Mỹ Chánh tây và Mỹ Thanh), mỗi ấp có một điếm canh, số dân đoàn trong làng có 50 người thập đoàn 5 người và dân canh, lý hương chiếu theo số ấy đưa làm phiên thứ, kê liệt họ tên vào bản canh, mỗi đêm trong một điếm dân đoàn 4 tên, đầu canh 3 tên (trong số 3 tên ấy có một người phần đối). Khi tối 7 giờ đều tới điếm canh mà canh gác, mỗi người phải có gậy, đuốc, dây, lâm thời chánh phó xã đoàn, hương kiểm, đoàn thập dẫn đi tuần sát, thì dân canh ở canh, dân đoàn đi tuần (trừ những khi có tin tức động tịnh phải rút hết số dân đoàn đi canh tuần ngoại).

 Khoản thứ 13:  Dân canh ở các điếm canh, hay dân đoàn đi tuần nghe thấy những điều gì thiết hại (như: thủy, hoả, đạo kíp, án mạng v.v…) thì đánh mõ liên thanh, lại một dùi và hô hoán phó cứu; nghe tiếng mõ ấy các điếm canh ấp khác phải đánh mõ tiếp, các đoàn phu ấp khác, phải lập tức chạy đến nơi đó mà tiếp cứu, còn dân canh ở lại điếm canh để phòng triệt, những người trong làng bất cầu người nào (hư dân và ông già,con nít chứ thành đinh ngoại) phải đều chạy tới nơi mà tiếp cứu, nếu người nào trốn tránh, hay là đi chữa lữa mà không đổ cứu hoả, đuổi trộm cướp mà không gậy, dây, đuốc thì phạt từ 0$20 đến 1$00 hay phạt dịch từ một ngày đến năm ngày. Thuộc về sự sưu ẩu thì đánh mõ lại hai dùi, hương chức phải tới nơi sức khởi hành và phân xử, điểm mục, điểm diện và việc bình thường thì đánh mõ lại ba dùi.

 Khoản thứ 14:  Mỗi đêm hương kiểm, chánh phó xã đoàn phải đến điếm canh mà kiểm soát, nếu trong phiên canh có người nào khiếm diện mà không thưa trước thì trích trình hội đại hào mục trình phạt từ 0$20 đến 1$00 hay phạt dịch từ một ngày đến 5 ngày, nếu không tuân chuyển trình quan trên nghĩ phạt.

 Khoản thứ 15:  Trong làng người nào can án, đạo kíp, mới mãn hạn về thì biên vào sổ liên canh sáu tháng, ngoài hạng ấy xét quả có lòng đổi lỗi sẽ được phân phiên canh như dân thường, nếu còn quen theo thói cũ không chừa thì lại biên vào sổ liên canh gia bội (tức là 12 tháng).

 Khoản thứ 16:  Trong làng người nào quần tụ cờ bạc, nấu rượu lậu, chứa thuốc nha phiến lậu hay dung trú những người tha hạc tình nghi thiết đạo, hương kiểm, xã đoàn, tộc biểu phải bắt giãi trình quan trên nghĩ trị, như người không có chức trách mà thám nã được đích tang, hô hoán hoặc do hội đồng dại hào mục báo cáo, chỉ dẫn thì trích bạc công nhu nghĩ thưởng 2$00 và hương kiểm xã đoàn hương dịch tộc biểu không bắt được, thì hội đồng hào mục ghi vào quyển sổ liệt tích để lưu chiếu, sẽ trình quan xét nghĩ.

 Khoản thứ 17:  Các nhà trong làng không được tụ hội đông người, bày ra những cuộc cờ bạc, chè rượu say sưa, như không tuân chủ nhà bị phạt từ 0$20 đến 1$00 hay phạt dịch từ 1 đến 5 ngày.

 Khoản thứ 18:  Nhà nào có những việc gì bất bình, thì gia trưởng và tộc biểu thoả xử không xong thì trình với hội đồng hào mục phân xử. Cấm những vợ chồng, nàng dâu, mẹ gia, anh em, chị em, bà con hay là người ngòai không được cãi lộn nhau nằm vạ, la làng làm cho náo động làng xóm, nếu không tuân sẽ bị phạt từ 0$20 đến 1$00 hay là phạt dịch từ 1 đến 5 ngày. Còn những người đánh lộn nằm vạ ở ngoài đồng, không luận người trong làng hay làng khác thì do lý hương phân xử, trách phạt như trên, nếu không tuân, giải trình quan trên nghĩ trị.

 Khoản 19:  Những tộc biểu trong làng phài dạy bảo con em trong tộc mình, người nào cũng phải tôn kính các bậc tôn trưởng, các người công chức, hoà thuận với anh em chúng bạn, chăm lo sanh lý, không được cờ bạc ngổ nghịch, với bực tôn trưởng, rủ nhau đoàn ba, hê bảy, làm những chuyện phi vi và tụ nhau ăn uống say sưa cãi lộn, đánh lộn, la nói ồn ào, làm mất nhân cách, nếu có người nào không đổi những tính nết nói trên, gia trưởng hay tộc biểu phải trình hội đồng hào mục phân xử từ  0$20 đến 1$00 hay phạt dịch từ 1 ngày đến 5 ngày.

 Khoản thứ 20:  Người trong làng nhà có chứa những người tha hạt, tha tổng phải tường hương kiểm hay xã đoàn biết (trừ những người bà con thân thích ngoại). Nếu không tường mà hương kiểm xã đoàn xét hỏi, người trú ngụ không có căn cước, thẻ thế rõ ràng, thì giải người gia chủ và người trú ngụ trình quan cứu nghĩ.

 Khoản thứ 21:  Trong làng có người khi bị mất trộm, sự chủ báo tường, lý hương lập tức báo trình và tầm nã, nếu tình nghi nhà nào oa trữ đạo tang thì lý trưởng được quyền tới soát, không luận nhà ai không được cản trở, nếu chủ nhà nào không tuân, thì lý hương sức canh giữ nhà ấy, rồi trình quan nghĩ xử. Tất cả dân trong làng bất cầu chánh nghị người nào bắt được tang vật, hay người lấy trộm, thì hội đồng hào mục sẽ ghi hão trạng vào một quyển sổ và nghĩ thưởng như tang số mất một đồng, thì thưởng 0$10 tùy số tang ấy mà đệ gia.

 Khoản thứ 22:  Nhà nào ban ngày hay ban đêm bị đứa gian ăn cắp những đồ vật trong nhà, ngoài vườn như: gà, vịt, heo, chó,hoa, quả v.v…Nếu bắt được tang phạm thì phải báo trình lý trưởng, xã đoàn, hương kiểm xét xử, phạt dịch từ 1 ngày đến 5 ngày, tang vật còn phải trả lại, nếu tiêu mất đi rồi phải truy bồi; nhà nào oa trữ đạo tang ấy đều bị phạt như trên. Khi nào mất trộm mà không tìm ra tang phạm thì sự chủ phải tới tường lý trưởng, hương kiểm tới nơi xét quả, làm biên bản có lân cận ký chứng, sau tìm ra tang phạm sẽ truy cứu bắt bồi và phạt dịch như trên. Cấm những người bị mất những tài vật nói trên không được đứng ngoài đường, trong vườn to tiếng la chưởi ồn ào, nếu không tuân sẽ bị phạt từ 0$20 đến 1$00 hay phạt dịch từ 1 ngày đến 5 ngày (trừ những sự trộm cướp trọng tình, phải trình quan ngại).

 Khoản thứ 23:  Các đồ vật hay sớt sản củ a người nàobị mất trong địa phận làng, người nào gặp được phải đem nộp cho lý trưởng giữ, lý trưởng phải niêm yết các đồ vật ấy ở các điếm canh, hạn trong hai tháng, chủ mất tìm tới xin nhìn nhận, khi nhận phải thưởng cho người gặp được, cứ trị giá đồ mất 1$00 thì thưởng 0$10 và súc vật trừ tiền thưởng ngoại phải trả tiền phí tổn cho người nuôi dưỡng từ ngày được cho đến ngày nhận; nếu quá hạn mà không ai đến nhận thì các đồ vật thường dùng như: gà, vịt, heo v.v.. giao cho người được nhận dùng; như trâu, bò, ngựa và các vật trọng giá thì lý hương phải trình quan, định hạng thông sức cho những chủ mất tới nhìn nhận, nếu quá hạn quan trên đã tự sức mà không ai tới nhận của ấy đem ra phát mãi; phân nữa sung vào hương quỹ làng, phân nữa cho người gặp được (trừ căn cước, thẻ thuế thì lý hương phải nạp quan ngoại; như người tìm được mà giấu đi để tự tiêu, khi phát giác thì người ấy bị phạt từ $20 đến 1$00 hay phạt dịch từ 1 đến 5 ngày; những người đồ được làng phải thâu giữ để trả lại cho chủ mất, nếu tiêu phá đi rồi thí chiếu giá truy bồi.

 TIẾT THỨ 7: TUẦN ĐINH

 Khoản thứ 24:  Trong làng lập một ban tuần đinh 40 người, lựa những người dân cường tráng, trong 5 ấp sung vào, mỗi ấp cử một người tuần trưởng, đốc sức tuần đinh canh tuần, nhưng các hạng hoa lợi ngoài đồng, phần ấp nào thì canh tuần theo địa giới ấp nấy, đồng niên các điền hộ, chiếu theo mỗi niên phải trả lúa tuần 1 ang, mỗi sào 1 bát, thường năm tháng 10, tháng 11 An Nam, thì thâu lúa tuần đinh, số lúa ấy chia làm 10 thành, trích ra 3 thành giao về làng công dụng, còn 7 thành cấp cho dân tuần, nếu tuần đinh canh tuần bất lực, bị mất hoa lợi, thì tuần đinh cứ theo số kê biên hoa lợi hao thiệt, trích lúa tuần của phần mình mà bồi thường, nhưng khi ba lợi bị mất, điền hộ phải tường với lý trưởng, hương kiểm tới nơi khám xét, lời các điền hộ lân cận hội đồng định giá, lập thành biên bản, điền hộ và tuần trưởng ký chỉ, lân cận dự tri, lý trưởng giữ lấy biên bản ấy, rồi đến kỳ thâu lúa tuần xong, mới chiếu số mà trích bồi; Nếu tuần đinh bắt được kẻ trộm, thì người đầu đinh phải chịu trách nhiệm, tuần đinh khỏi phải bồi thường, tuần đinh không bắt được thì tuần đinh phải bồi thường, lấy của tuần đinh bồi thường ấy mà thưởng công cho người bắt được, còn năm người tuần trưởng xét quả có lòng mẫn cán, đến khi thâu lúa tuần xong rồi, hội đồng đại hào mục trích trong số lúa 3 thành, mà của dân tuần chia cho làng mà nghĩ thưởng. Còn lúa công tuần trưởng thì cũng chia đồng phần với dân tuần trong số 7 thành nói trên, những người đạo đinh, trừ bồi thường ba lợi ngoại, còn phải phạt dịch từ 2 ngày đến 10 ngày, hay phạt bạc từ 0$40 đên 2$00.

Khoản 24 này sau lại có xin cải bộ Toà lĩnh đã y cho như sau này:

Nay hội đồng làng chúng tôi đồng ứng xin đổi khoản thâu lúa ấy đi, thâu bạc cứ mỗi mẫu 0$20, thâu theo kỳ thuế cho tiện, phần thâu bạc tuần đinh ấy, giao cho đương thứ chánh xã đòan thâu nhận biên lai minh bạch, thâu xong số bạc chia ra 10 thành, 3 thành sung vào hương qũy để công dụng, còn 7 thành cấp cho tuần đinh.

 

TIẾT THỨ 8: VỆ NÔNG

 Khoản thứ 25:  Trong mùa hoa lợi, cấm không được thả trâu, bò, heo, gà, vịt, chó, ăn phá hoa lợi, và không được bẻ trộm măng của người nào, sự chủ hay tuần đinh bắt được, thì người có súc vật, và người bẻ trộm măng phải chiếu giá bồi thường và phạt bạc từ 0$20 đến 1$00 hay phạt dịch từ 1 ngày đến 5 ngày.

 

Khoản thứ 26:  Các sở ruộng đất trong làng, nguyên có mương nước để đến khi mưa lụt cho nước chảy lưu thông, hoa lợi ruộng thấp khỏi bị ngập thúi, cấm không ai được ngăn đắp từng đoạn, tát nước bắt cá, và cuốc lấn bờ mương hay cấy lúa trong đường mương, làm cho nước không lưu thông được, nếu ai không tuân thì bị phạt, từ 0$20 đến 1$00, hay phạt dịch từ 1 ngày đến 5 ngày.

 

Khoản thứ 27:  Các chủ có ruộng sâu hay ao chứa nước nuôi cá, thì không được người nào đem nơm, lưới tới bắt lén, nếu không tuân thì phạt bạc từ 0$20 đến 1$00, hay phạt dịch từ 1 ngày đến 5 ngày.

 

Khoản thứ 28:  Các chủ ruộng đất có chứa nước để cày cấy hay dưỡng hoa lợi thì không ai được lén phá bờ tháo nước qua ruộng mình và không được cuốc bờ ruộng của người khác, nếu không tuân thì sẽ bị phạt như khoản 27 đã định, và phải bồi thường tổn hại (cứ tính ruộng đất gieo một ang lúa giống thì phải bồi tổn hại nước

1$00, còn bờ ruộng xâm lấn thì phải tu bổ lại như nguyên).

 

Khoản thứ 29:  Cấm không được nuôi vịt khôn thả nơi ruộng ao của người khác, để tránh khỏi trâu bò bị uống nước ấy mà sanh ho, nếu người nào không tuân, thì hội đồng đại hào mục nghĩ phạt từ 0$40 đến 2$00 hay phạt dịch từ 2 ngày đến 10 ngày và không được báo lạc túc.

 

Khoản thứ 30:  Cấm không được cho trâu, bò, ngựa ăn nơi đường hoả xa, đường tổng lộ, hương lộ, hay cuốc phá thân đường, nếu không tuân thì phạt từ 0$20 đến 1$00, hay phạt dịch từ 1 ngày đến 5 ngày và phải đắp sửa lại như nguyên.

 

TIẾT THỨ 9:  CÔNG ÍCH CÔNG LỢI

 Khoản thứ 31:  Trong làng có hai sở núi cấy tranh và một vườn  đình trồng chay, mít để làm công dụng đồng hương, thường năm hương chức trích số công tư hương, lưu ích đem dẫy dọn cỏ rác, hay trồng thêm chay, mít, tranh, cấm không được thả trâu bò, hay cắt đốn trộm, nếu không tuân, thủ khoán bắt được, trình hội đại hào mục nghĩ phạt từ 0$20 đến 1$00 như tang vật còn, thâu để sung công, tang vật không còn, chiếu giá sức bồi; nếu không bắt được tang phạm, thì thủ khoán phải chịu bồi thường.

 

TIẾT THỨ 10:  VỆ SINH CÔNG CỘNG

 Khoán thứ 32:  Nhà nào ở gần đường tổng lộ, hương lộ, đều phải quét dọn cho sạch sẽ, không được tốc rác hay đổ những vật uế trên đường (các mương nước cũng thế) người nào có trâu, bò, ngựa, heo, chó chết đem chỗ nào cách nhà người ta ở 1 kilometre mà chôn thật sâu. Còn gà, vịt, mèo, chuột v.v.. chết, phải đem đến nơi cách nhà người ta ở 500 metre, mà chôn thật sâu, không được đem những súc vật chết, chiếu manh, giẻ rách, giừơng tre hay các đồ uế khác bỏ ngoài đường, mương nước, sông, suối hay trên những đám đất ruộng, và hai bên các con đường gần nhà người ta ở, nếu không tuân phạt từ 0$20 đến 1$00 hay phạt dịch từ 1 ngày đến 5 ngày.

 

Khoản thứ 33:  Các giếng để uống nước phải xây thành, hay rào cho cao độ 0m60, chung quanh giếng dẫy dọn cho sạch. Cấm không ai đựơc đem những đồ mền chiếu, quần áo giặc nơi bờ giếng, và không được tắm để cho được sạch sẽ, nếu không tuân sẽ bị phạt như khoản 32 đã định.

 

TIẾT THỨ 11:  CẦU CỐNG ĐƯỜNG SÁ

 Khoản thứ 34:  Trong địa phận làng, có 4 cái cống, 4 cái mương, và con đường tổng lộ, hương lộ, mỗi năm tháng giêng phó lý hương mục phải trích số dân lưu hương tư ích mà tu bổ, vét dọn cho được đường sá sạch sẽ, mương ngòi lưu thông; nếu số công lưu hương tư ích không còn, thì phải bắt dân bần cùng và cậy dân ngụ để ứng hành, nhưng số nhu dụng nhân công phải kê biên cho minh bạch rồi trình hội đồng đại hào mục cứu xét; nếu phó lý, hương mục không chăm lo về khoản kể trên thì hội dồng đại hào mục trình quan nghĩ phạt. Người nào tự tiện đào mương trên mặt đường cũng bị phạt như khoản 32, và phải sửa đắp ngay lại trừ những khi nào cần cho mương nước rút ngang qua đường thì phải làm cống, đặt lù.

 

TIẾT THỨ 12:  CỨU TAI TRUẤT NẠN

 Khoản thứ 35:  Các nhà trong làng phải dự bị những đồ cứu hoả (ống thụt, mo, gàu, vò, ui). Gặp khi nhà nào bị phát hỏa, thì người trong làng lập tức đem đồ trong cứu hỏa tới cứu, nếu người nào không có đồ cứu hoả mà chạy không, thì phạt từ 0$20 đến 1$00 hay phạt dịch từ 1 ngày đến 5 ngày. Khi cứu chữa xong rồi, nhà giàu bị thất hỏa, thì người trong ấp, nhà giàu giúp một ang gạo hay 0$40, nhà thường giúp 3 tấm tranh, hai cây tre hay 0$25, nhà nghèo giúp 2 ngày công, chủ nhà dọn cơm một bữa trưa; nhà nghèo bị thất hoả, thì người trong ấp nhà giàu giúp 2 ang gạohay 0$80, nhà thường giúp 3 tấm tranh, 2 cây tre hay là 0$35 và một ngày công, nhà nghèo giúp hai ngày công, chủ nhà khỏi phải dọn cơm còn về phần làng xóm, đối với nhà thường hay nhà nghèo trong khi thất hỏa, thì hoặc cho tranh tre hay tiền lúa, lâm thời sẽ hội định (nhưng xét quả đứt tình mới được hưởng phần cứu truất kể trên).

 

Khoản thứ 36:  Trong làng có người nào bị bịnh hoạn gấp rút mà không thân nhân lo chạy thuốc thang, thì người lân cận phải chăm nom giùm, hay thấy người nào qua đường bị bịnh hoạn nguy cấp thì phải đem dầu thuốc cưú cấp, rồi báo tường lý hương đem tới nhà thương cứu chữa.

Nếu gặp thấy mà bỏ lơ, thì phải bị phạt từ 0$20 đến 0$60 hay phạt dịch từ 1 ngày đến 3 ngày (các tai nạn khác cũng thế).

 

TIẾT THỨ 13:  GIÁO DỤC

Khoản thứ 37:  Trong làng có hai nhà trường học, 1 trường ngói, 1 trường tranh hiện dạy 3 lớp, phụ huynh trong làng, nên khích khuyến đông con em vào học, mỗi năm đến kỳ nghỉ nắng, hội đồng hạch tấn ích 1 vòng, trích của công nhu 2$00 mua giấy, mực, viết, trò nào đậu đặng số 7 trở lên thì được dự lãnh phần thưởng.

 

Khoản thứ 38:  Trong làng trò nào đậu bằng cấp Primaire thì trích của công nhu thưởng 1$00, bằng cấp cao hơn nữa thì chiếu số đó mà đệ gia còn thuộc về các công nghệ khác, nếu người nào học thành nghề tinh xảo, được quan trên cấp cho giấy thưởng, thì cũng trích của công nhu nghĩ thưởng 1$00.

 

TIẾT THỨ 14:  TÀI CHÁNH

 Khoản thứ 39:  Trong làng không có ruộng đất công, chỉ có ruộng đất đồng hương 10 mẫu, chiếu theo tục lệ lưu truyền xưa nay có tờ ước định, ruộng đất nào đã bán đoạn, quyền lợi về làng, thì làng cho dân làm rẻ, chia nữa phần ba lợi hay cho dân lãnh canh, trả tiền trước, ruộng đất nào bán lai thục, chủ bán còn quyền lợi, thì chủ bán được lãnh canh lại, chiếu theo giá ruộng đất bán 100$ phải trả bạc lãnh canh 5$00, trong một năm, nếu năm nào ba lợi cao thì bạc lãnh canh gia thêm một ít, lâm thời sẽ hội định. Mỗi năm tháng 3, tháng 4 thì thâu trước số bạc lãnh canh ấy, nếu người nào không muốn lãnh canh nữa, cũng trong kỳ hạn đó mà giao ruộng đất lại cho làng, để làng cho người khác lãnh, hay cho làm rẻ chia một nữa phần ba lợi. Số bạc cho lãnh canh và ba lợi chia ấy sung vào hương qũy, giao hương bổn nhận giữ; cước chú vào sổ thâu hương qũy để chi chuẩn các khoản tế tự, và các khoản chi tiêu đồng niên trong làng, còn bao nhiêu chiếu theo số dân đinh mà bổ trợ thâu thuế (nếu người lãnh canh không y ước thì nghĩ phạt hay trình quan).

 

Khoản thứ 40:  Những bộ tịch, đơn bằng, khế khoản, hương ước của làng thì giao đương thứ hương bộ nhận giữ, còn tự khí, tự vật của làng thì giao cho đương thứ hương bổn nhận giữ, có bản kê biên giao nhận rõ ràng (tờ nhận giao  viên hội trưởng đại hào mục nhận giữ) nếu thơ khí kể trên thất soát thì trình quan nghĩ trị, tự khí tự vật thất soát thì bắt bồi thường.

 

TIẾT THỨ 15:  PHÂN BỔ SƯU THUẾ

Khoản thứ 41:  Mỗi năm đến kỳ thâu thuế, sau khi lãnh bài chỉ đinh điền, lý trưởng phải trình với hội đồng hương thôn đại hào mục chiếu tính, người nào ruộng đất bao nhiêu, thuộc hạng gì phải nạp thuế bao nhiêu, kê biên niêm yết rõ ràng, rồi giao cho lý trưởng theo thâu, nếu lý trưởng phù thâu phải trình quan nghĩ trị.

 

TIẾT THỨ 16:  TẠP LỆ

 Khoản thứ 42:  Trong làng các nhà trồng mì, sắn, khi bới lên xắt phơi, phải phơi ở nơi sân gạch, hay trên đá, nong, cót cho thật khô, và không được để cho bụi đất thấm vào, còn các người mua […](mua đi bán lại) mì, sắn, bắp cấm không được rưới nước, trộn đất cát vào để cho nặng cân, nều không tuân lần thứ 1 phạt từ 0$20 tới một đồng, lần thứ 2 trình quan nghĩ trị. Những nhà lĩnh mua mì, sắn, bắp phải xem xét cho cẩn thận, nếu sai suất mà mua lầm những mì, sắn bắp không tốt như nước và dính đất, cát v.v.. khi giác xuất như số ít từ 300 kg trở lui thì phạt như lần thú 1 ở trên, còn về số nhiều trình quan nghĩ trị.

 

Khoản thứ 43:  Các khoản thâu kể trên, trừ tiền lúa (và bạc phạt v.v..) do hương bổn thâu nhận, biên vào khoản thâu sổ hương kỷ, các khoản chuẩn kể trên như (tế tự, khánh điếu, công dụng, bổ sưu, nghĩ thưởng) thì do hương bổn chi xuất, biên vào khoản chi sổ hương kỷ, hương bổn phải lập một bản sổ tồn căn để đối chiếu.  Nếu phù chi lạm chuẩn thì bắt bồi thường và trình quan xét nghĩ, còn về phần công phạt dịch kể trên, thì giao hương mục hương dịch kiểm nhận, dẫn tu bổ vườn đình, nhà hội điếm canh, và trồng cây các rừng làng hay dẫy đắp các con đường trong làng, nếu hương mục, hương dịch không thực hành, trình quan nghĩ trị.

 

Khoản thứ 44:  Hội đồng đại hào mục mỗi năm chia làm bốn kỳ đại hội đồng (trừ thường hội ngoại) rằm tháng 3, rằm tháng 6, rằm tháng 9, rằm tháng chạp An Nam để bàn định các việc làng, hiểu cáo các trật tự, luân lý, các việc cầm phòng, trù các việc lợi ích chung xét sổ hương quỹ, sổ tư ích, xét nhơn thể bộ, hiểu khuyển những việc mở mang học vụ, công nghệ, kinh tế v.v.. mỗi mai ngày ấy 7 giờ, hương dịch tới trước tại nhà hương hội đánh trống ba hồi lại ba dùi, thì các viên chức trong hội (trừ người nào có duyên cớ đã cáo khiếm diện trước, với đại hào mục ủy viên ngoại) đều phải tề tựu để bàn định ngày đại hội hay thường hội, nhơn dân trong làng có điều gì bất bình, thì tới trình hội đồng xét xử, nếu không phục tình sẽ cho quan tố cáo, nếu buổi mai bàn định hay phân xử chua xong, thì chiều hai giờ ngày ấy, đều phải tề tựu nghĩ định cho xong việc, khi đại hội đồng xong rồi, đệ biếu bản trình quan duyệt chiếu; như người nào không duyên cớ gì lại không cáo trước mà khiếm diện thì sẽ bị phạt mỗi lần 0$20 nếu không tuân trình quan nghĩ trị.

 

Khoản thứ 45:  Kỳ đại hội đồng hay thường hội đồng không được chi chuẩn ăn uống, nước chè, nếu hương bổn chi chuẩn phải bồi thường (trừ uống nước chè, ăn trầu và những việc quan khẩn phải chi chuẩn ngoại).

Trong hương ước này cộng là 45 điều khoản khi nào dưng quan trên duyệt y phúc sức sẽ thi hành lần đầu, nếu sau này có khoản gì đáng cải bổ, hay đáng bổ nghị thêm thì làng chúng tôi sẽ tục nghĩ bẩm hầu, duiyệt y thi hành.

 

Nay hương ước

 Cửu phẩm văn giai sung đại diện ủy viên       Hồ Nguyên Phong

Bác phẩm đội trưởng                                       Huỳnh triêm

Bổ thọ chánh tổng sung đại hào mục              Huỳnh Dung

Cửu phẩm đội trưởng                                       Võ Bông

Phó tổng dụng                                                  Bùi Hành

Cựu thủ sắc sung đại hào mục                        Phạm Vận

Cựu thủ sắc sung đại hào mục                        Trịnh Hưng

Thủ sắc sung đại hào mục                               Bùi Tích

Cựu đại hào mục                                              Nguyễn Dụng

Cựu lý trưởng                                                   Phạm Để

Cựu dại hào mục                                              Trần Nhiễu

Cựu dại hào mục                                              Nguyễn Trước

Tộc biểu cựu chánh xã đoàn                            Lâm Liên

Tộc biểu cựu hương bộ                                     Bùi Hường

Tộc biểu cựu phó lý                                          Nguyễn Lộc

Tộc biểu cựu phó lý                                          Bùi Di

Tộc biểu cựu phó xã đoản                                Cù Lâm

Tộc biểu cựu hương kiểm                                 Bùi Hịch

Tộc biểu cựu hương mục                                  Phạm Cầm

Tộc biểu cựu hương mục                                  Nguyễn Tặng

Tộc biểu cựu lý hương                                      Bùi Uất

Tộc biểu thơ ký                                                 Nguyễn Hương

Tộc biều cựu chủ ấp                                         Phạm Lương

Tộc biểu cựu chủ ấp                                         Trịnh Xáng

Tộc biểu cựu chủ ấp                                         Nguyễn Qùy

Tộc biểu cựu thơ ký                                          Võ Hiến

Tộc biểu                                                            Huỳnh Điển

Tộc biểu                                                            Đoàn Ât

Tộc biểu                                                            Phạm tuân

Tộc biểu                                                            Lý A

Tộc biểu                                                           Nguyễn Công Quát

Tộc biểu                                                           Bùi Toản

Tộc biểu cựu thủ sắc                                       Trịnh Lịnh

Tộc biểu cựu thủ sắc                                        Phạm Tạo

Tộc biểu cựu hương mục                                  Võ Điện

Tộc biểu cựu phó lý                                          Phạm Duy

Tộc biểu                                                            Huỳnh chước

Cựu hương bộ                                                   Hồ Nguyên Phụ

Hương bổn                                                        Huỳnh Cơ

Hương kiểm                                                      Bùi Liệp

Hương kiểm                                                      Bùi Phú

Hương mục                                                       Phạm Tuất

Chánh xã đoàn                                                Trịnh Nhỏ

Phó lý                                                               Nguyễn Mai

Phó xã đoàn                                                     Hà Lang

Phó hương bộ                                                   Phạm Duân

Hương dịch                                                       Bùi Thuế

Hương dịch                                                       Nguyễn Phòng

Hương dịch                                                       Phan Lý

Hương dịch                                                       Đoàn Thưởng

Hương dịch                                                       Phạm Phú

Lý trưởng                                                         Phạm Quy

Hương bộ                                                         Nguyễn Dĩnh

 

Phụng duyệt đệ

Tri phủ

Ký tên: Phạm đình Long

 ——————–

(*):  Làng Phủ Lễ nay là thôn phủ Lễ, xã Bình Trung, huyện Bình Sơn.

 

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: