LÀNG THI PHỔ NHÌ

 HƯƠNG  ƯỚC  LÀNG  THI  PHỔ  NHÌ

TỔNG  LAI  ĐỨC,  PHỦ  MỘ  ĐỨC

 

Chúng tôi là viên kỳ, lý hương và tộc biểu làng Thi Phổ Nhì, tổng Lại Đức, phủ Mộ Đức, tỉnh Quãng Ngãi, xin châm chước theo trình độ tấn hoá hiện thời, lập ta bản hương ước, chia từng mục khoản phân minh, để chỉnh đốn lại trật tự trong làng, cho trên viên chức có chỗ nương theo, dưới nhân dân biết bỏ thói xấu mà theo điều hay.

 

I.  MỤC TỌA THỨ TRONG LÀNG

 

Khoản thứ 1:  Phàm những người nào dự hạng chức sắc và được ân điển thọ biên, thọ dân hay người tuổi được tám mươi trở lên mà có danh vọng trong làng đều theo thứ tự chia ngồi hai bên tả hữu tại gian giữa đình. Hạng miễn sai, miễn điêu, đại hào mục, kỳ hào, chủ bái, kỳ mục, đương thứ lý hương, tộc biểu, thí sinh đều ngồi gian bên tả, đồng hàng chuộng tuổi.

Những người trên dưới bảy mươi tuổi, những tân cựu hương chức, thập đoàn, những kẻ đậu bằng tiểu học yếu lược và xã dân đều ngồi tại gian hữu, lấy tuổi làm thứ tự. Phàm danh sắc đồng nhau thì người nào có được ân hưởng huy chương ngồi trước. Còn những người nào có tội đồ thì ngồi riêng chiếu khác.

 

Khoản thứ 2:  Khi nhóm tại nhà hội của mỗi ấp thì cứ chiếu theo cách tọa thứ tại đình như trên mà ngồi, khi ra đi một lần với nhau thì người tôn trưởng đi trước, kẻ ti ấu đi sau, không được vượt bực, nếu ai trái phạm phải phạt bạc hai giác hay phạt xâu một ngày.

 

II.  MỤC TẾ TỰ

Khoản thứ 1:  Hai làng (Thi Phổ nhứt và Thi Phổ nhì) thờ chung một ngôi đình, có đặt người từ thừa ở coi sóc, người này được trồng trọt ăn ba lợi trong vườn đình. Thường năm hễ đến lệ nguyên đán và tam nguyên, y phải sắm hương đèn, hoa quả, phẩm vật dưng cúng, nếu y không tròn bổn phận thì làng bãi bỏ, đặt người khác thay.

 

Khoản thứ 2:  Thường năm đến ngày hai mươi tháng ba tế kỳ an tại đình và tế miếu, tế ngoại đàn luôn, người dự tế, hầu tế, lễ nhạc, và cách phân chịu phẩm vật theo lệ định như sau: từ khi rước sắc, tế lễ đến khi đưa sắc chỉ nên sắp đặt nội trong một ngày từ giờ ngọ về trước, không được dây dưa.

 

Khoản thứ 3:  Phụng thủ sắc thần thì thay phiên mỗi xã hai năm, số dân rước sắc mỗi xã mỗi nửa, hương nghi hương lễ và chinh cổ mỗi xã mỗi người, thị lập mỗi xã sáu người, phân hiến hai bên bốn giòng mỗi xã hai người, còn như chủ bái và sanh phẩm thay phiên phân chịu như sau:

 

Khoản  thứ 4:  Như năm nào người đứng chủ bái trong đình thuộc về làng nhì thời tế phẩm tam sanh tại gian giữa và hai gian tham thiên lưỡng địa làng nhì phải chịu, còn hai gian tiền hậu hiền đều có sanh trư phẩm vật và hai gian tả hữu đều có bàn soạn phẩm vật thời làng nhất phải chịu. Tế xong phần xã nào nấy nhận để cấp biếu đãi đằng.

 

Khoản thứ 5:  Đến năm người đứng chủ bái trong đình thuộc làng nhứt thời tế phẩm gian giữa và hai gian tham thiên lưỡng địa thì làng nhứt phải chịu, tế phẩm tại hai gian tiền hậu hiền và hai gian tả hữu làng nhì phải chịu. Tế xong nhận phần như trước.

 

Khoản thứ 6:  Người đứng chủ bái đàng miếu thì thuộc làng, người đứng chủ bái trong đình lựa đặt, chinh cổ mỗi xã mỗi người, tế nghi và toàn sanh phẩm vật đều do làng ấy sắm biện, tế xong cẩn người chủ bái cái đầu heo ấy và lòng tộ chinh cổ mỗi người mỗi lòng tộ, tế vật giao xã ấy thâu nhận.

 

Khoản thứ 7:  Người đứng chủ bái ngoại đàn là do làng không có chủ bái, lựa đặt trong đình lựa đặt, còn phân hiến và chinh cổ mỗi xã hai người, tế nghi sanh […] phẩm vật thời xã ấy phải chịu, tế xong kỉnh người chủ bái một đầu heo và lòng tộ, mỗi người phân chia nữa cái nọng heo và lòng tộ, tế vật giao xã ấy thâu nhận.

 

Khoản thứ 8:  Ngày tế kỳ an, lệ có xứ năm bầu đến cúng số tiền 20 quan, thì làng nào có người dứng chủ bái trong đình năm ấy thâu nhận khoãn đãi và thỉnh nhạc, đãi nhạc va trả tiền công cho nhạc.

 

Khoản thứ 9:  Tế kỳ an xong trước trí kỉnh các nhà thờ tiền hậu hiền, nhà thờ quan khai khoa hậu hiền, nhà thờ các ông bà cúng ruộng vườn, sau cẩn quan, thủ chỉ, đại hào mục, kỳ hào, chánh phó tổng đương kim trong làng, và chánh phó lý trưởng mỗi người đều lòng tộ, kỉnh người đứng chủ bái ba cái đầu tam sanh và lòng tộ, chinh cổ mỗi người mỗi lòng tộ, hương nghi, hương lễ mỗi người mỗi lòng tộ, sáu người thị lập mỗi người mỗi miếng thịt biếu, như gặp năm thỉnh nhạc thì cẩn nhạc lòng tộ và tiền công. Sắp cẩn xong, lý trưởng phát giao người nào nhận cẩn phải lấy chữ ký nhận người ấy minh bạch cho khỏi thất lạc; nếu ai làm trể thiếu phảiphạt bạc bốn giác hay phạt xâu hai ngày.

 

Khoản thứ 10:  Tế xong, sắp cẩn xong, tuỳ người khoản đãi, trên người từ viên kỳ hương chức và những người dự tế hầu tế, dưới đến dân rước sắc tạp sai, cứ theo thứ lớp, bàn soạn đều phải một cách như nhau. Còn như xã dân ở nhà đến sau thì theo thứ khoản đãi.

 

Khoản thứ 11:  Lễ đông chí tại đình tế một heo và phẩm vật, người đứng chủ bái tại đình năm ấy đứng tế, như gặp duyên cớ thời lựa kỳ cựu hương chức thay, tế xong kỉnh người chủ bái một đầu heo và lòng tộ, còn dư bao nhiêu khoản đãi cả (các khoản tế lễ từ trên đều lấy bạc công qũy dự trù chi).

 

Khoản thứ 12:  Hai làng thờ chung một chùa, có ruộng tam bửu cho người mướn cày lấy tiền giao thày tu cúng niệm, mỗi năm một trăm bốn mươi quan, trong chùanào tượng Phật, nào đồ thờ bao nhiêu thầy tu phải làm giấy nhận, ba lợi trong vườn chùa cho thầy tu ấy ăn, khi nào thầy tu ấy xin thôi, thày khác đến thay, thì hai làng nhóm lại xét đến vật hạng như có cái gì lạc mất, thì cứ thầy trước bắt thường.

 

Khoản thứ 13:  Mỗi ấp đều có một cái dinh và một sở ngoại đàng, một sở nghĩa lũng, thường năm đến rằm tháng giêng tế xuân – thu tế một lần và lễ nguyên đán, lễ tam nguyên, lễ kỷ niệm, niên để, mỗi mỗi đều do công qũy dự trù chi tiêu.

 

Khoản thứ 14:  Mỗi khi tế xuân thủ tại dinh mỗi ấp thời rước sắc và đưa sắc nội trong một ngày từ giờ tỵ về trước không được dây dưa, gian chánh tẩm trong miếu thời dụng một con heo toàn sanh, hai gian tả hữu thì dùng gà hay vịt và phẩm vật, ngoại đàng thì dùng một con bò hay một con heo phân phối và phẩm vật, tế nghĩa lũng thì dùng heo một con tể tát và phẩm vật.

 

Khoản thứ 15:  Trong dinh thì lựa quan viên hay người già cả có đức vọng đứng chánh bái, đặt tân cựu hương chức đứng phân hiến, tân cựu phó lý hay thập đoàn đánh chinh cổ, như không có ấp nhạc, thì rước nhạc khác, không có ấp lễ, thời hương lễ phải kiêm. Lựa người kỳ cựu hương chức đứng chủ bái ngoại đàng, lựa người tân cựu hương chức đứng phân hiến; như ngoại đàng lựa chưa có người, thời những người dự tế nội đàng phải kiêm tế.

Lý trưởng lại đứng chủ bái nghĩa lũng, như gặp duyên cớ, thì lý trưởng lựa người khác đứng thế, đương thứ hương chức đứng phân hiến (như không có phân hiến cũng đặng) chinh cổ và lễ nhạc đàng trong phải kiêm luôn hai đàng ngoài.

Tế xong cẩn mỗi người chánh bái mỗi đàng một đầu heo hoặc đầu bò lòng tộ, nhạc lòng tộ và tiền công.

Khoản đãi thời trước viên kỳ tân cựu hương chức lễ nhạc, sau những người biêu cúng và dân rước sắc tạp sai, bàn soạn một cách như nhau, còn trong ấp ai đến sau sẽ khoản đãi lần lần, kỹ dối tùy theo cảnh ngộ, không dược chĩ trích.

Mỗi ấp đến khi tế miếu những người kiều ngụ trong ấp lệ phải đến biêu cúng, những người biêu cúng ấy, ưng chia làm ba hạng: hạng trên phải cúng mỗi người ba quan, hạng giữa hai quan, còn hạng dưới khi nào trong ấp có việc mỗi năm bắt làm xâu hai ngày chớ không đứng vào lệ biêu cứng, tiền biêu cúng ấy phụ tiêu tế lễ xuân thủ còn bao nhiêu nạp vào công qũy.

 

Khoản thứ 16:  Trong hai ấp có chia ra từng xóm, mỗi xóm đều có miếu, do dân chánh ngụ từng xóm lập thờ, đến khi cúng tế thì người xóm ấy định liệu tùy ý, song không được nhơn việc cúng tế mà sanh ra rắc rối, nếu xảy ra sự gì quan ngại, trừ việc hệ trọng trình quan xét ngoại, xóm ấy phải phạt bạc một đồng (từ đây trở lui, món phạt bạc nào cũng bỏ vào công qũy).

 

Khoản thứ 17:  Trừ các nhà thờ tiền hậu hiền ra, còn các họ riêng, nhà riêng, có tế lễ gì, chỉ nên làm lễ trong một ngày, không phép kéo dài nhiều bữa, chỉ những người bà con nội ngoại và thông gia được đến dự lễ mà thôi, không được nhóm họp người ngoài, nếu trái lệ phải phạt bạc năm giác.

 

Khoản thứ 18:  Các nhà riêng gặp việc mừng hay khẩn nguyện bày lễ gì mà nhóm mời khách bạn, cũng chỉ bày trong một ngày mà phải trình với lý kiểm xét biết để khỏi nghi ngại, nếu trái lệ phạt bạc một đồng.

 

III. KHÁNH ĐIẾU  –  KHAO VỌNG  –  HÔN LỄ

 

Khoản thứ 1:  Trong làng ai được thăng quan hay thi đậu, ai được ân thưởng sắc bằng, hay được ân thưởng thọ viên, thọ dân mà bày tiệc mừng, thời dùng đối liễn hoặc chè rượu đến chúc vui, chủ nhà có dọn tiệc đãi đằng, thì không được say sưa nói lớn tiếng có lỗi.

 

Khoản thứ 2:  Trong làng gặp ai làm nhà, thời người ở láng giềng nên đến gíup việc, nếu chủ nhà giàu có đãi đằng thế nào tùy ý, đến như nhà nghèo khó chẳng cần dọn đãi, những người giúp việc ai về nhà nấy mà ăn, hoặc người nào đến giúp tiền giúp gạo cũng không được khoản đãi, đặng khỏi phiền chủ nhà.

 

Khoản thứ 3:  Trong xã gặp cuộc đưa ma, trừ khi đưa tang các quan viên và người được ân thưởng thọ dân thì dùng cờ trống bao nhiêu ngoại. Còn đưa hàng kỳ cựu hương chức chỉ dùng bốn lá cờ trắng, một cái kiểng và một cái trống nhỏ, đến hạng dân tráng trở xuống chỉ dùng một cái kiểng mà thôi. Từ khi chết đến ngày chôn hạn lâu nhất là một tuần nhựt không được để lâu, nếu người chết vì bịnh truyền nhiễm thì phải chôn cất liền; bà con bạn hữu ai có cảm tình đến chia buồn mà giúp việc cúng lễ vật ít nhiều tùy ý, người chủ tang không nên bày tiệc đãi đằng.

Trừ nhà tầm thường khi gặp việc tang, tự tiện mượn người chôn cất ngoại; còn nhà nào giàu có, muốn đến làng xin dân bao nhiêu để giúp việc, thời hương lý trưởng phải tính chia bạc công qũy phát cho mỗi tên dân một giác, đến ngày giờ đã định bắt dân ấy đến nơi phân bác các việc, chôn cất xong ai nấy đều tảng về nhà không được trở lại nhà tang làm phiền, số bạc phát cho dân ấy, sau người chủ tang phải trả vào công quỹ.

 

Khoản thứ 4:  Trong làng người nào được thăng hàm, bổ quan, và thi đậu hoăc ân thưởng sắc bằng mà xin yết cáo đình miếu, thết đãi xóm làng viên chức thời dùng trầu rượu mà yết lễ; đến như tiệc đãi thời tùy sức mỗi nhà không được xa xỉ quá độ, người nào đến dự tiệc nếu ai say sưa vô phép thời phạt bạc hai giác.

 

Khoản thứ 5:  Trong làng người chánh hay người ngụ bày tiệc hát ma xin yết cáo đình miếu thời phải sắm đủ mỗi chỗ một bàn trầu rượu vàmột con heo để làm lễ yết, viên chức phảilựa một người đứng dự cáo, yết xong người chủ đám đem lễ vật ấy về nhà soạn, cẩn người dự cáo một đầu heo và lòng tộ, cẩn viên kỳ và đương thứ lý hương mỗi người một lòng tộ, chẳng đặng sơ suất, người chủ đám có trình xin làng đến coi sóc, thời đương thứ hương nên thân đến sức bác canh phòng để khỏi nghi ngại.

 

Khoản thứ 6:  Trong làng con trai phải đúng mười tám tuổi tròn trở lên, và con gái phải đúng mười lăm trở lên mới được cưới gã, từ lễ hỏi đến lễ cưới chỉ hạn trong một thời kỳ lâu nhất là sáu tháng, không được để nhiều năm sanh việc lôi thôi, lễ vật cưới hỏi thời do hai họ thuận nguyện nhau, và cấm nhà gái yêu sách nhà trai qúa, nếu trái lệ phạt nhà gái bạc năm giác. Cưới xong, hạn trong tám ngày phải tường với hương bộ trước bộ, không được ẩn mặt.

 

IV.  MỤC KIỀM PHÒNG

ĐỘNG TỊNH  –  ĐẠO KIẾP  –  CANH BA LỢI

 

Khoản thứ 1:  Trong bộ làng tùy theo từ khu vực, như nhà ở liên hiệp nhau được trên sáu mươi dân tráng thời lựa chỗ nào thiết yếu mà lập một cái điếm canh, cứ mỗi tuần lễ phân làm một ban mà canh tuần, mỗi đêm trong mỗi chòi canh phải có sáu tên dân canh trở lên và hai người đốc canh, trong chòi canh phải phòng bị cho có sạp chiếu đủ dụng, đuốc đôi cây, một cái mõ, còn dân canh phải sắm cho có cây gậy, chia phiên nhau mà canh tuần, bất kỳ hương kiểm, xã đoàn đến soát nếu có sơ suất bỏ phế thời phạt đốc canh mỗi người hai giác hay phạt xâu một ngày.

 

Khoản thứ 2:  Đến ban đêm người đốc canh đến chòi đánh mõ, thời dân canh phải đến đông đủ chia phiên một nữa ở lại chòi canh giữ, một nữa đi tuần khắp trong khuôn vứt, đến nữa đêm thay phiên lại; nếu ở chòi canh phải ngồi mà xem chừng, không được nằm ngủ, còn đi tuần thì người đốc canh phải xách đuốc, người dân canh phải cầm gậy, yên tịnh xem xét chẳng được ồn ào. Gặp khi kẻ gian trộm chạy trốn hay chống cự lại thời phải đánh mõ cho nhặt để các chòi canh khác nghe tiếp đến mà chận đón mấy đường cái thiết yếu.

 

Khoản thứ 3:  Các dân canh trong khi đi tuần như thấy nhà vườn ai có chỗ nghi ngờ, thời phải kêu thức người trong nhà dậy, bảo phải soi xét. Nếu ban đêm thuộc về khu vực nào có người bị mất trộm, trình vớilý kiểm xét qua, thời những người dân canh trong chòi canh tại khu vực ấy thuộc về phiên đêm ấy phải phạt bạc mỗi người hai giác hay phạt xâu một ngày.

 

Khoản thứ 4:  Muốn làm nhà canh tại khu vực nào thời những người nào có nhà trong khu vực ấy phải ra công và góp đồ vật mà chung làm, rồi lựa người nào có gia tư ở gần đó bầulàm người quản điếm, người này được khỏi phần canh ban đêm, chỉ phải coi giữ vật hạng trong chòi canh; khi ban ngày, nếu vật gì mất thời người quản điếm phải thường, và phải phạt bạc bốn giác hay phạt hai ngày xâu.

 

Khoản thứ 5:  Những hạng viên chức, miễn điêu, miễn sai, người già cả tàn tật thì được khỏi canh (và trừ người nghèo khổ) thì chia làm ba hạng mà giúp bạc cho những dân canh trong khu vực họ. 1. Hạng giàu có mỗi năm phải nạp bạc một đồng hai giác.  2. Hạng dư ăn mỗi năm phải nạp tám giác. 3. Hạng tầm thường mỗi năm phải nạp bốn giác. Bạc ấy phải chia nạp bốn quý. Trừ việcbiến ngoại những hạng dân canh người nào nhơn việc gí khác mà không đi canh được thì phải thế nạp mỗi đêm ba xu. Hai món bạc trên đều phải giao người quản điếm nhận giữ, phải có sổ sách biên chép minh bạch để chi mua dầu đèn, chi nước dùng trong khi đêm canh, cuối năm còn được bao nhiêu bọn dân canh tại nhà ấy được chia nhau tiền.

 

Khoản thứ 6:  Trong làng người nào nấu rượu lậu mà lý kiểm bắt đặng quả tang, thời phải giải lên quan liền, như có ngườinào dọ thám biết ai nấu rượu lậu mà mật báo xác thiệt: thời chibạc công quỹ thưởng ngưới ấy một đồng để trả công lao, còn người nào biết mà tuân vị che đậy phải phạt một đồng.

 

Khoản thứ 7:  Trong ban đêm người nào bị mất trộm hô hoán, thời những người ở chung quanh đó phải chạy tiếp liền, còn những người ở các xóm khác và những dân canh ở các chòi khác phải đón chận mấy đàng yếu hiểm đợi khi nào yên lặng được một hai canh sẽ tản về, thời kẻ trộm mới khỏi lọt lưới được.

 

Khoản thứ 8:  Các người tộc biểu phải thường xem xét con em trong họ, nếu đứa nào không lo làm ăn và kết bè bạn du đãng thì phải khuyên bảo để chúng nó sửa đổi tánh nết, nếu khuyên bảo mà chúng nó ngang ngạnh chẳng nghe lời, thời tộc biểu phải trình với hội đồng hào mục và lý hương biết để gia tâm nghiêm hiểu cho chúng nó biết lo làm ăn: bèn như tộc biểu nào che đậy xét ra quả thiệt, thời người tộc biểu phải phạt một đồng.

 

Khoản thứ 9:  Trong làng những bọn hoang chơi không nhơn việc gì mà nhóm họp ngoài đàng, gặp lý kiểm bắt đặng thì phạt xâu một ngày.

 

Khoản thứ 10:  Trừ ba ngày Tết Nguyên đán ra, nếu nhà ai nhóm họp chơi bài bạc say sưa thì người chủ nhà và những người đồng cuộc đều phải phạt bạc mỗi người hai giác hay phạt xâu một ngày.

 

Khoản thứ 11:  Ban đêm nếu có người nào lạ mặt đi ngang qua trong làng mà lý kiểm hay dân canh gặp đặng, thời phải đón hỏi, như người ấy nói lôi thôi thời dẫn đến chòi canh canh giữ, sáng ngày hỏi lại, nếu người ấy không có bài chỉ, căn cước, thiệt là người tình nghi, thì giải lên quan xét.

 

Khoản thứ 12:  Ban đêm những người ở hạt khác đến trong bộ làng thời phải hỏi nhà lý kiểm mà trọ, người ngoài không đặng dung chứa, như khi nào người thân quyến ở xa đến ngụ lại, thời người chủ nhà phải thưa với lý kiểm biết để liệu dò xét, nếu không người chủ nhà phải phạt bạc hai giác, hay một ngày xâu.

 

Khoản thứ 14:  Trong làng nhà ai dấu chứa người gian và nhửng kẻ trộm ở xa đến lén vào trong bộ làng mà lý kiểm dân canh bắt được phải giải quan lập tức không được bỏ lâu.

 

Khoản thứ 15:  Trong làng người nào có án ăn trộm thời đến ban đêm phải tới tại chòi canh thuộc khu vực mình mà ngủ, khi bị đau hay gặp việc nhà không thể đến được thì phải nói với đốc canh xét biết, nếu tự nhiên vắng mặt thì người đốc canh trình với lý kiểm đem dân canh đến nhà bắt đến chòi canh, nếu người ấy ngang ngạnh chống cự hay đi đâu chẳng ở nhà thời bắt giải quan xét.

 

Khoản thứ 16:  Phàm con em hay tôi tớ ai đón trâu đón bò, cấm không được đụm lại cờ bạc, giỡn hớt, còn ruộng đất người ta hiện có ba lợi và vườn người ta không được thả trâu bò vào, nếu người chủ ruộng vườn hay người khóan bắt đặng thời cha anh hay chủ nhà đứa đón trâu bò ấy phải bị phạt hai giác, hay phạt xâu một ngày, như ba lợi người ta bị phá hại, phải định gia thường.

 

Khoản thứ 17:  Các thứ ba lợi ruộng đất đều có đặt người khoán canh giữ, nếu khoán chẳng coi sóc để cho trâu bò súc vật phá hại hay để mất trộm, thời người khoán phải bồi, như bắt đặng loài vật phá hại thời người chủ vật ấy phạt bạc hai giác và trị giá ba lợi bắt thường. Còn người khoán mà lại phá trộm chủ ruộng đất bắt được trình với lý hương, thời người khoán ấy phạt bạc một đồng, phải tính thường ba lợi và bi bãi bỏ, còn tang vật đều giao lại người chủ.

 

Khoản thứ 18:  Phàm ai chăn trâu bò tại bờ ruộng mà để ăn lúa người ta và đến mùa lúa trổ chín mà để trâu bò đạp nát, thì người khoán phải trình với lý hương xét trị, nếu người khoán chẳng coi sóc để ba lợi hao mất mà người chủ ruộng với lý hương khám xét, thì người chủ ấy được chiếu số hao mất trừ phần lúa khoán, nếu trừ mà còn thiếu thì người khoán phải bổi, bèn chẳng tuân trình quan xét trị.

 

Khoản thứ 19:  Phàm ruộng đất người ta đã cày bừa mà đi băng qua hay thả trâu bò đi ngang ngữa băng đạp, người chủ ruộng hoặc người khoán bắt đặng phải bị phạt: a) Ai đi băng, phạt một giác hay xâu nửa ngày; b) Trâu bò băng đạp thời phạt bạc hai giác hay phạt xâu một ngày. Còn ruộng đất đã gieo cấy rồi mà phạm như thế thời phải phạt xấp hai lên.

 

Khoản thứ 20:  Trong mỗi ấp đều có lâm cấm, thuế ấy thường năm làng phải chịu, để gặp khi xin phép quan đốn bán lấy tiền bỏ vào công quỹ, như con nít đàn bà lén vào quét hái nhánh khô lá rụng không kể. Nếu người nào tự vào đốn chặt cây cối, trãy bẽ nhánh tươi bắt đặng thì người danh sắc phải phạt một đồng, người nào không danh sắc phải phạt bạc bốn giác hay phạt xâu hai ngày. Việc kiềm phòng lâm cấm ấy tuân theo thể lệ lâm chánh bản tỉnh đặt ban kiểm đốc (đại hào mục, lý trưởng hào mục) để coi giữ.

 

Khoản thứ 21:  Trong làng những ruộng cấy lúa phải chịu lúa khoán mùa tháng tám mỗi mẫu ba ang, mùa tháng ba va mùa hoa sen mỗi mẫu hai ang; thâu xong mỗi mùa được bao nhiêu chia hai, bỏ vào công qũy một nữa, còn một nửa cho phần khoán ăn. Những ruộng đất trồng khoai lang, mỗi đám người khoán ăn một hàng khỏi phải trưng lượng.

 

Khoản thứ 22:  Trong bộ làng thuộc chỗ đất đậu, người ta trồng những ba lợi như các thứ bắp, đỗ, dưa, mè và thuốc lá thì người chủ đất tự giữ lấy, người khoán không can thiệp đến, còn những ba lợi khác người khoán đều phải giữ cả, cứ mỗi mẫu thâi nhận năm giác, ruộng đất trồng mía mỗi mẫu thâu tám giác, thâu làm hai kỳ, như đất nào bỏ hoang không ba lợi gì thì khỏi nạp tiền khoán, nếu trong đất ấy có ba lợi chút ít thì cũng phải nạp toàn lệ, tiền khoán ầy cuối năm thâu xong tính chia  ba phần: một phần nạp vảo công quỹ, hai phần cho khoán ăn.

 

Khoản thứ 23:  Phàm ruộng đất ai có trồng trọt ba lợi mà không chịu nạp tiền lúa khoán thì người thủ khoán trình với lý hương chiếu lệ khoán mà thâu nạp gấp bội, rồi từ ấy về sau những ba lợi của y, y tự giữ lấy, mất còn người thủ khoán không can thiệp đến nữa.

 

Khoản thứ 24:  Nếu người thủ khoán nào thâu tiền lúa khoán bỏ túi tiêu riêng, không chịu trưng nạp vào công quỹ, hay trưng nạp thiếu hụt, thời làng nhóm lại xin quan biên lấy của cải ruộng đất của người khoán ấy thâu bồi cho đủ số, và bãi bỏ đặt người khác thay làm.

 

Khoản thứ 25:  Làng có trưng lãnh dương liễu để trồng vào nơi đất hoang thuộc xứ Lâm Môn trong bộ, có lập cái vườn trồng cây trái, bông hoa các vật và xây đào một cái giếng, làm một cái nhà để cho làng đến xem chơi, lại có lập một cái vườn, làm một cái nhà tranh cho người ở để coi giữ trongngoài, có chi bạc công quỹ cấp cho người ấy mỗi tháng một đồng, và nếu ấy ở giữ được hơn mười năm thời cho đứt y cái vườn ấy làm của riêng. Khi có người nào hoặc trâu bò ai lấn hại vườn ấy hay huỷ phá cây cối, bắt đặng  phải thường và phải phạt.

 

Khoản thứ 26:  Mỗi ấp lý hương lại phải xét mỗi khu vực trong ấp mình số ruộng đất mỗi sào là bao nhiêu, chịu tiền lúa khoán là bao nhiêu, viết thành một quyển bộ khoán, lựa người nào có gia tư và biết chữ đặt mỗi ấp một người đốc khoán, giao bộ khoán ấy cho y nhận thâu trưng tiền lúa khoán, thay phiên giao lại người sau cứ mỗi khu vực đặt mỗi người thủ khoán, người này tự mướn lấy phu mà sai dùng.

 

V.  MỤC CÔNG ÍCH CÔNG LỢI: VỆ SINH CÔNG CỘNG  –  TU BỔ CẦU CỐNG  –  ĐƯỜNG SÁ  –  CỨU TAI  –  TRUẤT NẠN  –  VỆ NÔNG  –  HỌC HÀNH  –  GIÁO DỤC

 

Khoản thứ 1:  Trong làng có một sở chợ ở địa bộ ấp Phước Thịnh có bầu phố trưởng và người thị trưởng coi sóc và thâu thuế chợ nạp vào công quỹ để trưng lên quan. Trong chợ các người ấy phải quét dọn sạch sẽ, nhửng người mua bán ai bị kẻ gian lấy cắp đồ vật gì, thì người phố trưởng và người thị trưởng phải truy kiếm trả lại, nếu không kiếm đặng phải thường. Nếu ai có tranh giành cãi lẫy nhau trong chợ thì người phố trưởng được phép phân giải, chừng nào người ta không nghe thì trình lý hương xét xử.

 

Khoản thứ 2:  Nhà ai có những súc vật nhỏ như gà, vịt, chuột, mèo, chóv.v… bị chết thì phải chôn giập cho sâu cả không được quăng bậy, bày ra bay mùi hôi thúi khó chịu, nếu trái lệ khi xét biết vật ấy tại nhà nào thì sức nhà ấy phải chôn liền và phải phạt bạc hai giác hay phạt xâu một ngày.

 

Khoản thứ 3:  Phàm ai có trâu bò đau chết thời trình với tổng lý khám thiệt sẽ chặt đầu lột da còn thịt xương thì phải chôn, sâu không được xẻ ăn, nếu trái lệ phải phạt bốn giác hay phạt xâu hai ngày, như người ta đã chôn rồi mà đào bới lên thời phải phạt gấp bội, còn đào lên để ăn thì phạt hai đồng hay xâu mười ngày.

 

Khoản thứ 4:  Trong vườn nhà người nào ở phải quét dọn cho sạch sẽ, phàm những chỗ quan hệ về việc ăn uống như […] giếng […] nước v.v….mà để bùn lầy dơ dáy phải phạt bạc hai giác hay một ngày.

 

Khoản thứ 5:  Những giếng mà người trong xóm đều dùng uống chung, thì phần ai phải múc gánh về nhà nấu dùng, không được đến giếng tắm rửa giặt giũ làm cho nước dơ vào trong giếng. Nếu trái lệ phải phạt bạc hai giác, hay xâu một ngày.

 

Khoản thứ 6:  Phàm trong vườn nhà ai có chuồng trâu, chuồng heo đều phải cất dọn sạch sẽ khô ráo, không được để nước phân chảy tràn ra đàng đi qua lại, nếu phạm lệ phải phạt bạc hai giác hay phạt xâu một ngày.

 

Khoản thứ 7:  Trong làng những đàng tư  ích thường năm lý hương sức số dân tư  ích lưu hương sửa đắp cho bằng thẳng, nhưng làm hết bao nhiêu công phải kê biên làm hai bản, một bản trình với hội đồng hào mục xét tính,  một bản trình lên quan, còn các đường cái đi trong các xóm cũng sức dân chánh ngụ trong xóm ấy sửa đắp, nếu tên nào chẳng chịu làm xâu hay phải nộp bạc hai giác.

 

Khoản thứ 8:  Các đàng tư  ích cấm không được đào mương qua đường đi. Nếu cần dùng đem nước vào ruộng mà phải đi qua đường đi, cần phải làm cống đặt lù, nếu ruộng vườn ai xâm lấn, phải phạt hai bạc giác và phải mở phá đắp lại, còn ai quăng bỏ đồ dơ dáy, hay ỉa bậy trên đường hay hai bên đường thì phạt hai giác hay một ngày xâu và sức quét dọn.

 

Khoản thứ 9:  Nhà ai đều phải sắm ống tre hay vò vôi để chứa đầy nước cho thường, phòng khi nạn lửa cháy mõ đánh tưng bừng thì phải lập tức xách đồ đựng nước ấy đến cứu chữa, lý kiểm phải đi kiểm xét và sức nhà nào cũng phòng bị đồ chữa lửa.

 

Khoản thứ 10:  Năm nào gặp nạn đói khát thì làng chi bạc công quỹ hay mượn mấy nhà giàu để chuẩn cấp nạn dân ít nhiều mà cứu cấp, số tiền lúa vay mượn ấy thì lý hương phải nhận, sau chi bạc công quỹ trả lại.

 

Khoản thứ 11:  Hai làng Thi Phổ nhứt, nhì chung đắp một cái đập tại địa phận Phước Khánh Đông để cản sông Vệ để lấy nước tháo vào đồng điền, bộ hai làng có bàn đặt người đề trưởng và người tư yển thường năm đến tháng chạp thâu tiền đập (mỗi mẫu công điền hai quan, mỗi mẫu tư điền hai quan năm tiền, ruộng sâu thâu nửa lệ) giao người đề trưởng nhận mua vật liệu mướn nhân công đến kỳ lo đắp đập, và thâu tiền vắt mương tuần mỗi mẫu một quan, giao hương bổn nhận giữ, đến kỳ người đề trưởng hiệp với hương chức đến nơi mướn công đào sửa mương tuần cho nước chảy thông.

 

Khoản thứ 12:  Bề dài cái đập đắp giáp từ bờ bên kia giáp bờ bên nọ dày rộng hai thước tây, thân đập phải cao bằng hai bên mỗi bờ, đập đắp hoàn toàn mười phần vững chắc, phía trước phía sau hai bên mặt đập đều phải có trụ rượng nọc chống, khi đắp đập phải chừa cống đập, không được đắp ứ để nước chảy về nhiều xoi phá tiểu yển và ngập hư ba lợi ruộng sâu.

 

Khoản thứ 13:  Mương tuần của hai làng khởi đầu từ con sông thuộc làng nghĩa Lập, đào ngang qua làng Phú An, làng An Ba đến vòng dưới đập Bến thóc, đắp nước ngòi chảy vào mương ấy về đập làng ta, đến tuần tháng giêng hai làng đến mương tuần mướn người đào sữa.

 

Khoản thứ 14:  Hai làng lại có đắp một cái đập Tiểu Yển tại xứ Thượng Lang, đập này đắp trước khi đập lớn đắp rồi, nước ngập ruộng sâu, nên mới đắp cái Tiểu Yển ấy để cản nước lại cho ruộng cao tiện tháo nước mà ruộng sâu khỏi bị lụt ngập. Lệ tiền đắp đập Tiểu Yển mỗi mẫu phải nạp một tiền chung với khi nạp tiền đập lớn, người đề trưởng và người tri yển mướn nhân công mua vật liệu coi làm.

 

Khoản thứ 15:  Trên dưới đập Tiểu Yển lại có đắp hai bờ cản tại xứ Thượng Lang. 1) Một bờ tại đạt tư: 2) Một bờ tại đạt chín để lấy nước vào ruộng, người đề trưởng và người tri yển phải chi trong số tiền đập lớn mua vật liệu coi làm. 

 

Khoản thứ 16:  Khi đập Tiểu Yển đắp rồi, thời trên dưới đập ấy không được mở trổ hai bên bờ sông mà làm sa bắt cá đến nỗi nước tràn về ruộng sâu, lắm điều hư hại, và trong mương nước chảy cũng không ai được làm sa cản đắp lấp cả mương, tức nước lở bờ hai bên ruộng. Nếu ai phạm lệ, điền hộ lập tức ngăn phá, như có cản cự trình làng bắt phạt bạc một đồng, chẳng tuân trình quan xét.

 

Khoản thứ 17:  Cuối con mương chảy giáp bộ Đôn Lương không ai được lấn ép mương lại đến nỗi nước ứ ngập luôn cả ruộng sâu, nếu ai trái lệ sức đào phá và phạt bạc một đồng.  

 

Khoản thứ 18:  Năm nào trời khô hạn ở miền dưới có đến mua nước đập làng ta thì nên mời viên chức nhóm liệu thoả định hiệp mở cống đập sâu cạn bao nhiêu có chừng, người đề trưởng không được tư chuyên, trước ngày mở cống người tri yển phải ra truyền cho điền hộ đều biết, tiền bán nước ấy trừ số chi tiêu ngoại còn bao nhiêu gởi vào công quỹ để sau lấy tu bổ cái đập.

 

Khoản thứ 19:  Gặp năm các làng Trà Ninh, Văn Hà, Thạch Thang có lệ xin đơn tháo đập Bến  Thóc đem nước về ngang qua bộ làng này, thời chỉ theo chương trình xưa nay mà cho nước đi ngang cống đập chớ không cho đi đàng đập Tiểu Yển, cốt cho ruộng sâu khỏi nạn ngập hư, khi mở cống không được đào sâu: các xã ấy lệ phải đưa trước số bạc năm đồng, giao đề trưởng Tư Yển nhận giữ để sửa lấp cống đập.

 

Khoản thứ 20:  Trong lúc bán nước chắc trong bộ làng cũng có chỗ bị khô, như hại ít mà lợi nhiều nên phải thoả thiệp, nếu trong khi thả nước bán mà có ai dụng ý riêng ngăn cản lại, thì người mua nước trình làng phạt người ấy một đồng, để răn về sau, nếu chẳng tuân giải quan xét.

 

Khoản thứ 21:  ấp Lương Nông và ấp Trung Hoà có chung đắp một cái đập Điền Trang mỗi ấp đặt mỗi người tri yển và thâu tiền đập mỗi mẫu một quan tiền vắt tuần mỗi mẫu một quan, khi đập lớn đắp xong thì người tri yển khởi sự đắp đập này để chứa nước đập lớn chảy xuống, tháo vào ruộng xứ Điền Trang ấp Lương Nông và ruộng bộ ấp Trung Hoà (thâu tiền vắt tuần phải đem nạp chánh phó đề trưởng để giao hương bổn).

 

Khoản thứ 22:  Người nào tháo trộm ống đập hay cuốc bờ đập bị bắt đặng phải phạt một đồng và sức sửa lại. Nếu nhơn sở trộm ấy mà đập bị lở thì lập tức sức người ấy phải bồi các hạng phí tổn mà đáp lại như củ.

 

Khoản thứ 23: Phàm người ta đã tháo nước vào ruộng mà ai dốc trộm đến ruộng mình thì phải sức tháo y nước lại như củ, phải bồi phí tổn phân vôi và phải phạt năm giác để răn về sau.

 

Khoản thứ 24:  Trong làng có ba xứ ruộng Bầu Súng, Bàu Súc, Bàu Húc đều là ruộng sâu, mỗi năm chỉ cấy một mùa, nên điền hộ đều có làm đìa rộng cá để lấy lợi nạp thuế ruộng. Vậy cấm bọn làm nghề lưới quét không được đanh quét trôi cả bùn ruộng hao xấu ba lợi và phá các đìa, điền hộ mất lợi, nếu phạm bắt dạng lấy cả đồ nghề giải quan xét trị.

 

Khoản thứ 25:  Trong bộ làng từ khi ruộng đương cày cấy đến lúc thâu gặt chưa rồi những người nuôi vịt không được thả ăn vào, nếu thẻ bậy ngang tàng thì phạt áp chủ từ 0$20 đến 0$40. Đợi khi nào đồng điền gặt xong xin phép quan đấu giá bạc túc cho những người nuôi vịt thả vào đồng được, bạc bao nhiêu ghi sổ bỏ vào công quỹ.

 

Khoản thứ 26:  Phàm làm ruộng mà lấn bờ nhau phải phạt hai giác hay xâu một ngày, nếu làm ruộng tư mà lấn ruộng công thì phạt bạc bốn giác hay xâu hai ngày và điền sức đắp lại cho đúng giới hạn.

 

Khoản thứ 27:  Chỗ lợi về chỗ đắp đập hiện nay khác xưa nên làng phải nhóm lại xét sửa lại quyển bộ thâu tiền đập, như trong làng ruộng nào hiện bây giờ cần dùng nước đập mà xưa nay chưa có lệ chịu tiền thời viết vào, còn sở nào xưa nay chịu tiền mà bị ngập hư thì nên chước trừ, khi sữa bộ rõ ràng kỹ lưỡng rồi giao cho người đề trưởng giư ̃làm, thay phiên giao cho kẻ khác thì mối lợi mới được công bình.

 

Khoản thứ 28:  Trong làng có sở trường học tại ấp lương Nông, có đặt người trường phu coi giữ trong nghỉ hẻ hay nghỉ lễ, nếu ai lén vào hay thả trâu bò vào vườn trường phải phạt hai giác hay phạt xâu một ngày, nếu ai quăng đồ dơ thúi vào trong trường hay xung quanh trường phải phạt bốn giác hay phạt xâu hai ngày.

 

Khoản thứ 29:  Trong làng trò nào học được tấn ích hạch trúng cách ở trường, làng chi bạc công quỹ mua giấy viết phân hạng thưởng mỗi phòng từ trò đứng thứ năm trở lên để khuyến khích. Còn trò nào đậu bằng sơ học Pháp Việt, cấp thưởng một đồng để tiêu phí về việc hạch, còn đậu Cao đẳng tiểu học sắp lên thì dùng liễn đối đi học như mục thứ III đã nói.

 

Khoản thứ 30:  Trong làng kẻ ty ấu mắng nhiếc bực tôn trưởng, con em hay đánh chưởi kẻ cha anh, nếu người có danh sắc thì phạt bạc một đồng và bàn trầu cau rượu, người không danh sắc phải phạt bạc sáu giác hay phạt xâu ba ngày, phạm lần thứ hai phải phạt gấpbội, nếu giữ tánh chẳng đổi trình quan xét trị.

 

Khoản thứ 31:  Con em nhà nào không lo làm ăn, ở nể chơi rong phải phạt xâu haingày, nếu thói củ chẳng bỏ phải phạt gia bội, bên không biết ăn năn trình quan xét trị.

 

VI. MỤC QUÂN PHÂN CÔNG ĐIỀN CÔNG THỔ

 

Khoản thứ 1:  Ruộng công của làng cứ mỗi cuối đến ba năm quân cấp một lần kịp cày cấy mùa tháng mười cho tiện. Trước hết viên chức và đương lý hương nhóm tại nhà người lý trưởng hiệp tính cả số người trích trí các hạng ruộng bao nhiêu và trừ ruộng nước soi bao nhiêu còn mỗi phần  ăn được bao nhiêu tính cho tử tế, đúng đắn viết bản hội định đều ký chỉ vào trình quan xin phép.

 

Khoản thứ 2:  Khi làm hội định xong lựa đặt một ấp mỗi người thơ ký hiệp với chánh phó lý trưởng viết bản trương đạt và quyển bộ cấp, trong bản trương đạt phải viết rõ xứ đạt mẫu, sào giới hạn, trong quyển bộ cấp phân viết tên họ những người được ăn phần ruộng theo thứ tự của bản toạ thứ hương ẩm, còn những người dân tuổi ngoại sáu mươi thời phải sắp trước số dân chánh nạp chẳng được câu nệ theo tục lệ trước.

 

Khoản thứ 3:  Khi viết bộ cấp xong, lựa hạng viên chức, hoặc kỳ hào đặt một người chủ toạ chọn ngày dùng một bàn trầu, cau, rượu đến đình làm lễ tiền hiền, bắt đầu chia ruộng. Ngày ấy quan giúp chỉ ghinhận phần ruộng trước rồi trích để các hạng lệ điền vào bản trường đạt, lệ điền phải ghi hộc nào cho tròn hộc ấy, không được ghi rãi rác từng sào từng thước, ghi lệ điền rồi còn bao nhiêu cứ mỗi trăm mẫu trích để năm mẫu làm ruộng hương dụng, ruộng này cũng phải ghi cho tròn hộc như trên.

 

Khoản thứ 4:  Các hạng lệ điền là ruộng thờ các vị tiền hiền, hậu hiền haimẫu (trừ trước hailàng đã cúng một mẫu ruộng làm nhà thờ ngoại) giao họ ấy cày cấy thờ phụng ruộng thờ vị hậu hiền Nguyễn Đức một mẫu giao họ ấy nhận thờ; ruộng thờ vị hậu hiền khai khoa họ Phạm ba sào, còn cái vườn nhà thờmột sào thuộc xứ Đồng Giăng giao người tự tôn nhận thờ, ruộng thủ chỉ ba sào, ruộng cấp người thủ sắc đình ba sào (năm nào thủ sắc về Thi Phổ Nhất thì ruộng này ba lợi bỏ về công quỹ) ruộng cấp người từ  thừa đình hai sào, ruộng cấp người thủ sắc đình mỗi ấp hai sào ruộng cấp chánh phó lý trường mỗi người hai sào, ruộng cấp phu sai mỗi ấp ba sào, còn ruộng hương dụng thì đệ niên xin phép quan đấu giá lấy tiền sung công qũy trù tiêu

việc làng còn dư gởi nhà banque cho có lời.

 

Khoản thứ 5:  Sắp đặt xong xuôi rồi, thì trên từ chức sắc, miễn sai, miễn điêu, dưới đến dân chánh nạp đều theo thứ tự trong bộ cấp mà ghi nhận phần ruộng, 3 người lão nhiêu hay người đàn bà goá phần  ăn bằng một phần tráng cũng đều ghi nhận ký chỉ vào dưới.

 

Khoản thứ 6:  Ruộng nhì vụ điền thương lượng phì sấu gia giảm có bản lưu chiếu tại toà và tại làng.

 

Khoản thứ 7:  Chỗ nhóm làm quân cấp thì chia phiên nhau mỗi ấp mỗilần, như khoá trước làm tại nhà hội ấp Phước Thịnh thì khoá sau nhóm tại nhà hội ấp Lương Nông cho được công bình. Khi làng quân cấp xong dụng một con heo trầu, cau, rượu, phẩm vật làm lễ cúng tạ, lễ xong cẩn người chủ toạ một cái đầu heo và lòng tộ, còn bao nhiêu thì viên chức đồng dự tiệc, trước sau chi phí bạc bao nhiêu đều lấy bạc công quỹ.

 

Khoản thứ 8:  Ai đã lập vườn ở vào ruộng đất công điền thời khi đến phần ăn người nhà ấy phải trước ăn vào cho kín, nếu tự nhà mình không ăn hết sở ruộng trong vườn để người ngoài ăn lọt vào, thì người ta chỉ trừ nền nhà và phần ăn của mình ra, còn bao nhiêu thì người ta phá ra cày cấy; song nếu thuận nhau thế mượn mặc tình.

 

Khoản thứ 9:  Trong làng có xứ ruộng đồng Giăng và xứ thổ Lâm Môn mỗi kỳ quân cấp, trừ chỗ chôn mã ngoại, còn bao nhiêu hoặc tuyên bố đấu giá hoặc chia nhau cày tùy theo ý muốn của dân. Hạng dân bao nhiêu và đàn bà goá thì không có phần ăn trong hai xứ này.

 

Khoản thứ 10:  Trong làng ruộng công điền cấy hai mùa từ nay trở đi không cho ai lập vườn ở và chôn cất, nều trái lẽ phải phạt bạc năm giác hay phạt xâu hai ngày rưỡi và sức theo hạn sau mà dời dổi: 1) Vườn ở thì hạn trong ba tháng; @) Mã chôn hạn trong ba năm phải làm tờ cam đoan minh bạch, nếu đến hạng mà không dời đổi trình quan xét trị

 

VII. MỤC PHÂN BỔ SƯU THUẾ

 

Khoản thứ 1:  Trong làng bạc thuế ruộng đất và thuế đinh mỗi ấp có bao nhiêu có chánh lý trưởng hay phó lý trưởng ấp ấy phần thâu riêng, thâu xong hiệp trưng một lần, còn thuộc địa phận ấp nào thì có lý hương  ấp ấy kiềm phòng, đâu có trách nhiệm ấy, không được suy hủy.

 

Khoản thứ 2:  Đến vụ thuế thì hương lý trình riêng đại hào mục nhóm hội đồng xã thôn chiếu tính một suất đinh phải nạp thuế bao nhiêu, mỗi điền chủ có bao nhiêu ruộng đất hạng gì và phải nạp bao nhiêu cho minh bạch, không được mơ hồ.

 

Khoản thứ 3:  Mỗi ấp đều có hương mục, hượng dịch sức bắt dân phu làm xâu và tu bổ cầu cống đường sá làng, sai bác phải cho công bình, không được tự đem thế bán, hay được trình quan xét trị và giao số bạc chước mãi ấy ra bỏ vào công quỹ.

 

Khoản thứ 4:  Trong làng có hai đàng tư ích: 1) Một đàng từ chợ làng chạy giáp làng Minh Tân ngang qua Mương Chảy, có bắt một cái cầu ván về phần ấp Phước thịnh phải coi làm; 2) Một đàng từ ngôi đình làng đến nhà hội ấp Lương Nông chia làm hai ngã: a) Một ngã chạy giáp lộ Minh Tân và lộ Đạm thủy; b) Một đàng chạy giáp làng Đôn Lương, còn đàng thứ hai ngang qua xứ Thượng Lang, có một cầu tre nhỏ, phần ấp Phước Thịnh phải làm, còn qua mương chảy có cái cầu ván và xuống hai ngã đàng dưới đều có mỗi cái cầu nhỏ, phần  ấp Lương Nông phải làm, nếu bỏ hư sụp phải chịu trách nhiệm, lại có một khúc đường từ trường học vào phía nam giáp đàng cái tư ích thì hai ấp phải đồng đắp.

 

Khoản thứ 5:  Như vâng quan sức thanh tre các hạng thì phải chiếu số dân tư ích mà chia cho được công bình, không được tránh trút nặng nhẹ, như quan có cấp phạt số bạc bao nhiêu cũng phải chiếu số dân cấp cho đủ, không được bỏ túi riêng, hay được trình quan xét trị.

 

VIII. MỤC THƯỞNG PHẠT

 

Khoản thứ 1:  Người nào cúng cho làng những cờ trống đồ đạt hay ruộng đất gì xứng giá một trăm đồng trở lên thì khắc bản để tại đình (như cúng cho mỗi ấp thì treo tại nhà hội) trên biển khắc rõ ràng ngày tháng, năm nào, tên họ ai cúng, những vật hạng gì, và lý hương phải viết tờ ký nhận, giaongười ấy giữ để đời. Thường năm đến lệ tế xuân cẩn người ấy một lòng tộ, khi người qua đời thí vào bực tiền bối.

 

Khoản thứ 2: Trong làng người nào kỹ nghệ khéo, chế được máy móc mới lạ, có ích cho đời đem trình thí nghiệm thì làng chi bạc công quỹ cấp trả sở phí công làm và cấp thưởng vật hạng gì đáng giá mười đồng trở lên để khuyến khích.

 

Khoản thứ 3:  Trong làng người nào chẳng nệ khó nghèo,làm con hết đạo nuôi dưỡng ông bà, cha mẹ được hiếu, thiên hạ nghe danh, thời làng chi bạc công quỹ mười đồng cấp thưởng để khuyến khích.

 

 Khoản thứ 4:  Trong làng người nào nhà nghèo mà khuyên nuôi con em theo học được chuyên cần, cứ mỗi cuối năm, làng xét thiệt chi bạc công quỹ cấp cho mỗi trò hai đồng để mua giấy viết học.

 

Khoản thứ 5:  Nhà ai có các thứ cây, đá, đá vôi, phân chẳng được quăng đường thiên lý, nếu phạm phép, trừ khi quan binh gặp phạt ngoại, phải phạt bạc bốn giác hay phạt xây hai ngày để răn kẻ khác.

 

Khoản thứ 6:  Phàm các vật dơ uế không được quăng bậy trên mã mổ và trên các đàng cái đi và cày cuốc không được vanh lấn mộ phần, nếu ai trái lệ sức phải quét sạchvà đáp lại lập tức, lại phải phạt bạc hai giác hay xâu một ngày, để răn kẻ khác.

 

Khoản thứ 7:  Trong nhà hội mà người nào say rươụ ngang tàng khăn áo không chỉnh đốn, cử chỉ không phép tắc và khạc nhổ bậy bạ dơ dáy phải phạt bạc hai giác haylàm xâu một ngày.

 

Khoản thứ 8:  Người say rượu đi ngang ngửa ngoài đường, nói năng phạm đến danh giá người ta và la chưởi om sòm, làm náo động không cho xóm giềng yên ổn, chẳng luận là ban ngày, ban đêm cũng sức bắt đem giữ  tạinhà hội hay chòi canh, đợi khi tỉnh rượu sẽ phạt bốn giác hay phạt xâu haingày.

 

Khoản thứ 9:  Nhà ai có người diên cuồng phải giữ trong nhà nếu để chạy bậy ra đàng phá hại củ a cải người ta hay đánh người ta bị thương, thì thân nhân người điên cuồng ấy phải nuôi cơm thuốc và phải phạt bạc hai giác hay phạt xâu một ngày.

 

Khoản thứ 10:  Người nào lấn phá hàng rào hay bẻ măng trộm của người ta bắt được thì cứ một mụt phải thường một giác, phải sửa hàng rào lại như củ và phải phạt bạc hai giác hay xâu một ngày.

 

Khoản thứ 11:  Nhà ai ban đêm nhóm họp đông người, làm ồn mất trật tự không phải thiệt việc làm ăn, thì phần cha anh bọn ấy và người chủ nhà khôngbiết răn cấm, phải phạt bạc mỗi người hai gíac.

 

Khoản thứ 12:  Trong nhân dân ai cải lẩy đánh đá nhau hay vì ruộng đất mà tranh giành nhau mà kiện đến làng thì phải nạptiền tụng lệ: 1) Việc giốc khẩu nạp ba quan; 2) Việc điền thổ nạp sáu quan, hai đàng chung chịu, khi lý hương xét xử đàng nào quấy phải trả tiền tụng lệ cho đàng kia. A) Việc giốc khẩu phạt bạc hai giác hay phạt xâu một ngày, như có đánh lộn nằm vạ tại chổ, trừ khi bị thương nặng báo quan  ngoại, lý hương đến sức dậy tới nhà hội xét xử, nếu chẳng tuân giải lên quan xét.

 

Khoản thứ 13:  Các món tiền tụng lệ đều chia hai phần: một nửa nạp vào công quỹ, một nửa lý hương được tiêu dùng, nếu ai trái lệ phải thường.

 

IX .  MỤC THỂ LỆ TRONG LÀNG

 

Khoản thứ 1:  Số lúa tiền  trong hai ấp đều sung vào công qũy, ấp nào có trù làm việc gì hay phụ cấp cho lý hương phân hạng như sau: a) Lý trưởng mỗi năm ba chục đồng; b) Phó lý mỗi năm mười lăm đồng; c) Các ngũ hương và chánh, phó xã đoàn mỗi người mỗi tháng năm giác, mỗi lần đến tỉnh làm việc quan, lãnh lộ phí mỗi ngày bốn giác, đến phủ lãnh lộ phí mỗi ngày ba giác.

 

Khoản thứ 2:  Lúa tiền công quỹ của làng đều giao người hương bổn nhận giữ, trong năm số tiền thâu bao nhiêu phải biên chú vào sổ sách minh bạch, thâu vào khoản gì phải có sổ tồn căn để phóng biên lai, chi ra khoản gì phải ghi vào sổ liền, khi nào làng nhóm đại hội đồng hương bổn phải đem trình các thứ sổ sách giữa hội đổng hào mục chiếu tính kiểm xét hiệp cộng số thâu tiêu trong năm còn dư lại bao nhiêu ghi ra rõ ràng, hội đồng ký chỉ ra sau. Nếu người hương bổn tự tiêu thiếu thốn phải bồi.

 

Khoản thứ 3:  Đến mỗi cuối năm làng nhóm tại nhà người hương bổn tính sổ thâu chi xong làm bản dự trù qua năm sau, nếu lý trưởng lạm tiêu thâm thiếu bao nhiêu phải bồi và phải trích phạt bạc phụ cấp ba tháng.

 

Khoãn thứ 4:  Trong làng việc quan hệ nhứt là việc nông chánh nên phải lựa bầu người có công tâm, có ruộng đất, làm đề trưởng để chăm lo việc đập, còn tri yển cũng phải lựa người có gia tư siêng năng để chuyên làm việc, nếu người đề trưởng người tri yển dụng ý riêng lén bán nước cho các làng khác, không cho hội đồng viên chức biết, thời đề trưởng phải phạt ba đồng, tri yển phải phạt một đồng và đều bị bãi bỏ, đặt người khác thay.

 

Khoản thứ 5:  Trong mỗi ấp người lý trưởng đều có một quyển sổ tay để biên những đồ vật công trong làng và biên tên người nào cúng vật gì giao nhận giữ, còn trong làng có đơn bằng giấy má gì quan hệ thì người lý trưởng phải nhận giữ mãn hạn giao lại người sau, không nên để lạc mất, nếu không cẩn thận để những đơn bằng, giấy má rách hư lưu lạc thì phạt bạc ba đồng, và phải tìm kiếm làm lại.

 

Khoản thứ 6:  Mỗi ấp người hương bộ cũng phải có sổ tay để biên những người nào làm việc gì tốt và những người nào làm việc trái phép bị phạt về ngày tháng năm nào cho rõ ràng, cứ mỗi sáu tháng ngày mùng một nhóm nhơn dân trong ấp tại nhà hội, đem các khoản biên ấy tuyên bố lên để khuyên răn tỷ lệ, nếu ai trước làm việc trái phép mà saui biết ăn năn thời xoá bỏ tên ghi trong sổ.

 

Khoản thứ 7:  Phàm thâu các khoản bạc phạt nạp vào công quỹ thì lý hương phải có sổ tốn căn, khi phạt ai thì lý hương và người ấy phải ký chỉ vào mỗi người giữ mỗi nửa y như nhau, để khỏi gian mạo chối cãi sanh việc, phàm ai bị phạt xâu thì lý hương bắt làm những việc ích lợi  trong làng và phải có sổ sách biên lai để chiết cứu.

 

Khoản thứ 8:  Các người tộc biểu nên thỉnh thoảng nhóm họp cả gái trai lớn nhỏ trong họ để hiểu trật tự lân lý, giải nghĩa các khoản trong hương ước cho con em được rõ thấu, nếu trong họ nào có người trái phạm đều gì thì tộc biểu phải chịu  một phần trách nhiệm.

 

Khoản thứ 9:  Trong làng trừ khi bất thường vâng sức việc quan, phải nhóm làm ngoại, cứ mỗi tháng vào ngày mùng một lý hương nhóm nhau tại nhà hội (như tháng trước nhóm tại Phước Thịnh, tháng sau nhóm tại Lương Nông), để trù làm việc quan và phân xử việc tạp tụng. Ngày ấy nếu người nào thị thường vắng mặt, đến kỳ Hội đồng đại hào mục xét phạt hai giác.

 

Khoản thứ 10:  Cứ mỗi ba tháng vào ngày mười lăm, nhóm tại hội đồng hào mục một kỳ, đại hào mục, kỳ hào đương thứ lý hương và các tộc biểu đều đến tại đình trù làm những việc ích lợi trong làng và giảng đọc hương ước một lần. Khi nhóm hội phải làm biên bản trình quan và xin pháp thi hành về việc trù định.

 

Khoản thứ 11:  Khi nhóm đại hộiđồng, người nào gặp duyên cớ gì phải thiếu mặt thì trước đến tường cho viên đại hào mục hay và phải làm giấy uỷ quyền cho người nào, trong nói rõ ràng nếu hội đồng trù làm việc gì y không được chỉ trích, nếu người nào thị thường bỏ nhóm mà sau lại chỉ trích nọ kia thì phải phạt bạc một đồng, nếu giữ tật ấy một lần nữa, sẽ phạt gia bội.

 

Khoản thứ 12:  Ngày nhóm đại hội đồng và ngày nhóm đương thứ lý hương, đã là người có chân trong hội không đợi kêu mời, cứ đến ngày lệ độ sáu bảy giờ buổi mai phải đến nhóm, ngày nhóm chi bạc công quỹ để sắm cơm ăn buổi trưa, nếu người nào trễ sau chín giờ buổi mai mới đến, thì không được dự buổi cơm trưa ấy, còn người nào để đến một giờ chiều mới đến thì lần đầu phải phạt bạc năm giác, lần thứ nhì phải phạt xấp bội; lần thứ ba trình quan xét nghĩ.

 

Bản hương ước này cộng làm mười một tờ, chia làm chín mục, gồm có một trăm hai mươi lăm khoản, tùy theo phong tục mà làm, rõ là một cái gương báu riêng cho làng vậy. Từ nay về sau như thời thế đổi mà trong có khoản nào không hiệp với thời buổi này, phải trình quan xin sửa đổi lại để làm cái nề nếp thông dùng đời đời vậy.

 

Hương ước viết thành năm bản (một bản chữ Hán, bốn bản Quốc ngữ) quan phê giao chánh lý trưởng nhận giữ một bản chữ Hán, một bản Quốc ngữ hết hạn giao người khác, nếu không cẩn thận làm mất thì trình quan xét phạt và sức phải viết trở lại như cũ.

ĐIỀU  KHOẢN  VỀ  VIỆC  CỨU  HỎA

Trong làng thường hay xảy ra hoả nạn nay làng đặt thêm một đoàn phu cứu hoả, làng sẽ lựa những dân tráng mạnh bạo lanh lẹ để nhập vào đoàn. Đoàn phu ấy giao cho hương kiểm kiểm soát, làm hai bản kê tên những dân đoàn, một bản trình quan địa phương, một bản lưu chiếu tại làng, hương kiểm phải chiếu theo sức văn của tỉnh số 8152  –  P đã có chỉ giáo về cách chữa lửa mà chia cho mỗi tên phu đòan một công việc nhứt định trong khi cứu hoả. Khi nghe tiếng trống báo tin có hoả nạn thời trừ những người lân cận phải đến giùm giúp, phu đòan nếu có mắc việc gì cũng phải chạy đến liền, còn đồ khí cụ cứu hoả nạn làng phải chiếu theo sức văn nói trên mà sắm cho đủ  đồ như trống, sào tra câu liêm, thang tre, thùng không, hay thúng tre sơn dầu rái, gàu múc nước có tra cán dài 5 thước tây, rựa, bao, chiếu củ, cuốc, xăng v.v…

 

Dân đoàn khi nghe tiếng mõ không đến, làng xét không có duyên cớ chính đáng thời phạt 0$20 đến 1$00. Còn trong khi cứu hoả người nào có can đảm cứu hoả giỏi, hay cứu người thời làng hay ban khen và thưởng bạc 1$00.

 

 

Tuần Vũ

Ký tên: Hồ Đắc Ứng

 

Đại hào mục tú tài đãi chiếu

Đãi chiếu tú tài sung kỳ hào

Bát phẩm trị sự sung kỳ hào

Chánh bát phẩm văn giai sung kỳ hào

Chánh cửu phẩm hồi hưu

Cửu phẩm

Cửu phẩm

Tộc biểu nguyên chánh tồng

Tộc biểu chủ bái

Tộc biểu cựu hương hào

Kỳ cựu

Tộc biểu cựu hương chánh

Tộc biểu cựu hương bổn

Tộc biểu cựu hương bộ

Cựu đại hào mục

Tộc biểu

Tộc biểu

Cựu giáo sư

Hương dịch

Cựu hương hào

Hương bộ

Hương mục

Hương kiểm

Phó lý trưởng

Hương kiểm

Hương kiểm

Hương kiểm

Hương mục

Phó xã đòan

Cựu phó lý

Thủ sắc

Tộc biểu

Tộc biểu chánh tổng đoàn

Cựu hương bộ

Võ Kiệm tự ký

Nguyễn văn Thống ký

Nguyễn Đức Tiên tự ký

Trần Lượng ký

Nguyễn Đức Thống tự ký

Trần Thị tự ký

Trần Xử tự ký

Tự ký

Trần Lộc tự ký

Nguyễn Đức Liễu tự ký

Trần Đức Bổng tự ký

Trần Chí tự ký

Nguyễn Trịnh tự ký

Nguyễn Đức Miễn tự ký

Trần Cạnh tự ký

Nguyễn Hữu Thúc tự ký

Phát tự ký

Võ Hùng tự ký

Nguyễn Đức Miễn tự ký

Nguyễn hậu tự ký

Nguyễn Đức Văn tự ký

Nguyễn Đức Tam tự ký

Trần Nhan tự ký

Nguyễn Đức Đào tự ký

Nguyễn Đức Luân tự ký

Trẩn Kỷ tự ký

Phan Chí tự ký

Nguyễn Hữu Hạnh tự ký

Trần Thâm tự ký

Trần Phát tự ký

Nguyễn Thuận tự ký

Võ Đằng tự ký

Nguyễn Đức Hạp tự ký

Nguyễn Đức Nghiệp tự ký

 

 

Nay làm hương ước

 Mộ Đức,  ngày  …  tháng  …  năm  Bảo Đại thứ 12

 

Mộ Đức ngày 23.12.1938

Khán: Tri phủ

Ký tên: Nguyễn Hà Hoành

 

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: