Làng Chánh Lộ

TỰA

Vâng theo lời chỉ bảo của quan trên và ý muốn chung của làng, xin gom góp những tục lệ cũ lưu truyền trong làng, chọn lọc, sửa đổi lại cho thích hợp với trình độ tiến hoá của nhân dân lại xin thêm vào đây những lệ mà làng ta mới đặt ra để đối phó với  những sự trạng phức tạp của cuộc đời mới rồi biên thành quyển Hương ước này, cọng tất cả mười ba tiết và 181 khoản.

 

HƯƠNG ƯỚC xem như quyển Luật của làng, nhắc nhở nhân dân làm trọn những bổn phận của kẻ công dân trong làng cả chỉ bảo làm điều hay, tránh điều lỗi.

 

HƯƠNG ƯỚC lại còn là cái lợi khí cho nhân dân dùng để bảo vệ danh dự và quyền lợi chính đáng của mình nữa.

 

Bởi thế cho nên, trong làng người nào cũng phải tôn trọng HƯƠNG ƯỚC và thường ngày đem ra đọc để tìm lấy những điều lợi ích cho mình.

 

 

ƠNG ƯỚC LÀNG CHÁNH LỘ, TỔNG NGHĨA ĐIỀN

 

 

TỈNH QUÃNG NGÃI, TỔNG NGHĨA ĐIỀN

PHỦ TƯ NGHĨA, LÀNG CHÁNH LỘ

 

HƯƠNG   ƯỚC

TIẾT THỨ NHẤT:  

HỘI ĐỒNG  ĐẠI  HÀO MỤC

 

Mục 1 Thiết lập

 

Khoản 1. Trong làng sẽ thiết lập một Hội đồng mịnh danh là Hội đồng đại hào mục hay là Hội đồng Hương chính đặt dưới quyền kiểm soát, bảo vệ và hướng dẫn của Quan trên (Tòa, Tỉnh, Phủ).

Hội đồng gồm có những người kỳ hào tộc biểu, làm Hội viên, lý hương và chánh, phó xã đoàn đương thứ tham dự. Sẽ lựa trong bốn xóm, mỗi xóm một người có tuổi tác, phẩm hàm hay có lịch duyệt để làm cố vấn cho Hội đồng.

 

Khoản 2. Người chủ tịch của Hội đồng ấy gọi là Đại hào mục, sẽ chọn trong những người phẩm hàm, danh vọng hay trong những người kỳ hào, tộc biểu và cựu lý hương.

Đại hào mục có thể ủy quyền cho một người kỳ hào hay tộc biểu đủ tư cách thay mình, nhân gặp việc trở ngại không thể làm phận sự được.

 

Khoản 3. Hội đồng sẽ có một người thư ký chuyên tiếp nhận thư văn gởi đến cho Hội đồng hay đệ giao thư văn của Hội đồng gởi đi và chuyên làm sổ sách về kế toán; ngoài những sổ sách giao cho Hương bổn và những Hương chức khác.

Người thư ký ấy sẽ chọn trong những người có học lực khá trong làng. Tiền phụ cấp hay tiền lương sẽ do Hội đồng định cấp, nhưng phải có Toà, Tỉnh duyệt y mới được. Nhưng bây giờ thì nên lựa một kỳ hào hay tộc biểu để kiêm luôn chức ấy, nhưng không lãnh phụ cấp hay lương hướng gì cả.

 

Khoản 4. Hội đồng sẽ làm một con dấu tròn do Đại hào mục giữ, đường kính rộng không qua 4 phân, ở trong khắc chữ “Hội đồng đại hào mục” và vòng ngoài khắc chữ “Làng Chánh lộ, tổng Nghĩa điền, phủ Tư nghĩa, tỉnh Quãng ngãi”. In dấu bằng mực đen hay mực xanh.

 

Mục 2 Tuyển trạch

 

Khoản 5. Những người Đại hào mục, Kỳ hào, Tộc biểu, Cố vấn đầu tiên đều do tất cả viên nhân trong làng lựa cử rồi đệ bẩm Toà, Tỉnh duyệt y. Sau khi Hội đồng Đại hào mục thành lập, những người làm chức ấy sẽ do Hội đồng này tuyển trạch.

Nếu có hai người hay nhiều người ứng cử làm một chức, thì sự tuyển trạch sẽ làm theo cách đầu phiếu. Người nào hơn người tranh cử một phiếu cũng đủ được chính thức trúng cử. Người trúng cử không được Toà, Tỉnh công nhận sẽ bị loại bỏ, và sự tuyển cử sẽ phải làm lại theo những điều kiện nói trên nầy.

 

Khoản 6.  Trừ thôi trước hay được tái cử, những người có chân trong Hội đồng phải làm việc trong một hạn là 3 năm. Song người nào làm việc biếng trễ, làm điều gì có phương hại đến danh dự và quyền lợi của làng, hay phạm đến những tội lỗi điếm nhục. Hội đồng có thể đồng thanh xin phép quan trên buộc người ấy phải từ chức ngay không cần phải đợi mãn hạn.

 

Mục 3 Quyền hạn

 

Khoản 7.  Hội đồng có những quyền hạn định rõ sau này :

1) Chăm nom thi hành những điều khoản trong Hương ước này.

2) Chăm nom gìn giữ cuộc trị an, trật tự và phong tục tốt trong làng. Kiểm cố việc làm của lý hương, chỉ vẽ giúp đỡ họ trong lúc thừa hành công vụ, tố giác những điều lỗi của họ và xin quan trên ban thưởng cho họ mỗi khi họ đã làm những việc lợi ích cho làng.

3) Báo trình những việc quan hệ xảy ra trong làng về mọi phương diện.

4) Trù liệu những việc lợi ích cho làng, bênh vực lợi quyền của làng và của dân làng trong vòng luật pháp, phạt những người có lỗi và thưởng những kẻ có công, theo lệ thưởng phạt ở khoản 158 sau này.

5) Chăm nom việc giáo hoá dân làng, giảng giải luật lệ, đạo đức, luân lý và tất cả những điều lợi ích khác cho họ nghe theo. Yên ủi họ trong cơn tai nạn, phân giải những việc rắc rối xảy đến cho họ và nhất là người có chân trong Hội đồng phải làm gương tốt cho họ noi theo.

6) Sắp đặt ngân sách của làng và trù hoạch các khoản chi thu. Duyệt lại những lời phân xử và sự phạt vạ của Ủy ban phân giải nói ở khoản 164 sau này và của lý hương khác mỗi khi có người đương sự kêu nài. Ngoài những quyền hạn định rõ trên này, Hội đồng không nên can thiệp vào công vụ của lý hương thường làm lâu nay, nhưng phải xem xét nếu lý trưởng, phó lý, ngũ hương, trong khi làm chức vụ có điều gì nhũng lạm, lầm lỗi làm thiệt hại đến nhân dân, có bằng cớ rõ ràng, thì bổn phận của Hội đồng là phải trình lên quan trên xét, để trừ các thói tệ ấy.

 

 Khoản 8. Mỗi năm trừ những phiên nhóm bất thường, Hội đồng Đại hào Mục phải nhóm bốn kỳ vào ngày rằm tháng ba, tháng sáu, tháng chín, tháng chạp. Trừ phiên nhóm sau cùng riêng để kiết tính sổ, sách, công việc làm trong năm, và dự trù ngân sách về năm sau, trong tất cả những phiên nhóm khác, buổi mai Hội đồng bàn định việc làng, buổi chiều duyệt xử những việc thưa kiện, nếu có những việc ấy. Phiên nhóm cũng có thể kéo dài ra nhiều ngày nếu gặp những việc khó khăn phiền phức.

 

Mục 4 Học tập

 

Khoản 9.  Hội đồng  xã thôn do Đại hào mục chiêu tập. Trước kỳ hội năm ngày ông này làm giấy mời những người có chân trong Hội đồng và tường cho viên quan trong làng biết. Trong giấy phải ghi rõ ngày, giờ và đề mục nghị sự. Người nào gặp việc trở ngại không thể đến dự được, phải làm giấy xin cáo trước hay viết lời xin cáo vào giấy mời rồi trả lại cũng được.

Hội đồng sẽ đặt dưới quyền chủ tịch của Đại hào mục hay người ủy quyền, Kỳ hào, Tộc biểu, bốn viên Cố vấn làm Hội viên, Lý, Hương, Chánh, Phó xã đoàn đương thứ tham dự.

Viên quan không có chân trong Hội đồng, cựu lý trưởng và thường dân cũng được đến dự, nhưng không có quyền bỏ thăm tán thành hay phản đối, song vẫn có quyền chất vấn định ở khoản 15 sau này.

 

Khoản 10.  Muốn được chính thức và hợp lệ. Hội đồng phải nhóm cho được hơn nữa số người có chân trong Hội, gồm cả lý hương, chánh, phó xã đòan đương thứ.

Trong những phiên nhóm Hội đồng, Đại hào mục hay người ủy quyền có trách nhiệm gìn giữ trật tự và không cho bàn bạc những vấn đề không ghi ở chương trình nghị sự. Mỗi khi quyết định những điều gì, có nhiều người chủ trì những ý kiến sai biệt thì sẽ dùng cách bỏ thăm, ý kiến nào được nhiều người bỏ thăm tán thành (hơn một phiếu cũng được) sẽ được công nhận. Nếu số thăm đồng nhau thì là của Đại hào mục hay người ủy quyền bỏ cho bên nào thì bên ấy được thắng lợi.

Những Hội viên vắng mặt đều phải công nhận những điều quyết định của Hội đồng.

 

Khoản 11.  Mỗi khi nhóm Hội đồng phải làm biên bản ghi rõ ngày, giờ, tên người hiện diện, chương trình nghị sự và tất cả những điều bàn bạc và quyết định của Hội đồng. Biên bản phải làm hai bổn có chữ ký của tất cả những người có mặt trong phiên nhóm. Một bản sẽ để trong tủ văn thơ của làng và một bản sẽ trình quan địa phương.

Phỏng như số người đến nhóm đông đủ, nên không có thì giờ lấy hết chữ ký, thì cũng có thể làm một bổn và một bổn trình quan địa phương. Bổn sao ấy phải có chữ ký và con dấu của Đại hào mục và lý trưởng chứng thiệt là đúng với bản chính.

 

Khoản 12.  Tất cả những điều quyết định của Hội đồng về những việc quan hệ hay đề cập đến quyền lợi và công bản của làng đều phải nhờ quan Địa phương đệ bẩm lên Toà, Tỉnh duyệt y rồi mới đem ra thi hành. Ở trường hợp này, tờ biên bản chính của phiên nhóm Hội đồng sẽ đệ bẩm lên quan trên chớ không được đệ bản sao.

 

Khoản 13. Mỗi năm, nhân phiên nhóm Hội đồng sau cùng về lúc tháng chạp, Hội đồng Đại hào mục định ngày nhóm Đại hội đồng sau lễ Tết Nguyên Đán, nhưng không khi nào để trể đến tháng ba.

Đại khái cách chiêu tập Đại hội đồng cũng giống như Hội đồng Đại hào mục, song ngoài những người có chân trong Hội đồng này tất cả các viên quan và tráng dân trong làng đều được đến dự.

Làng sẽ xin phép mời hai vị Thủ hiến trong Tỉnh và quan Địa phương đến chứng kiến.

Nếu qúy vị hay quan chức đại diện đến dự thì Đại hội đồng sẽ đặt dưới quyền chủ tịch danh dự của quí ngài.

Trong phiên nhóm nầy Đại hào mục đọc tờ trình nói về tình hình trong làng, các khoản chi thu tất cả các viện Hội đồng đã làm trong năm vừa qua, trình sổ dự toán về năm mới đến và những việc sẽ làm trong năm này.

Nếu không có ai khởi nghị, bác khước điều gì, Đại hào mục xin Đại hội đồng chấp thuận.

 

Khoản 14. Biên bản về phiên nhóm Đại hội đồng, phải có chữ ký của Đại hào mục, kỳ hào, tộc biểu, lý trưởng, bốn viên quan và bốn cựu hương chức, hay lão nhiêu (mỗi xóm một người) không có chân trong Hội đồng Đại hào mục. Biên bản này cũng như biên bản các kỳ hội đồng khác, sẽ trình quan địa phương duyệt chiếu.

 

Khoản 15.  Người trong làng không hạn là ai đều có quyền chất vấn Hội đồng Đại hào mục về tất cả các công việc xảy ra trong làng hay can cập đến quyền lợi của làng nhưng năm ngày trước phiên nhóm, phải trình cho Đại hào mục hay người ủy quyền biết trước những việc đem ra chất vấn để Hội đồng có đủ thì giờ soạn lời giải đáp.

 

Khoản 16.  Tất cả những việc bất bình hay xô xác giữa những người có chân hay tham dự Hội đồng trong khi làm việc làng, trước hết sẽ do Hội đồng Đại hào mục thu xếp, nếu thu xếp không được ổn thỏa thì Hội đồng sẽ trình việc ấy lên quan địa phương phân giải.

 

 

TIẾT THỨ HAI: TỔ  CHỨC  VỀ  TÀI  CHÁNH

 

Mục 1 Ngân sách

 

Khoản 17.  Muốn biết rõ các khoản chi thu của làng và muốn giữ cho các khoản ấy đúng mực thăng bằng nên làng ta ưng lập ngân sách. Các khoản chi thu từ đây đều bằng tiền chứ không bằng sản vật như trước nữa. Nếu có một vài khoản thu đặc biệt bằng lúa như các chủ xe nước nộp lúa biếu chẳng hạn, thì sẽ theo thời giá bán lúa ấy ngay lấy tiền nộp vào qũy làng.

 

Khoản 18.  Chỉ có Hội đồng Đại hào mục trong những phiên nhóm hợp lệ mới có quyền sắp đặt ngân sách của làng và trù định các khoản chi thu. Tất cả những nghị định của Hội đồng về việc chi chuẩn tiền bạc đều phải đệ bẩm Toà, Tỉnh duyệt y rồi mới được thi hành.

Trong khi làm việc cho làng Đại hào mục hiệp với lý trưởng có thể chi những món tiền nhỏ nhưng cộng lại không khi nào được quá 20đ00 trong một tháng. Nhưng sự tiêu phí ấy phải kê biên rành mạch rồi trình Hội đồng Đại hào mục duyệt y.

 

Khoản 19.  Mỗi năm trong phiên nhóm sau cùng vào lúc tháng chạp, Hội đồng Đại hào mục làm sổ dự toán trù định trước các khoản chi thu về năm sau.

Sổ dự toán sẽ đệ trình Đại hội đồng chấp thuận và Toà, Tỉnh duyệt y rồi mới đem ra thi hành. Nếu có hai vị Thủ Hiến thân đến dự Đại hội đồng nói ở khoản 13 trên nầy và đã phê duyệt trong biên bản phiên nhóm rồi thì khỏi phải đệ bẩm sổ dự toán xin duyệt y nữa.

Đại để sổ chi cần phải tương đương với sổ thu, nhưng nếu làng có làm những việc công ích công lợi to tát mà thiếu hụt tiền thì Hội đồng Đại hào mục trong những phiên nhóm hợp lệ có thể quyết định sự vay mượn. Nhưng mà sự vay mượn ấy phải có quan Địa phương và Toà, Tỉnh cho phép mới được. Trong ngân sách nên dự trù một khoản tiền để trả tiền vay mượn ấy cả vốn lẫn lãi.

Tiền dư của làng sẽ dành để làm những việc lợi ích công cộng, bổ vào các sự thiếu hụt và quân cấp cho dân.

 

Mục 2 Qũy làng

 

Khoản 20. Khi chưa sắm được một cái tủ sắt và đặt một người thủ qũy có đảm bảo chắc chắn, muốn được gìn giữ cẩn thận và sinh lợi ra nữa, tiền quỹ làng sẽ đem gởi cho nhà Nông phố ngân hàng Tỉnh Quãng Ngãi.

Sẽ xin Ngân hàng mở một sổ ký trử (Compte de Dépôt) cho làng ta và các việc gởi tiền, rút tiền đều làm theo sổ ấy.

 

Khoản 21.  Mỗi khi Hội đồng Đại hào mục nhóm để quyết định chi một món tiền gì, ngoài số biên bản phải làm, nên làm thêm một bản nữa đưa cho nhà Ngân Hàng.

Khi đã được Toà, Tỉnh duyệt y, sự chuẩn tiền ấy, Đại hào mục hay lý trưởng; hoặc hai người hiệp lại đem tờ biên bản làm thêm nói trên này có chữ ký và ấn của quan Địa phương và Tỉnh Toà đến Ngân hàng xin rút số tiền định trong biên bản. Chỉ hai người ấy mới có tư cách ký nhận tiền ở Ngân Hàng.

 

Khoản 22.  Nếu làng có làm những việc công ích cần phải chi một món tiền to lớn để trả cho người lãnh hàng hay thầu khoán, làng có thể làm “BÔNG” giao cho những người này đến Ngân Hàng rút tiền ở sổ ký trử của làng, “BÔNG” ấy phải có chữ ký của lý trưởng hay Đại hào mục hoặc  người ũy quyền của Đại hào mục.

Nhưng trước khi rút tiền làng cũng phải gởi cho Ngân Hàng một tờ biên bản có chữ ký và ấn của quan Địa phương và Tỉnh Toà về phiên nhóm của kỳ Hội đồng Đại hào mục đã quyết định chuẩn số tiền làm việc công ích ấy. Khi nào tất cã số tiền ghi trong “BÔNG” bằng tiền ghi trong biên bản, thì việc rút tiền phải đình lại, chờ có nghị định khác của Hội đồng.

 

Khoản 23.  Không cần phải có nghị định của Hội đồng, Đại hào mục hay lý trưởng, cũng có thể rút ở Ngân Hàng những số tiền nhỏ, để tiêu về việc làng như đã nói ở khoản 18 trên này. Nhưng trong một tháng, những số tiền ấy cộng lại không bao giờ được qúa 20đ00.

Khi hương ước được quan trên duyệt y rồi, làng sẽ sao các điều khoản về mục 2 này nhờ quan trên chuyển giao cho quan chánh Ngân Hàng biết. Làng sẽ xin Ngân Hàng nếu tiện được, mỗi khi có người rút tiền ở sổ ký trử của làng đều báo cho Đại hào mục biết để báo lại hương bổn hay thư ký của làng ghi vào sổ sách.

 

Mục 3 Kế Toán

 Khoản 24.  Việc kế toán của làng sẽ giao cho hương bổn và thư ký của Hội đồng Đại hào mục chuyên làm. Ngoài những quyển sổ chi thu của nhà nước phát cho làng, người thư ký có thể mở thêm những quyển sổ kế toán khác. Sổ sách của hương bổn và của thư ký đem so sánh với nhau, tuy có khác về sự sắp đặt và cách biên chép, nhưng về số mục chi thu nhất thiết phải cho phù hợp với nhau.

 

Khoản 25.  Theo nguyên tắc, người thư ký phải giữ những sổ sách như sau đây :

Kế toán về tiền bạc

1) Một quyển  Kết “ gồm có hai phần : thu và chi, để biên tất cả những khoản tiền thu, xuất

2) Một quyển sổ cái có hai phần thu và chi. Dưới mỗi phần tờ giấy sẽ chia ra thành nhiều cột, trong mỗi cột sẽ ghi một số thu hay chi.

Ví dụ như  Sổ công điền “,  Sổ cứu tai truất nạn “,  Sổ phạt vạ v.v.. “

Sổ nào gồm có nhiều khoản thu xuất thì nên làm một quyển sách riêng, cũng có hai phần thu, chi; để ghi từng việc và từng số tiền với tất cả những điều chi tiết để tiện việc tính toán và kiểm soát.

 

Kế toán về vật liệu

Khoản 26.  Loại kế toán này gồm có những quyển sổ kể sau này :

1) Một quyển sổ biên nhân công tư ích.

2) Quyển sổ biên số nhân công trợ dịch và phạt dịch.

3) Quyển sổ biên nhà cửa và khí mịnh của làng trị giá mỗi vật (mỗi năm sẽ chi trong ngân hàng món tiền để bù vào sự giảm giá của các vật

4) Một quyển sổ biên công điền công thổ của làng. Về nhân công tư ích và phạt dịch nếu có người xin chuộc bạc thì số tiền sẽ ghi nhập trong sổ  Kết “ và nhân công đã chuộc rồi sẽ biên xuất ở sổ nhân công.

 

Khoản 27. Sẽ dùng những quyển sổ biên lai tồn căn có ghi số hiệu để biên nhận những số tiền trả cho làng và để người ta ký nhận những món tiền của làng trả. Những số tiền trong biên lai phải viết bằng chữ số và chữ thiệt không được gôm tẩy hay dồ bỏ. Nếu viết lầm thì nên viết lại ở biên lai khác tiếp liền theo sau, nhưng cái biên lai viết quấy phải để dính y như củ, không nên xé bỏ đi. Trong biên lai đều có đóng dấu Đại hào mục.

Tất cả những biên lai lưu chiếu với những đơn hàng hay giấy kê biên, tờ biên nhận v..v về tiền bạc, đều sắp theo thứ tự, số hiệu, hay ngày tháng, giữ gìn cẩn thận trong tủ văn thơ của làng để chứng minh những việc thu chi.

Tùy theo từng việc giản dị hay phiền phức, Hội đồng Đại hào mục sắp đặt việc kế toán cho minh bạch, cốt để kiểm soát cho dể, và có thể làm thêm những quyển sổ cầu ích khác, với những quyển sổ kể ở trên này.

 

Khoản 28.  Chỉ một mình lý trưởng có quyền nhận tiền của người ta trả cho làng, giao tiền của làng trả cho người ta và chịu lấy hết cả trách nhiệm. Lý trưởng ký tên và áp triện vào biên lai, người trả ký tên hay điểm chỉ vào phần biên lai lưu chiếu.

Người trả tiền nên nài cho được biên lai có dấu Đại hào mục đóng trước. Nếu lý trưởng viết biên lai bằng giấy thường thì đừng nên đưa tiền trả, nếu không theo lời chỉ bảo này mà rũi lý trưởng lạm tiêu tiền ấy đi, nhất định làng không chịu trách nhiệm.

 

Khoản 29.  Người nào thiếu tiền của làng mà để quá kỳ hạn không chịu trả, Đại hào mục hay lý trưởng bảo thư ký hay thủ bổn làm giấy sai người đi đòi. Sẽ làm một thức giấy gọi là “ Giấy đòi tiền “ có ghi số hiệu, tên người thiếu và số tiền phải trả. Đại hào mục hay lý trưởng ký áp vào giấy ấy. Khi tiền đã nộp xong rồi thì Đại hào mục hay lý trưởng làm biên lai chính thức gởi cho người trả tiền để đổi hay hủy bỏ giấy đòi tiền kia.

Người nào lãnh giấy thâu tiền cho làng, phải ký vào một quyển sổ riêng, ghi rõ tên người thiếu nợ, số giấy đòi, và số tiền phải đi đòi. Người đi đòi hễ nhận được tiền rồi thì đưa giấy đòi cho người trả. Nếu đánh rơi giấy đòi đi mà người thiếu tiền lượm được và lại nói rằng đã giao tiền rồi, thì người đi đòi phải chịu trách nhiệm.

Người nào để quá hạn ba tháng mà chưa trả tiền thiếu cho làng thì phải chịu thêm tiền phí tổn một phần trăm về việc đòi hỏi. Người đi thu tiền đắc lực cũng có thề lĩnh một món tiền thưởng, nhưng không khi nào qúa một phần trăm về số tiền mình đã thu được. Lệ thưởng tiền này không phải là nhất định, Hội đồng Đại hào mục lâm thời tùy theo từng trường hợp nghỉ định nên hay không nên cấp thưởng.

 

Khoản 30.  Trước khi làng đủ sức mua sắm sổ sách in, thì người thư ký có thể làm sổ sách bằng giấy thường và giữ gìn cho sạch sẽ, như có chữ quấy sót nên viết lại lên trên bằng mực đỏ rồi xin Đại hào mục hay lý trưởng duyệt ký. Trước khi làng có phòng giấy ở nhà Hội, Hương bổn hay người thư ký được phép để sổ sách ở nhà mình, song người làng bất kỳ là ai hay quan trên có đến xem xét sổ sách ấy và hỏi han điều gì thì phải đem trình và giảng giải. Sổ sách nào viết hết rồi thì nên đem thưa với Đại hào mục và lý trưởng ký vào rồi đem để tủ văn thơ của làng.

 

Mục 4 Kiểm soát

 

Khoản 31.  Sẽ thiết lập một ủy ban kiểm soát gồm có Đại hào mục, một kỳ hào và một viên quan, mỗi tháng nhóm một kỳ vào một ngày nhất định, về cuối tháng ở nhà Hội của làng, để kiểm xét, kiết tính sổ sách tất cả công việc chi thu trong tháng ấy. Những người giữ sổ sách về kế toán và thu tiền cho làng, đến ngày ấy đem sổ sách, sổ biên lai, giấy tờ khác và tiền bạc đến giao cho ủy ban kiểm xét. Buộc người nào gặp việc trở ngại không đến được, phải giao sổ sách và tiền bạc cho người nhà đến nộp, không được viện một cớ gì để hoãn lại.

 

Khoản 32.  Ủy ban kiểm soát sổ sách nhận tiền bạc, làm giấy mực xong rồi phải đem tiền gởi vào Nông Phố Ngân Hàng, lấy biên lai đem giao cho thủ bổn hay thư ký nhận giữ.

Những người thu tiền cho làng không nên để nhiều tiền trong mình. Nếu thu được từ 5đ00 trở lên, thì liền đem đến nhà Ngân Hàng nộp vào sổ ký trử của làng lấy biên lai rồi đến cuối tháng đem trình ủy ban kiểm soát. Người nào lạm tiêu tiền của làng sẽ bị truy vấn trước Tòa án phủ Tư Nghĩa. Ngoài những sự trừng phạt mà Toà án sẽ chiếu luật thi hành làng sẽ xem người ấy như kẻ thiết đạo và đối đãi với họ cũng như đối đãi với kẻ thiết đạo.

 

TIẾT THỨ BA

 

TOẠ  THỨ

 

Mục 1 Đình gian giữa

 

Khoản 33.  Trong làng người nào thi đậu thạc sĩ, tấn sĩ, hoặc làm quan tới Chánh Khanh, ngồi ngay đình gian giữa biệt tịch.

 

Mục 2 Nhà đông gian giữa

 Khoản 34. Trong làng người nào làm quan văn hay võ đến ấn quan, ngồi nơi gian giữa biệt tịch trước các quan văn võ thuộc viên.

 

Khoản 35. Các quan văn võ thuộc viên và tân cựu học cử nhân tú tài các bằng cấp tân học có giá trị tương đương và cao đẳng tiểu học văn bằng thọ dân đều tùy theo phẩm thứ (văn tả võ hữu) ngồi gian giữa ghế thứ.

 

Mục 3 Gian tả

 

Khoản 36. Miễn sai, miễn điêu, sơ học văn bằng, đương thứ kỳ hào Tộc biểu, Lý hương, Chánh, Phó xã đoàn chiếu theo vị thứ mà ngồi.

 

Mục 4 Gian hữu

 

Khoản 37.  Biền binh và cựu hỳ hào, Tộc biểu, Lý hương, Chánh, Phó xã đoàn, chiếu theo vị thứ mà ngồi.

 

Khoản 38.  Về năm khỏan tọa thứ kể trên, đã có định lệ rồi, song trừ khoản thứ nhứt ra, viên nhân nào hoặc vị tình bà con, thày trò hay vị tuổi tác thuận nhượng ngồi cũng được.

 

Mục 5 Nhà tây ba gian

 

Khoản 39.  Lão nhiêu, Ấp dịch, Thập đoàn, Tuần đinh, Thủ khoán ngồi ngoài gian giữa, dân tráng ngồi gian tả, dân mới nhập và dân ngụ ngồi gian hữu, đều tùy tuổi mà phân trước sau.

 

TIẾT THỨ TƯ

 

TẾ  LỄ

 

Mục 1 Thần sắc

 

Khoản 40. Thần sắc là hữu vật của làng nên để tại đình và đặt một người thủ sắc để giữ. Mỗi năm, bốn kỳ, (rằm tháng ba, tháng sáu, tháng chín, tháng chạp) Chủ bái và Lý, Hương đều đến đình họp với thủ sắc đem thần sắc ra phơi rồi niêm phong lại.

 

Mục 2 Nguyên đán

 

Khoản 41. Thường năm đến tiết nguyên đán, trước một ngày Lý, Hương sức dân đem cờ, đem đèn để trần thiết trước đình.

Đúng ngay nguyên đán, Quan Viên, Chủ bái, Hào Biểu, Lý hương, Chánh, Phó xã đoàn đều phải đến tại đình làm lễ.

Đồ trần thiết giao cho đình phu giữ, Hương kiểm, Chánh phó, xã đoàn cũng phải sức dân canh phòng cho đến khi hết tết.

Lễ dùng hương, đèn trấm, trà, trầu, cau, rượu.

 

Mục 3 Xuân thủ

 Khoản 42.  Thường năm đến ngày rằm tháng giêng có làm lễ xuân thủ. Đến ngày ấy Quan viên, Chủ bái, Hào biểu, Lý, Hương, Chánh, Phó xã đoàn đều đến đình làm lễ.

Lễ dùng hương ,đèn, trầm, trà, trầu, cau, rượu.

 

Mục 4 Khai thác

 Khoản 43.  Thường năm đầu tháng giêng tục làng có làm lễ khởi mỏ. Giao Lý, Hương chọn ngày tốt cử hành lễ ấy.

Lễ dùng hương, đèn, trầm, trà, trầu, cau, rượu.

 

Mục 5 Xuân tế, Thu tế

Khoản 44. Thường năm ngày rằm tháng hai tại đình có làm lễ tế xuân. Trước một ngày, Quan Viên, Chủ bái (Ông Tiên chỉ sung hành, hoặc Ông Tiên chỉ chọn người cần ủy) Hào Biểu Lý Hương, Chánh, Phó xã đoàn. Lễ sanh đều nhóm tại đình để chọn người dự lễ. Chọn xong, người nào chuyên việc gì phải kê biên yết tại nhà Hội cho biết. Sức dân đem cờ trống đến trần thiết trước đình cho long trọng. Đoạn làm lễ.

Lễ dùng hương, đèn, trầm, trà, trầu, cau, rượu, quả phẩm, sanh tư.

 

Khoản 45. Lúc tế ai nấy lo phần việc mình mà làm lễ. Chánh, Phó xã đoàn ở ngoài giữ gìn trật tự không được cho người ngòai vào. Lý trưởng hay Hương hộ đứng hầu lễ. Tế xong rồi thì dùng cái dầu con sanh chinh tế cẩn Ông Tiên chỉ (phần hành của Hương bộ) còn bao nhiêu dùng để khoản đãi những người đến dự lễ, chớ không có đặt phần kính biếu nữa.

 

Khoản 46.  Thường năm hễ đến ngày rằm tháng tám thì làm lễ tế Thu. Đại để việc cử hành lễ ấy cũng giống như lễ tế xuân.

 

Mục 6 Chạp đình

 Khoản 47. Thường năm hễ đến ngày 25 tháng chạp thì làng làm lễ chạp đình. Sáng ngày ấy, Chủ bái và Lý, Hương đều đến tại đình sức bác dân phu quét dọn sạch sẽ và trần thiết cho long trọng rồi cử hành lễ ấy.

Lễ dùng hương, đèn, trà. Trầu, cau, rượu, qủa phẩm, sanh tư

 

Mục 7 Phật tự

 Khoản 48. Trong làng có một sở chùa hiệu là chùa Long tiên. Đồng ưng đặt một người thầy chùa làm trù trì để giữ chùa ấy. Theo lệ chùa có làm lễ tam nguyên (rằm tháng giêng, tháng bảy, tháng mười) lễ nguyên đán (ngày mồng một tháng giêng). Đến mỗi ngày lễ ấy Chủ bái, Lý, hương đều đến chùa làm lễ. Lễ cúng giao cho trù trì chùa ấy chuyên biện.

Lễ dùng hương, đèn, trầm, trà, trai, bàn, quả phẩm.

 

Mục 8 Tôn thần Từ úy nhật

 Khoản 49.  Thường năm đến ngày kỵ tôn thần, trước một ngày. Lý, Hương bắt dân đem cờ trần thiết tại tôn thần từ. Đến này kỵ, Chủ bái, Lý Hương đến thần từ làm lễ.

Lễ dùng hương, đèn, trầm, trà, trầu, cau, rưự«u, quả phẩm. Còn thần sắc ưng rước cùng không, tùy nơi người tự trưởng tôn thần. Như ưng rước thì người tự trưởng ấy phải làm tờ thưa trước ba ngày, xin như dân phu và đồ nghi lễ rước thần sắc là bao nhiêu. Lý trưởng phải sức bác dân phi sửa soạn những đồ nghi lễ ấy rồi đến ngày cùng với chủ bái, tôn thần tự trưởng và lễ nhạc đều đến đình rước thần sắc về tôn thần từ. Tế xong, đem thần sắc về đình trở lại nhà thờ tôn thần dự cuộc khoản đãi.

 

Mục 9 Hưng quốc khánh niệm

Khoản 50.  Thường năm đến ngày mùng hai tháng năm chính là tiết Hưng quốc khánh niệm. Ngày ấy thật sớm Quan Viên, Hào Biểu, Lý, Hương, Chánh, Phó xã đoàn, đều đến đình sở trần thiết cho long trọng để cung hạ khánh lễ

 

Mục 10 Quốc khánh

Khoản 51.  Thường năm mỗi đến ngày Quốc khánh, Quan viên, Hào biểu, Lý, Hương, Chánh, Phó xã đoàn đều đến tại đình sở cho thật sớm để trần thiết, cung hạ khánh lễ.

 

Khoản 52.  Trong làng viên nhơn nào quá cố mà lúc sanh thời có công đức với làng, mỗi đến ngày kỵ, như người tự chủ có mời, thì Lý hương đem lễ đến cúng. Lễ dùng trầu, cau, rượu.

 

Khoản 53.  Tất cả những khoản chi phí về các việc tế lễ hay đi lễ đều trích lấy trong công quỉ của làng và sẽ định rõ trong sổ dự toán mà cuối năm Hội đồng Đại hào mục phải làm như nói ở khoản 19 trên nầy.

 

TIẾT THỨ NĂM

 Mục 1 Khánh hạ

 

Khoản 54. Trong làng Quan viên nào văn tự thất phẩm, võ lục phẩm trở lên được thăng thưởng (trừ những người tại chức) và thi đỗ Thạc sĩ, Tấn sĩ, Cử nhơn, Tú tài và tất cả những bằng cấp khác có giá trị tương đương. Lý, Hương bác sức dân phu đem đồ nghi lễ rước về đình yết thần đoạn dùng trầu, cau, rượu, pháo (hai phong) làm lễ mừng tại đấy. Tiền chi phí về cuộc rước ấy do công quỉ làng chịu. Trái lại Quan viên nào văn từ bát phẩm, võ từ thất phẩm trở xuống, nếu có xin thì làng mới rước theo nghi lễ như trên, song phí tổn quan viên ấy phải chịu.

 

Khoản 55.  Trong làng viên nhơn nào được thăng thưởng từ cấu quan và thi đổ Tú tài trở lên làng sẽ dùng lễ đi mừng. Lễ mừng gôm có một bàn trầu, cau, rượu và một câu liễn. Còn viên nhơn nào sơ bổ thuộc quan thi đổ Cao đẳng tiểu học văn bằng và được biển ngạch thì lễ mừng sẽ là một bàn trầu, cau, rượu mà thôi. Phí tổn sẽ do quỉ làng chịu.

 

Khoản 56.  Người nào được sắc tứ thọ quan, thọ dân, tứ ngũ đại đồng đường, nghĩa phụ, tiết phụ, hiếu tử, thuận tôn, các biển ngạch, muốn rước về nhà làm lễ mừng thì ba ngày trước phải xin dân phu và đồ nghi lễ. Lý hương phải cung nhu cho đủ theo lời người ấy xin đề cử hành cuộc rước. Sẽ dùng một bàn trầu, cau, rượu, hai phong pháo để làm lể mừng. Tiền chi phí sẽ do công qủi làng chịu. Xã thôn nào có việc khánh hỉ đến mời làng mình, lâm thời sẽ liệu định

 

Mục 2 Tang lễ

 

Khoản 57.  Trong làng viên nhơn nào tệ thế, hạn trong 24 giờ, tang chủ phải đến Hương bộ xin giấy chứng chỉ. Nếu người chết là quan chức thì hạn từ một ngày cho đến một tháng, nếu là thứ dân thì từ một ngày đến tám ngày, người tang chủ phải lo tống táng cho xong, trừ những người chết về bệnh truyền nhiễm như : dịch tả, dịch hạch, đậu mùa thì phải chôn liền.

Lễ điện tế và lễ táng cần phải làm kiệm ước. Đối với người làng họ bạn bè, đến thăm, điếu, người ở gần thì tang chủ chỉ dùng trầu nước, xa thì dùng cơm thường khoãn đãi, không được đặt rượu thịt ăn uống như những tiệc vui. Nếu người qúa cố chết về bệnh truyền nhiễm thì tang chủ không được đãi đằng, dầu là cơm thường cũng vậy.

Trước khi làm lễ táng người chết, tang chủ phải trình cho Lý Hương biết ngày giờ chôn và chôn tại chỗ nào.

 

Khoản 58.  Trong làng người nào có công đức với làng, hay vợ người ấy quá cố, thì nên chiếu tùy phẩm vọng mà đi điếu (dùng tiền bạc hay phẩm lể) và đưa đám (dùng cờ trống). Người nào xuất ngụ, nên tùy theo ngụ quán tục lệ, còn đối với người tha xã mà làng ta niệm tình tống điếu thì lâm thời sẽ liệu định.

 

Mục 3 Khao vọng

 

Khoản 59.  Trong làng nhà nào có làm những lễ như là tế xuân, tế thu, kỵ lạp, khao thổ, làm chay, hoàn nguyện, tùy theo nhà giàu nghèo mà làm không nên xa xỉ thái quá, chí như những việc đồng bóng, phù pháp, để lợi dụng lòng mê tín của người thì nhất thiết cấm chỉ.

 

Mục 4 Hôn lễ

 Khoản 60.  Việc hôn nhơn rất hệ trọng cho đời người con trai con gái. Cha mẹ hay anh trưởng vẫn có quyền định đoạt gia thất cho con em mình, tuy nhiên cũng nên tùy lòng ưng muốn của chúng nó, không nên ép uổng, làm hỏng cuộc đời và hạnh phúc của đôi vợ chồng vì không thương yêu nhau.

 

Khoản 61. Người làm con em không nên vượt quyền cha mẹ hay anh trưởng mình mà tự tiện kết hôn. Làm như thế là phạm luật nhà nước, trái lệ làng, mà cũng là một điều không phải đối với gia đình của mình nữa. Phương chi cuộc hôn phối không hợp pháp không được gia đình công nhận là một cuộc hôn phối thiếu hạnh phúc mà lại còn có khi sinh tủi hổ cho mình nữa.

 

Khoản 62.  Hôn lễ nên làm đơn giản. Sự đơn giản vẫn không làm mất vẻ long trọng của một cuộc hôn thú hợp pháp. Nhà gái không nên xem việc gả con lấy chồng như việc buôn hàng hoá cần phải đặt gía cho cao, mong thu lợi cho nhiều. Người nào làm như thế không những không biết làm trọn cái thiên chức của mình đối với con em mà lại còn làm giảm nhân phẩm của chúng nó nữa.

 

Khoản 63.  Việc hôn thú để dây dưa ra nhiều ngày thường sinh tệ mà không có lợi gì cho hai họ kết hôn với nhau. Bởi vậy cho nên trừ khi có duyên cớ chính đáng, từ một tháng đến sáu tháng việc giao ước kết hôn nên làm cho thành.

Trong làng về trước có lệ nộp tiền giai lang, nay ưng bãi bỏ.

 

Mục 5 Nhân thế bộ

Khoản 64.  Nhà nước đặt ra nhân thế bộ để kiểm điểm những việc sinh tử, giá thú trong nước. Hương bộ trong làng nhận giữ sổ ấy nên cẩn thận trong việc biên chép, xát sát những lời khai bao giờ cũng phải làm cho đúng lệ.

 

Khoản 65.  Người trong làng nên biết rằng việc ấy rất có quan hệ mật thiết đến tình trạng và sự sinh hoạt của làng và của cá nhân trong làng. Mỗi khi gặp một việc trong những việc ấy, nên đến Hương bộ khai báo ngay, lời khai phải làm cho chân thật và cũng không nên để chậm trể.

Nhờ nhân thế bộ mà ta có thể tránh những sự bất công trong việc trước tịch, chính thức hưởng quyền lợi của kẻ có công dân và cũng nhờ nhân thế bộ mà việc học hành của con em ta được dễ dàng, những việc cưới hỏi được hợp pháp. Ta cũng thường thấy vì không có tờ khai sinh chính thức mà những người được bổ làm việc hay xin vào trường học phải gặp những sự khó khăn, vì không có  một tờ khai hôn thú chính thức mà một người vợ mất địa vị và quyền lợi của mình trong gia đình.

 

TIẾT THỨ SÁU: CẦM  PHÒNG

 

Mục 1 Động tịnh

 

Khoản 66.  Cầm phòng về việc động tịnh là một vấn đề tối ư quan trọng để gìn giữ cuộc trị an trong làng. Có hai trường hợp :

1- Phòng ngừa những việc biến động có thể xảy ra.

2- Đối phó với việc biến động đương xảy đến.

 

Khoản 67.  Về trường hợp thứ nhất. Cùng với chánh, phó xã đoàn có chức trách đặc biệt trong việc ấy, tất cả nhân dân trong làng đều liên lạc chịu trách nhiệm chung, đối với việc cầm phòng, trong lúc yên tịnh, cũng như đương khi biến loạn. Bởi thế cho nên bất cứ người trong làng hễ trông thấy kẻ lạ mặt hay có vẽ khả nghi vào làng mình, tức thì phải báo cho người hương chức ở gần mình biết. Người hương chức bèn dò hỏi cho biết căn cước và sở hành của người ấy. Nếu quả có điều đáng nghi, như là xét không có bài chỉ, căn cước, hay là người ấy có mang theo những đồ quốc cấm, thì nên giữ lại, rồi báo cho Đại hào mục hay Lý trưởng biết để giải đến Quan Địa phương cứu xét. Nên hết sức thận trọng và nhã nhặn trong việc ấy để khỏi xâm phạm danh dự và tự do của người lương thiện. Nhà nào chứa kẻ xa đến trọ, muốn tránh những việc lôi thôi cho mình nên đến báo cho nhà chuyên trách trong làng biết trước.

 

Khoản 68.  Hết thảy những việc tụ họp được Quan trên cho phép cần phải có một người đại diện của làng đến dự. Bởi thế cho nên nhà nào có tổ chức những cuộc tụ

họp nói trên, nên trình giấy phép cho Đại hào mục biết, để chọn phái người đại diện đến dự. Người đại diện ấy có thể là Đại hào mục, một người kỳ hào, Lý trưởng hay là một hương chức khác. Người đại diện có chức trách coi chừng trong lúc nhóm họp có kẻ nào lợi dụng cơ hội để diễn thuyết, hay tuyên truyền, về những việc phi pháp trái với mục đích của cuộc hội họp được quan trên cho phép ấy.

 

Khoản 69.  Theo luật lệ hiện hành của Nhà nước, ta vẫn được tự do làm những lễ như là Quan, Hôn, Tang, Tế; nhưng muốn phòng ngừa những việc tư hiềm, đâm điểm có thể xảy ra được và nhất là muốn được lòng tín nhiệm của quan trên, nhà nào có cử hành một trong bốn lễ kể trên mà cần phải tiếp đãi trên hai mươi người ở trong làng hay ở làng khác đến, thì trước 15 ngày phải báo cho tộc biểu biết nhất định ngày giờ nào sẽ cử hành lễ ấy. Tộc biểu tức thì chuyển đệ lời báo ấy lên Đại hào mục để ông nầy hiệp với lý trưởng làm tờ báo trình quan Địa phương tri chiếu. Người có việc muốn thân hành đến báo thẳng với Đại hào mục hay lý trưởng cũng được.

Đến ngày, trừ gặp việc trở ngại, tộc biểu cũng nên đến nơi để quan sát tình hình trong lúc hành lễ.

 

Khoản 70.  Về trường hợp thứ nhì. Chẳng may gặp cơn biến động, tất cả những người chuyên trách và nhân dân trong làng phải đoàn kết lại thành một sức mạnh để đối phó. Nếu có phải đối đầu với bọn phiến động đến làng mình, trong lúc chờ đợi sự tiếp cứu của quan trên, ta nên giữ thái độ cương quyết và can đảm. Nếu phải hy sinh tính mệnh để bảo vệ cuộc trị an cho làng v tỏ lòng trung thành với Nhà nước, thì cũng là cái nghĩa vụ nên làm.

 

Khoản 71.  Về việc cầm phòng động tịnh, làng ta đã sẵn có 200 dân đoàn. Đội dân đoàn ấy xem như đội lính dũng của làng cần nên tổ chức lại cho chỉnh đốn hơn trước.

Đương khi biến động có thể chia dân đoàn ra từng nhóm, để việc đốc xuất cho được thuận tiện và nhất là cho có kỷ luật.

1) Quản đoàn gồm có 200 dân đoàn, kể cả cai đoàn trưởng và thập đoàn trưởng đặt dưới sự cai quản và mệnh lệnh của Chánh xã đoàn hay Phó xã đoàn khi người kia vắng mặt.

2) Đội đoàn gồm có 100 dân đòan kể cả cai đoàn trưởng và thập đoàn trưởng đặt dưới sự cai quản và mệnh lệnh của Phó xã đoàn.

3) Cai đoàn gồm có 50 người kể cả cai đoàn trưởng và thập đoàn trưởng đặt dưới sự cai quản và mệnh lệnh của Cai đoàn trưởng.

4) Thập đoàn gồm có 10 người kể cả thập đoàn trưởng đặt dưới sự cai quản và mệnh lệnh của người nầy

Trong lúc yên tịnh nên lựa một cai đoàn gồm có 50 người thường trực để làm việc cầm phòng mỗi khi có sức lệnh của quan trên. Còn 150 kia, thì tạm cho xuất đoàn và sẽ trước vào hạn trừ bị, đợi khi nào có xảy ra những việc biến động thì làng mới gọi vào Đoàn lại.

 

Khoản 72.  Trong khi thừa hành chức vụ, dân đoàn nhứt thiết phải tuân mệnh lệnh của Đoàn trưởng. Những sự trái lệnh, vô lễ và hành hung đối với kẻ bề trên trong đoàn sẽ bị trừng phạt hết sức nghiêm nghị theo điều khoản 158. Mỗi khi có xảy ra một việc phạm lỗi trên này, người đoàn trưởng phải trình đến Chánh hay Phó xã đoàn phân xử. Hai người này được phép phạt vạ đến 0đ20. Tiền phạt sẽ nộp vào quĩ làng. Nếu muốn phạt nặng hơn nữa, thì Chánh Phó xã đoàn phải trình lên Đại hào mục để ông này nhòm Hội đồng phân xử.

Những việc xô xát giữa dân đoàn đương khi làm chức vụ, đều giao  Chánh, Phó xã đoàn phân giải và phạt vạ người có lỗi đến 0đ20 là cùng.

 

Khoản 73.  Dân đoàn sẽ chọn trong những người tráng dân khoẻ mạnh của làng, từ tuổi thành dinh đến 45 tuổi. Bắt đầu từ ngày nhập đoàn, người dân đoàn làm việc từng thời kỳ một là 3 năm, trừ thôi trước hay đăng lại.

Người nào chu hạng đã xuất đoàn mà sức lực còn cường tráng sẽ cũng có thể gọi vào đoàn lại, nhưng khi đã làm việc đúng năm thời kỳ nghĩa là 15 năm, thì người ấy được hưởng sự yên nghĩ hoàn toàn, khỏi bị gọi vào đoàn nữa.

 

Khoản 74. Tất cả Chánh, Phó xã đoàn, cai đoàn, thập đòan và dân doàn đương khi làm chức vụ, đều được miễn trừ tư ích. Nhưng người dân đoàn trù bị không được hưởng sự miễn trừ ấy, nhưng ban đêm được miễn đi canh.

Những người dân đoàn thường trực, tuy không có sức lịnh của quan trên mặc dầu thường ban đêm cũng phải đi canh tuần và nếu gặp khi có kẻ cướp đến làng quấy rối, hay phải tiếp cứu một làng lân cận nào, thì phải hiệp với hương kiểm và dân canh tiếp ứng.

 

Khoản 75. Người dân đoàn thường trực nào chu hạng hay có duyên cớ chính đáng xin xuất đoàn, thì chánh, phó xã đoàn liền chọn trong những người trù bị, một người để điền thế. Nếu gặp những sự khó khăn trong việc lựa chọn thì chánh, phó xã đoàn

phải trình lên Đại hào mục để ông này nhóm hội đồng nghĩ định.

 

Khỏan 76. Người nào nỗi khi chu hạng mà thuận đăng liên tiếp :

Bốn thời kỳ (12 năm) sẽ được xem như miễn điêu

Năm thời kỳ (15 năm) sẽ được xem như miễn sai.

 

Khoản 77. Những người ở trong đoàn kể được 15 năm làm việc một cách gián đoạn mà không có phạm lỗi gì nặng, sẽ cũng được xem như miễn điêu.

Người nào nhờ trí thông minh và lòng dũng cảm lập được nhiều công đặc sắc, tuy không gồm đủ điều kiện về niên hạn kể trên cũng có thể đặc cách hưởng những sự vinh dự ấy.

 

Khoản 78. Những người được hưởng những sự vinh dự kể trên sẽ được Hội đồng Đại hào mục ban cấp chứng chỉ và tùy theo mỗi hạng cũng được hưởng những quyền lợi và sự đối đãi của làng cũng như những người thiệt chức, nhưng phải sau những người này.

 

Khoản 79. Chánh, phó đoàn nên làm một quyển sổ, ghi họ tên tuổi mỗi người dân đoàn, ngày nhập đoàn và ngày xuất đoàn và biên chu tất cả nhửng công trạng hay sự phạm lỗi của người dân đoàn ấy. Sẽ có thể lập những điếm canh riêng cho dân đoàn.

 

Mục 2 Đạo kiếp

 

Khoản 80. Cầm phòng để ngừa sự trộm cướp và nhân thế để giữ gìn tài sản cho nhân dân quan hệ cỹng không phải ít. Bởi vậy cần phải tổ chức việc canh tuần, cho chu đáo hơn.

 

Tổ chức canh tuần

 Khoản 81. Trừ Chức  sắc, miễn sai, miễn  nhiêu, lão nhiêu, phế tật, người trong làng bất câu chánh ngụ đều có phận sự đi canh. Hương kiểm hay Phó lý đốc suất việc canh tuần cho khỏi sơ suất.

Nên sửa sang những điếm canh củ và nếu có cần thì phải đặt thêm điếm canh mới ở những nơi hiểm yếu. Định địa phận của mỗi một điếm canh và chia phiên canh, ghi rõ ngày giờ cho minh bạch để người dân canh biết ứng hành cho tiện.

Giờ canh định từ 7 giờ đêm đến 6 giờ sáng. Mỗi điếm canh ít nhất cũng phải có mười người dân canh (hai dân đoàn tám dân tráng và dân bất kham)

Một đêm gồm có hai phiên canh, mỗi phiên , 5 dân canh. Phiên thứ nhất bắt đầu từ 7 giờ tối và mãn khi 12 giờ đêm. Phiên thứ nhì bắt đầu từ cuối 12 giờ đêm và mãn khi 6 giờ sáng.

 

Khoản 82.  – Người dân canh nào gặp việc gì ngăn trở không đi canh được (đau ốm hay có duyên cớ gì chánh đáng khác) phải xin phép nơi Hương kiểm và nói rõ duyên cớ. Hương kiểm ghi tên người khiếm diện vào sổ rồi lựa người dân canh đêm sau điền thế. Đến phiên canh đêm sau người khiếm diện phải đi canh trả lại cho người kia.

Không xin phép mà tự tiện ở nhà nếu trong đêm có xảy ra vụ trộm cướp nào trong làng, người khiếm diện xem như có dính dự vào vụ trộm cướp ấy, sẽ bị giải trình cứu xét. Nếu được xét ra là vô tội đi nữa, người khiếm diện không xin phép cũng phải bị phạt theo điều khoản 158 sau này.

 

Khoản 83. Người tình nghi thiết đạo, tối đến 7 giờ, phải đến điếm canh trong ấp mình để cho dân canh giữ, đến 6 giờ sáng mới được về. Nếu gặp việc trở ngại muốn ở nhà, thì phải làm tờ xin phép nơi Hương kiểm mới được. Trong giấy xin phép phải có phụ huynh đứng bảo lãnh và tộc biểu ký chứng.

Người tình nghi bị phạt đến điếm canh trong một hạn là hai tháng song trước hạn ấy, Hội đồng Đại hào mục xét quả người ấy đã  ăn năn bỏ tánh xấu sẽ được di tên trong sổ tình nghi.

Nếu lại làm cho người ta tình nghi nữa, thì kỳ hạn đến điếm canh sẽ kéo dài đến gấp hai gấp ba lần tùy theo từng trường hợp, và sẽ do Hội đồng Đại hào mục xét định.

 

Khoản 84.  – Những người bị án thiết đạo mà trong án có định rõ sự quản thúc thì khi được tha về, chiếu theo kỳ hạn trong bản án, tối nào khi bảy giờ cũng phải đến điếm canh sở tại, cũng như những người bị tình nghi, cho đến khi nào hết hạn mới thôi. Sau khi hết hạn quản thúc mà người ấy lại làm cho người ta tình nghi, thì sẽ bị bắt đi canh lại như nói ở điều khoản 83 trên nầy.

 

Khoản 85. – Tuy có việc tuần phòng chắc chắn của làng tổ chức mặc lòng, người trong làng có của phải giữ. Nếu rủi bị mất trộm cướp, liền báo cho Lý trưởng hau Hương kiểm biết, hai người nầy liền đến nơi, mở cuộc điều tra và làm biên bản kể những vật đã mất. Nếu là đồ dùng hay thú vật, nên tả rõ hình dạng, nếu là văn khế hay trích lục, thì nên ghi rõ số hiệu, giới cận, sào mẫu va giá tiền ruộng đất vân vân… Tờ biên bản sẽ trình lên Quan Địa phương xin thông tư tầm nã. Nhà chuyên trách về việc cầm phòng cũng phải gắng sức tìm kiếm những của đã mất cho người sự chủ.

Nếu người sự chủ vì mất cũa mà phải bị nghèo nàn cực khổ, Hội đồng Đại hào mục có thể chiếu theo các khoản cứu tai truất nạn sau nầy, trích công qũy trợ cấp cho một khoản tiền, ít nhiều tùy theo từng trường hợp.

 

Khoản 86. Nều vì việc canh tuần biếng trễ mà trong làng liên tiếp xảy ra nhiều vụ mất trộm, thì sau một cuộc điều tra kỹ lưỡng, Hội dồng Đại hào mục sẽ có thể trình lên quan Địa phương xin trách phạt người hương chức chuyên việc tuần phòng. Còn dân tuần sẽ bị phạt theo điều khoản 158.

 

Khoản 87. Nếu có xảy ra những vụ trộm cướp to lớn, tất cả nhân dân trong làng phải hiệp với nhà chuyên trách và dân canh để kháng cự và tìm bắt. Không được ỷ lại nơi mấy người nầy mà nhản bỏ nghĩa vụ của mình.

 

Khoản 88. Về việc tuần phòng đạo kiếp cũng như động tịnh, đối với những làng lân cận, ta có bổn phận cứu giúp. Bởi vậy lâm thời có làng nào xin ta giúp sức để truy nả một tay phiến loạn hay một tên đạo kiếp, trong hay ngoài địa phận của làng ta cũng vậy, tức thì những người chuyên trách về cầm phòng đốc sức dân phu để tiếp viện.

Dẫu không có lời xin tiếp cứu đi nữa, hễ nghe ở làng lân cận có tiếng mõ ống kêu la náo nhiệt, khiến cho ta đoán biết có sự biến động hay đạo kiếp gì xảy ra trong làng ấy, tức thì nhà chuyên trách và dân canh ở các điếm canh cùng với nhân dân trong làng, bất kỳ ở trường hợp nào hay lúc nào, đều phải ra chận các ngã đường chờ kẻ phạm pháp chạy qua làng mình thì bắt giữ lại để giao cho làng lân cận.

 

Khoản 89. Trong việc tuần phòng người nào trong làng không kể là nhà chuyên trách hay kẻ thường dân mà có công tố giác hay bắt được kẻ gian, thì sẽ được thưởng theo điều khoản 158. Điều khoản 115 cũng có thể thi hành cho những người nhân việc tuần phòng bị thương tích hay mệnh vong.

Trái lại người nào dung túng hay dấu giếm kẻ gian, xét ra có đủ bằng cớ, sẽ bị phạt theo điều khoản 158.

 

Mục  3:  Núi Thiên Bút – Mộ địa của người Âu châu

 Khoản 90. Sau khi thành trưng Núi Thiên Bút rồi sẽ đặt hai người thủ khoán để canh giữ.

Sẽ cấm người trong làng và ở làng khác chôn người chết ở trong núi ấy. Sự cấm này sẽ không thi hành cho những người Pháp hay người  Âu Châu chôn người chết ở mộ địa riêng trong núi.

Làng ta dành đất ở xứ thông viên cho khách ngụ trong làng ta rồi, nhà nào có người chết đem đến đấy mà chôn.

Làng ta sẽ làm những bản yết đó  CẤM CHÔN NGƯỜI CHẾT TRONG NÚI NÀY “ để cảnh cáo cho người ta biết. Nếu không tuân lệnh cấm ấy, đám tang sẽ bị triệt. Nếu tang chủ đem người chết chôn ở chỗ khác thì thôi, bằng cường ngạnh sanh sự lôi thôi, nội vụ sẽ trình lên Quan Địa phương phân xử.

Sẽ cấm người làng và người ngoài đêm hôm vào trong núi. Sẽ cấm hái củi và đốn cây trong ấy.

Khi núi đã khai phá có hoa lợi rồi, bất kỳ là lúc nào, người làng và người ngoài không được vào trong núi mà không xin phép với thủ khoán. Sự cấm này sẽ không thi hành với Quan quân đến bắn tập nơi trường tập đã lập sẵn trong núi và cũng không thi hành đối với Lý hương, kỳ hào và đại hào đương thứ.

Người làng phạm vào điều khoản nầy sẽ bị phạt theo điều khoản 158. Người ngoài sẽ bị giải trình quan Địa phương phân xử, nếu không chịu phạt vạ theo điều khoản ấy.

Người nào bắt được kẻ phạm vào điều khoản nầy đem trình làng sẽ dược thưởng theo điều khoản 158 còn thủ khoán sẽ bị phạt về lỗi phóng phế chức vụ.

 

Mộ địa của người Âu châu

 Khoản 91. Trừ những người Âu Châu và Quan Chức đến viếng mộ địa, nhất thiết cấm những người khác vô cớ vào trong ấy.

Người nào lén vào trong mộ địa lấy cắp hay phá hủy những đồ đạc hay vòng hoa để trên mộ.

1) Nếu là trẻ con ở trong làng thì cha mẹ chúng nó sẽ bị phạt vạ hết sức nặng theo khoản 158, và đền bồi những vật lấy cắp hay phá hư.

2) Nếu là trẻ chăn trâu thì người chủ chúng nó cũng phải phạt vạ và đền bồi như đã nói ở đoạn trên.

3) Nếu người lớn ở trong làng thì người ấy sẽ tự chịu lấy những trách nhiệm kể trên.

4) Nếu là người ngoài thì sẽ bị giải trình quan Địa Phương nghĩ phạt.

Về ba trường hợp 1,2,3 nếu vì tình tội nặng mà người phạm lỗi bị giải lên quan trên cứu nghĩ, thì khỏi bị làng phạt nữa.

Những thủ khoán làng đặt ra để canh giữ núi cũng phải trông nom mộ địa ấy. Nếu thấy người nào phạm những điều khoản trong mục này, nên bắt giữ lại rồi báo cho Lý trưởng hay Đại hào mục xử trí.

Tất cả những sự cấm trên nầy sẽ có bản yết cho người ta biết.

 

Khoản 92. Chỉ Hội đồng Đại hào mục mới có quyền định đoạt việc bán ba lợi và đất (rãi đường và đắp nền nhà) trong núi. Tuy nhiên, gặp khi gấp rút, Đại hào mục hiệp với Lý trưởng và Hương bổn hợp thành một ủy ban, có thể thương lượng với người mua, định đoạt giá cả và các điều giao ước khác rồi đem ra thi hành ngay. Đến phiên nhóm Hội đồng sắp tới, ủy ban sẽ đệ trình việc ấy để Hội đồng chấp thuận.

 

Mục  4   Chôn người Chết trong làng

Khoản 93. Người tha xã muốn chôn người chết trong địa phận của làng ta, phải làm giấy báo tường cho Lý trưởng biết mới chôn được.

Mỗi khi Lý trưởng nhận được tờ báo tường, phải tiếp ký và đóng triện vào rồi giao cho tang chủ giữ, phòng những nhà chuyên trách cầm phòng hỏi thì trình cho họ xem.

 

Khoản 94. Nếu làm trái với điều khoản trên nầy :

Đám táng tự tiện đem chôn trong địa phận làng ta sẽ bị triệt.

Ở trường hợp ấy, nều đám táng không có điều khả nghi, mà tang chủ muốn được miễn sự trở triệt, thì phải nộp cho làng ta một bàn trầu, cau, rượu và một đồng bạc vạ. Trầu cau rượu sẽ giao cho Lý hương nhận hưởng, còn đồng bạc vạ sẽ nộp vào công quĩ của làng.

Sau khi Hương ước được quan trên duyệt y rồi, làng ta sẽ sao những điều khoản này nhờ quan Địa phương chuyển sức cho các làng lân cận ta biết.

 

Mục  5   Canh thủ hoa lợi

Khoản 95.  – Hoa lợi ngoài đồng như lúa, mía, bắp, đậu, mè, khoai, vân vân … làng ta vẫn có lệ đặt tuần đinh canh thủ và thâu thuế.

Vì không có sổ sách về kế toán minh bạch, nên không thể nào kiểm xét số tiền thuê ấy được. Gia dĩ không định lệ gì rành mạch để khu xử những việc kêu kiện giữa người chủ đất, ruộng, và làng mỗi khi có việc mất trộm hay hũy phá ba lợi. Nên từ đây về sau đồng ưng đem việc canh thủ hoa lợi ra đấu giá.

 

Khoản 96. Sẽ lập một ủy ban chuyên việc đấu giá gồm có Đại hào mục hay người đại diện chủ toạ, lý trưởng hương bản và hai người tộc biểu tham dự. Ủy ban sẽ có quyền tài định thể lệ, điều kiện và tất cả những điều giao ước về việc đấu giá.

 

Việc đấu giá sẽ dựa theo những nguyên tắc sau này :

1) Người đấu giá phải là dân của làng và là người vật lực hay được người vật lực đảm bảo.

2) Kỳ hạn đấu giá định trong một năm, bắt đầu từ tháng giêng đến tháng chạp.

3) Sự đấu giá có thể làm chung cả làng hay làm riêng từng xóm một.

4) Sau khi đấu giá ba ngày, người đấu được phải nộp đủ hay ít là một phần ba số tiền đấu giá. Còn lai bao nhiêu cứ mỗi sáu tháng nộp một lần.

5) Người nào cố ý tranh đấu cho cao giá mà không có tiền nộp đúng như kỳ hạn đã định, sẽ bị phạt theo điểu khoản 158, mà lại còn phải đền bồi phí tổn là khác nữa. Tiền phí tổn ấy định là mưởi phần trăm về số tiền người ấy đã đấu. Việc đấu giá sẽ phài làm lại.

6) Tiền thuế định cư mỗi mẫu thổ một mùa hoa lợi phải đóng hai giác (0đ20).

Mỗi mẫu ruộng một mùa hoa lợi cũng phải đóng hai giác (0đ20).

7) Người đấu được phải tự mướn lấy tuần đinh, trả tiền công cho họ, và phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về công việc của họ.

8)  Tờ giao ước về việc đấu giá sẽ làm ba bản (một bản cho làng, một bản cho người đấu giá và một bản để trình cho quan Địa phương.

 

Khoản 97. Nếu hoa lợi bị mất hay hủy phá (trừ khi nào do tai nạn thiên nhiên như bảo gây nên không kể) người đấu giá được không kể là ở trường hợp nào hay vì duyên cớ gì đều phải bồi thường cho người chủ có hoa lợi bị thiệt hại. Song người đấu giá vẫn được quyền hoặc tự thoả thuận hay nhờ làng, hay nhờ quan bắt kẻ trộm, kẻ phá hủy, hay chịu trách nhiệm về việc phá hủy, bồi thường tổn hại cho mình. Số bồi thường nầy không được quá số bồi thường cho chủ hoa lợi. Khi nào kẻ trộm hay phá hủy bồi thường cho chủ có hoa lợi rồi, thì người đấu giá khỏi phải bồi gì nữa.

 

Khoản 98. Tất cả những vụ kiện thưa do việc canh thủ hoa lợi sanh ra, trước hết phải do ủy ban phân giải nói ở khoản 161 rồi đến Hội đồng Đại hào mục phân xử. Nếu không xong nội vụ sẽ đệ lên quan Địa phương.

Về tất cả những việc mất trộm hay phá hủy ba lợi hễ có người đến báo, Lý trưởng hiệp với Hương kiểm đến nơi xảy ra những việc ấy, mở cuộc điều tra và làm biên bản.

Kẻ trộm và người vô cớ, cố ý phá hủy ba lợi của người ta, ngoài sự bồi thường, tùy theo sự trạng nặng nhẹ sẽ bị phạt theo điều khỏan 158 trừ khi nào toà án đã xử phạt rồi thì thôi.

 

Khoản 99. Người nào ăn trộm hay phá hoa lợi trong vườn như cây, trái, rau v . v … ngoài sự bồi thường cũng sẽ bị phạt theo điều khoản 158.

Việc canh thủ hoa lợi ngoài đồng do người đấu giá được chuyên hành không dính dáng gì với hoa lợi trong vườn.

 

TIẾT THỨ BẢY: CÔNG  ÍCH  CÔNG  LỢI

 Mục 1   Vệ sinh chung

 

Khoản 100. Trong làng có giếng uống chung, nên đắp nền, làm thành giữ cho sạch sẽ. Người làng không được đặt địa, tắm rửa, và bỏ đồ dơ bẩn chung quanh giếng. Cấm để cho trẻ nít đến gần giếng. Chung quanh các giếng đều phải xây thành làm rào bằng tre chắc chắn để con nít khỏi bổ xuống giếng.

 

Khoản 101. Đường sá trong làng Hương mục thường thường sức bác cắt giẩy cỏ rác cho sạch sẽ. Hai bên đường nên đào mương để cho nước chảy. Thường phải vét mương để luôn luôn nước chảy thông dòng. Khúc mương đào ở gần nhà hay gần ruộng một người dân làng thì người ấy phải trông nom phải vét.

Cấm bỏ cỏ rác đồ đạc và thú vật chết trên đường cái, dưới mương, dưới ao va trong ruộng đất có hoa lợi hay trong vườn người ta. Cấm phóng uế hai bên lề đường, để bò ăn trên đường và thả heo ủi đường cái. Chuồng heo, chuồng trâu, chuồng bò, phải quét dọn sạch sẽ, không để mùi hôi thúi bay sang nhà người lân cận, có phương hại đến vệ sinh chung.

 

Khoản 102. Cấm ăn hay bán thịt súc vật bịnh chết, bất kỳ là về duyên cớ gì. Nếu có dịch trâu, bò thì người chủ có súc vật hay người chuyên trách trong làng liền báo trình quan Thú y xin  điều trị và thi hành những phương pháp ngăn ngừa sự truyền nhiễm. Súc vật chết phải chôn cho sâu, xa nhà ở và giếng.

 

Khoản 103. Nhà nào có người mắc những chứng bịnh thiên thời, dịch tả, dịch hạch, đậu mùa v.v…. người chủ nhà hay người chuyên trách lập tức báo trình xin quan trên phái quan thầy thuốc về điều trị và ngăn ngừa sự truyền nhiễm. Chẳng may người bịnh chết, tức thì tang chủ phải thưa với Hương bộ, hạn trong 24 giờ phải chôn theo phép vệ sinh.

 

Mục  2   Tu trúc đạo lộ

Khoản 104. Trông nom cầu, cống, đường sá ở trong làng là chức trách của Hương mục. Nếu đường có chỗ khuy khuyết, nên sức bác dân phu tu bổ (nhân công tư ích). Cấm cuốc lấn đường cái. Như ai muốn đem nước từ bên nầy sang bên kia đường, phải xin phép Hương mục làm một cống nhỏ (dùng ống đá hay ống tre) trên mặt đắp đất lại y như củ, chớ không được đào mương trên mặt đường.

 

Khoản 105. Thường năm hai kỳ, hương mục sức các hạng dân trong làng (không kể chánh, ngụ) sửa đắp các đường cái nhỏ trong xóm. Cấm các chủ có vườn và có ruộng lấn cuốc hai bên đường.

Tùy theo tài chánh và nhân công tư ích của làng sẽ mở rộng hay đắp thêm những đường ở trong làng. Rải đá cho vững chắc và trồng cây có bóng mát hai bên lề đường.

Xóm nào có nhiều trâu, bò, sẽ làm một con đường riêng để tránh cái hại trâu, bò đi dẫm trên con đường chung lâu ngày sinh ra lầy lội.

 

Mục  3   Vệ nông

 Khoản 106. Các chủ làm nông không được lấn cuốc bờ ruộng của người khác. Không được tháo trộm nước  ở ruộng của người để tưới ruộng mình. Cấm phá bờ ruộng của người để đơm cá và cấm thả nò, lội bắt cá cạn trong ruộng đương có hoa lợi của người ta. Cấm thả trâu, bò ăn trên bờ ruộng đất có hoa lợi. Người nào phạm vào các điều cấm nầy, nếu có sinh tổn hại gì, thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại và cũng sẽ bị phạt theo điều khoản 158.

 

Khoản 107. Các chủ có bờ sa, từ rằm tháng mười trở đi đều phải triệt giở, không nên ngăn nước đơm cá, làm ngập ruộng hư hoa lợi hay trở ngại công việc cày cấy của ngưới ta.

 

Đến kỳ thu hoạch, kẻ đi mót phải chờ người ta gặt xong rồi mới được mót. Cấm thả trâu, bò tắm lội trên mương xe và cấm người leo trèo trên giàn máng.

 

Khoản 108. Trong việc chi thu Hội đồng Đại hào mục sẽ thi hành các phương sách tiết kiệm, dành mỗi năm một món tiền, phụ với nhân  công tư  ích hay phạt  dịch làm những việc công ích như sau này. Từ bây giờ Hội đồng nên thảo một bản chương trình hành động, dự trù sự chi phí và kỳ hạn mỗi việc công ích sẽ làm:

1)  Trưng khẩn những đất hoang nhân trong làng (gò núi, bãi cát) ở gò núi sẽ trồng các giống cây trái có ích như mít, chè, tiêu, dương liễu, thơm v.v.. Ở bãi cát sẽ trồng hơn trồng tre.

Từ bây giờ xem có nơi nào (gò, núi, bãi) có thể khai thác kiếm lợi được ngay, thì ta nên trưng liền, phòng kẻ khác thấy có lợi chiếm những nơi ấy trước ta.

2)  Lập những đồng cỏ công cộng để bán cho những người nuôi trâu, bò, ngựa, trong

  làng, ngoài làng.

3) Đấp đập hay đào mương đem nước vào ruộng thường bị khô hạn.

4)  Mua giống và những nông cụ kiểu mới truyền bá trong làng.

  Mua súc vật tốt gầy giống. Lập những chỗ thí nghiệm phân, thí nghiệm trồng các

  thứ  cây trái hay những thứ khác để dân làng thấy sự ích lợi mà làm theo.

5)   Trợ cấp hay khuyến miễng các nhà tiểu công nghệ trong làng. Đem cho dân làng

  những tiểu công nghệ mới để cho họ, nhất là đàn bà, có nghề nghiệp làm thêm 

  trong lúc đợi chờ mùa màng

 

Mục  4   Cứu tai truất nạn

 Khoản 109. Đối với tất cả nhân dân trong làng, làng phải cứu giúp họ trong những cơn tai nạn. Đồng niên sẽ dự trù trong ngân sách làng một khoản tiền trợ cấp cho những người chẳng may gặp những tai nạn hay những sự khốn nạn sau này :

1) Hoả hoạn.

2) Thủy tai.

3) Mất mùa màng

4) Nạn đói khát.

5) Tật bịnh nguy kịch (đối với người nghèo).

6) Mất trộm cướp.

7) Cô nhi quả phụ

8) Tử táng.

Tùy theo từng trường hợp, Hội đồng Đại hào mục trong những phiên nhóm chính thức và hợp lệ sẽ định số tiền trợ cấp.

 

Khoản 110. Làng có thể giúp đỡ những người dân nghèo để họ có phương làm ăn, bằng cách cho vay không lấy lời hay lấy rất ít lời. Và trước khi đủ sức làm những công việc xã hội trọng đại như lập nhà thương, nhà hộ sinh, ấu trí viện v. .v . . làng có thể mua thuốc để ngừa hay trừ bịnh cho dân làng như thuốc ký ninh, thuốc nhỏ mắt v.v..

Trong làng sẽ tổ chức một ban cứu tế gồm có các nhà hảo tâm, các bà, các cô, thay mặt hay hiệp sức với làng về phương diện vật chất hay về tinh thần để làm việc phúc thiện.

 

Khoản 111. Sự cứu tai truất nạn tùy theo sức làng sẽ có thể lan rộng đến dân kiều ngụ trong làng, làng lân cận và cũng có thể lan rộng ra nữa.

Làng có thể dùng nhân công tư ích hay phạt dịch để sửa sang cho dân những sự tàn phá do tai nạn thiên nhiên sinh ra.

 

Khoản 112. Dân làng đối với nhau đều có bổn phận phò nguy cứu nạn.

Nếu có xảy ra một trận hỏa hoạn cho nhà nào, dân trong làng bất cứ là ai, tùy theo sức mình, đều phải đến cứu chữa. Chẳng may nhà cửa đồ đạc, của khổ chủ đều bị tàn phá hết, mỗi ngừoi tùy theo phương tiện, kẻ có công người có của, (tiền bạc hay vật liệu) hiệp sức với làng, hoặc làm lại một cái nhà tạm, hoặc cho tiền vật thực để giúp khổ chủ trong khi đợi chờ gầy dựng lại cơ nghiệp.

Gặp cơn bão lụt ghê gớm, ta nên tận tâm cứu vớt tính mạng và tài sản của người bị nạn. Người dược bình yên giàu có nên giúp kẻ mắc nạn bằng tiền bạc hay y phục để tỏ tình đồng hương đồng loại.

 

Khoản 113. Trong làng nếu có người chết, thì bổn phận những người trong làng, không kể đàn ông hay là đàn bà là phải đến giùm giúp tang chủ. Người nào biềt việc gì thì giùm giúp việc ấy; không được ăn uống và lấy tiền công, trừ khi nào tang chủ tự thuê mướn thì không kể.

 

Khoản 114. Mỗi khi có người chết, tùy theo tình cảnh của tang gia làng sẽ cấp :

Hai tên dân cho nhà nghèo.

Bốn tên dân cho nhà thường thường.

Sáu tên dân cho nhà giàu có quan quyền.

để giúp việc. Sau khi khâm liệm rồi, những người ấy về nhà không được đòi tiền công.

Tang chủ nào cần dùng bao nhiêu âm công nên đến lý hương xin cấp.

Tiền công của âm công không khi nào được quá 0đ20 một người, trừ khi nào vì đường xa hay vì sự khó nhọc gì khác, tang chủ có lòng tốt thưởng thêm thì không kể. Âm công không được tự mình viện một lẽ gì để yêu sách hay phàn nàn tang chủ.

Nếu làng có đưa đám thì dân khiêng trống, cầm cờ, mỗi người chỉ được lãnh công 0đ10. Tiền công này sẽ do công qủi làng chịu.

 

Khoản 115. Trong việc cứu tai truất nạn, người nào rủi bị thương tích sẽ được làng điều dưỡng tử tế cho đến khi lành mạnh, nếu bị tật nguyền không thể làm lụng được, thì sẽ được lĩnh một số tiền truất cấp suốt đời. Rủi bị mệnh vong thì người vợ goá sẽ lĩnh được một số tiền truất cấp trọn đời (đến khi lấy chồng khác thì thôi) và những con  bồ côi sẽ được hưởng một số tiền truất cấp cho đến tuổi trưởng thành.

Tiền truất cấp ấy có thể định từng tháng, từng qúi, từng sáu tháng hay từng năm sẽ do Hội đồng Đại hào mục chuẩn cấp ít nhiều tùy theo trường hợp và phải có Toà, Tỉnh duyệt y mới được..

Lệ truất cấp ấy cũng có thể thi hành cho những người nhân làm việc cầm phòng hay những việc lợi ích hệ trọng khác cho làng mà gặp phải những tai nạn tương tự như những tai nạn kể trên.

 

Mục  5   Học hành   giáo dục

Khoản 116. Dân số làng ta đông, mà người có học lại rất ít. Vậy cần phải mở mang và khuyến khích sự học. Trong làng có người nào học giỏi, hạnh kiểm tốt mà chẳng may gặp cảnh nghèo, làng có thể cấp học cụ hay học phí để cho người theo đuổi sự học đến nơi đến chốn.

Sẽ bày những cách khuyến khích khác như tỏ lời khen ngợi trước công chúng, ban giấy khen, đặt những giải thưởng bằng sách vở hay tiền bạc.

 

Khoản 117. Khi nào công quỉ làng được dồi dào, làng sẽ xin phép lập trường ở những xóm xa thành phố, dạy theo chương trình tiểu học. Làng sẽ xin quan bổ thầy giáo hay tự chọn lấy và trả lương nếu có thể làm được.

Làng có thể xin phép mở những lớp dạy tối ở nhà Hội của làng hay ở những nơi khác để đón lấy những người lớn tuổi trong làng, không kể đàn ông hay đàn bà, muốn học cho biết. Thầy giáo sẽ là những người có ở trong làng, bài vở sẽ trình quan trên kiểm duyệt.

Sẽ cấm dạy những bài vở nói về chính trị và tôn giáo. Nhà chuyên trách trong làng, mỗi khi có dạy, phải đến nơi kiểm cố. Làng có thể lập một thư viện trong nhà Hội của làng, mua những luật lệ và những sách báo có ích để cho người làng đến xem đọc. Những sách báo ấy sẽ do ban hội đồng chịu trách nhiệm lựa kỹ càng và không được mua những sách báo bị cấm và có tư tưởng quá khích. Lại cũng nên chăm nom việc thể dục cho con em trong làng như lập trường đá bóng, quần vợt và mở những lớp dạy các môn thể thao.

 

Khoản 118. Cho con em đến trường học là một điều cần ích nhưng chưa đủ, cần phải khuyên răn, dạy bảo chúng nó nữa. Trong làng từ gia trưởng, tộc trưởng cho đến những kẻ tai mắt và có thế lực, bất kỳ là ở đâu hay lúc nào, nên dạy bảo cho con em hay những người dưới quyền mình biết rằng làng ta mặc dầu có chịu ảnh hưởng những trào lưu mới, vẫn còn tiến hoá theo chế độ cũ, trong phạm vi đạo đức, luân lý của ông bà ta lưu truyền lại. Ta vẫn có những bổn phận trên đối với Vua, với Quan chức vâng mệnh lệnh Vua cai trị ta, dưới đối với kẻ tôn trưởng trong làng, trong họ và trong nhà. Ta cũng còn có những bổn phận đối với nước Bảo hộ và quan chức bảo hộ mà ta phải kính nể và biết ơn.

Ta phải biết tuân luật pháp của Vua, vâng mệnh lệnh và những lời hiển thị của quan trên, những người thay mặt cho làng cho họ và cho gia đình. Những người quyến rũ ta

làm sai những bổn phận ấy, ta sẽ xem họ như kẻ thù. Ta nên xua đuổi những lý tưởng

có thể làm cho ta quên những bổn phận ấy.

 

Khoản 119. Trong gia đình trách nhiệm giáo dục con em thì ủy thác cho những bực phụ huynh. Như nghiệm thấy người nào có tính nết không tốt hay ý nghĩ sai lầm nên sửa đổi răn dạy ngay. Người có học phải trông nom việc học của con em, ngoài những bài vở ở nhà trường và những sách có ích, không nên cho đọc những sách nhảm nhí sai lầm có ảnh hưởng không tốt đến tính tình và tư tưởng của chúng nó.

Người không biết chữ sẽ nhờ người láng giềng, bà con hay tộc biểu thường thường coi ngó việc học cho con em giúp mình. Phụ huynh nên thường thăm viếng thầy giáo ở trường hiệp tác với họ để mưu sự ích lợi cho con em đi học.

Những người nghèo thất học cũng có thể dạy bảo con em, những sự lễ nghĩa, những bổn phận theo nền luân lý của ông bà ta để lại.

 

Khoản 120. Trong tộc phái, tộc biểu phải gánh lấy phận sự dạy bảo trông nom người trong họ. Bất kỳ lúc nào hay nơi nào cũng có thể làm phận sự ấy được.

Cách một vài tháng, tộc biểu phải nhóm họp những người trong tộc phái đến nhà thờ hay nhà mình đem hương ước ra đọc giảng giải cho họ nghe và khuyên họ tuân theo. Mỗi khi Đại hào mục hay lý trưởng chuyển giao những sức lịnh hay lời biểu thị của quan trên về việc cai trị, kinh tế hay về tất cả những việc có lợi ích cho dân, tộc biểu nên nhóm họp người trong tộc phái tuyên đọc cho họ nghe biết mà tuân theo.

 

Khoản 121. Nhân có lời thưa trình của người gia trưởng hay nhờ sự dò xét của mình mà tộc biểu biết được trong họ có người không tôn trọng khuôn phép, trật tự và luân lý trong nhà, hay ngang ngạnh không vâng lời nhủ bảo của kẻ tôn trửong thì phải nên răn dạy. Đã nhiều phen răn dạy mà kẻ có lỗi không biết sửa đổi tính hạnh, thì tộc biểu làm tờ trình lên Hội đồng Đại hào mục chiếu theo điều khoản 158 mà nghĩ phạt.

 

Khoản 122. đối với những người can án về chính trị, hay về tội lỗi thường được tha về, người gia trưởng hay tộc biểu phải hết lòng khuyên răn khiến cho những người ấy ăn năn tội lỗi và trở lại đi trên con đường lương thiện.

Tộc biểu phải thường thường coi chừng những người trong nhà, trong họ. Nếu người nào có những thái độ đáng ngờ vực hay có ý muốn làm những điều phi pháp thì phải trình lên Đại hào mục ngay để ông nầy liệu cách ngăn ngừa hay trình báo quan trên.

Trong làng có những kẻ mồ côi, không nơi nương dựa, người chú bác hay anh em cận phòng, nếu có sức làm được, nên đem về nuôi dạy, nhưng cấm không được hành hạ và ngược đãi.

 

Khoản 123. Người trong làng không kể đàn ông hay đàn bà muốn đi xa làm ăn, hay có việc gì khác cần phải ở lâu mới về, thì trước khi đi phải thưa cho tộc biểu biết. Mỗi tháng ít là một lần phải gởi thơ về nhà hay về tộc biểu nói rõ sự trạng và địa chỉ.

Người đàn ông đã trước tịch đến kỳ thu thuế, nên gởi tiền thuế thân về cho lý trưởng xin bài chỉ. Nếu không tuân làng sẽ xin quan trên thông tư tầm nã giải hồi và sự phạt vạ nặng hơn hết ở khoản 158 sẽ thi hành cho người ấy. Người nào đã xin nhập tịch nạp thuế ở nơi xứ sở đến làm ăn thì sẽ không được giữ những quyền lợi ở nguyên quán mình nữa.

 

Chỉnh  đốn phong tục

Khoản 124.  Trong nhà trong họ có xảy ra những việc bất bình giữa vợ chồng hai người hay nhiều người thì những người ấy phải đến thưa với tộc biểu, lý hương hay Hội đồng  Đại hào mục phân xử chớ không được  cãi cọ, chưởi bới hay đánh lộn nằm vạ. Nếu không tuân lịnh cấm này những người đương sự không kể là phải hay quấy đếu phải bị phạt mỗi người 0đ10 hay hai ngày phạt dịch. Đôi vợ chồng chỉ phạt 0đ20 mà thôi. Còn về việc bất bình, nếu người nào muốn phân giải cho ra phải chăng thì phải đến thưa với những nhà chức trách kể trên.

Nhân dân trong làng người nào có những tệ như nghiện nha phiến, say rượu, cờ bạc và điều thoa nhất định làng sẽ không cử làm hương chức hay hào biểu.

 

Khoản 125. cấm nhân dân trong làng chứa đĩ, chứa cờ bạc. Ban đêm cấm tụ họp đông người để hò, hố, đánh bạc, hay lêu lỏng la hát ngoài đường. Những kẻ phạm vào lịnh cấm này gặp nhà chuyên trách canh tuần bắt được sẽ bị phạt theo điều khoản 158. Những kẻ phụ huynh không răn cấm con em cũng phải bị phạt như vậy, nhưng nhẹ hơn.

 

Khoản 126. Ban đêm từ 12 giờ trở đi, con trai con gái trong làng không được sánh đôi đi trong những chỗ tối tăm và các nẽo đường cùng ngõ hẽm. Nhà chuyên trách canh tuần nếu bắt gặp những đôi trai gái như vậy giữ lại để hỏi. Nếu không phải thật là đôi vợ chồng hay không phải vì những điều cần cấp như mời mụ, rước thầy thuốc … nên phải đi như vậy, thì nhà chuyên trách giữ những người ấy lại ở điếm canh. Sáng ngày sức cha mẹ hay tộc thuộc những kẻ ấy làm tờ nhận về răn bảo. Như về sau bọn ấy còn làm lại thói củ, không những một mình chúng mà thôi, phụ huynh của chúng cũng bị trách phạt.

 

Mục  7   kỷ  luật

 

Khoản 127.  Nếu làng có giấy mời một người ở trong làng đến nhà Hội của làng hay đến nơi khác có việc, đã tiếp ký giấy mời rồi, đúng nhựt ký người ấy phải đến nơi đã định. Nếu gặp việc gì trở ngại không đến được phải có giấy cáo từ.

Người hương chức hay người dân được phái cầm giấy đi mời một nhân viên nào trong làng, phải đến tận nơi lấy chữ ký của nhân viên hay người nhà của nhân viên ấy. Nếu  trong giấy mời có ghi ngày giờ nhất định thì người được mời, trừ gặp việc trở ngại có bằng cớ, phải đến cho đúng giờ.

 

Khoản 128. Trong những phiên nhóm Hội đồng Đại hào mục, những viên nhân không có chân trong Hội đồng muốn nói hay hỏi han Hội đồng nên xin phép trước. Không được la lối cười giỡn, buông những lời nói hoặc có những cử chỉ có thể xúc phạm đến nhân viên trong Hội đồng. Người nào phạm những điều khoản trên nầy sẽ bị phạt vạ theo khoản 158.

 

TIẾT THỨ TÁM: QUÂN  CẤP  CÔNG  ĐIỀN  CÔNG  THỔ

 

Mục  1   Đấu giá

 

Khoản 129. Công điền thổ làng ta cũng khá nhiều, nhưng mà dân số lại rất đông.  Nếu đem ruộng đất công ra quân cấp như trước, phần mỗi người chỉ có mấy thước, không đủ cày dùng được. Bởi thế nên chúng ta đồng ưng từ nay trở đi đem công điền thổ ấy ra đấu giá cho mướn.

 

Khoản 130.  – Mỗi đến kỳ quân cấp trước một tháng. Đại hào mục chiêu tập một kỳ Hội đồng bất thường để trù định cách thức và ngày giờ đấu giá. Sẽ cử một tiểu ban nghiên cứu và kê biên công điền công thổ của làng ta cho biết là bao nhiêu.  – Tùy theo hình thế và xứ số ruộng đất, sẽ chia thành nhiều lô, ghi diện tích và số hiệu để sự đấu giá cho được dễ dàng và tiện lợi. Tờ kê biên ấy dính vào đơn của làng sẽ đệ trình quan Địa phương xin phép và xin quan phái đến chứng kiến cuộc  đấu giá.

Ít nhất là 15 ngày trước khi đấu giá, làng sẽ dùng những cách rao truyền (niêm yết hay sai người đi rao) cầu cho được nhiều người đến tranh đấu.

 

Khoản 131. Thể lệ đấu giá. Có hai cách đấu giá :

1)Kêu giá bằng miệng trước công chúng.

2)Đấu giá bằng cách bỏ thăm.

Làng sẽ dùng cách nào có phần lợi hơn.

Chỉ có dân làng mới có quyền đấu giá. Kỳ hạn cho mướn định là ba năm. Người nào đấu giá mướn được phải chịu lấy tiền thuế.

Tiền mướn về năm đầu phải nộp ngay hay chậm lắm là một tháng sau.

Về hai năm sau cứ đến tháng ba, hễ tiếp được giấy đòi của làng thì người mướn ruộng đất phải trả ngay. Quá hạn ba tháng mà chưa trả đủ số tiền thiếu, người đấu giá được sẽ bị làng truy vấn trước Toà Án sở quan và sẽ phải trả thêm tiền phí tổn về việc đòi hỏi là 1 o/o.

Trước khi đấu giá, sẽ đọc điều khoản này và tất cả những điều khoản khác mình định thể lệ đấu giá, cho công chúng biết mà tuân theo.

 

Khoản 132. Đến ngày đã định, một ủy ban gồm có Đại hào mục, hai tộc biểu và lý trưởng đương thứ chuyên hành việc đấu giá. Ủy ban sẽ đặt dưới quyền kiểm soát của quan phái đến dự. Người trong làng tùy ý ai muốn đến dự cũng được.

Tên người và số tiền đấu giá sẽ biên chép rõ ràng vào một quyển sổ sẽ giao Đại hào mục hay lý trưởng giữ để đến kỳ bảo thủ bổn hay thư ký làm giấy đòi.

 

Mục  2   Quân  cấp

Khoản 133. Khi đấu giá xong rồi, Đại hào mục chiêu tập một kỳ Hội đồng bất thường để định việc trích tri và quân cấp.  –

Sẽ lấy số tiền đấu giá chia đồng cho số sào mẫu không kể ruộng đất tốt xấu, d9ể cho biết giá mướn mỗi mẫu đổ đ62ng là bao nhiêu.

Trước khi quân cấp sẽ trích lấy những món tiền để cúng như các khoản chi phí như lương điền, tế điền, hương dụng, cứu tai truất nạn v.v… Sự trích tri sẽ làm bằng tiền và chiết tính theo mỗi phần ruộng đất đã tri đặt. Ví dụ giá đấu mỗi mẫu ruộng đất cộng lại là 10đ00, phần lương điền của một người lính tập (lính cấp) là một mẫu năm sào, thì lấy 10đ00 nhân với một mẫu năm sào thành ra 15đ00. Người lính tập ấy sẽ lĩnh : 15đ00 chia cho ba năm, mỗi năm 5đ00.  –

Trừ các khoản tiền trích tri rồi còn lại bao nhiêu sẽ đem chia đồng với số người có đóng thuế ở trong làng từ chức sắc cho đến tráng dân. Cách phân chia này công bằng hơn và đúng với ý nghĩa hai chữ  QUÂN CẤP “.

 

Khoản 134. Làm những công việc ấy xong rồi, tờ biên bản về phiên nhóm Hợp đồng và tờ kê biên các khoản trích tri và quân cấp sẽ đệ trình quan Địa phương nhờ chuyển bẩm Tỉnh Toà duyệt y rồi mới đem ra thi hành. –

Sau khi được lệnh sức duyệt y, Đại hào mục thông báo cho các tộc biểu biết nói quả quyết phần tiền cấp cho mỗi người dân là bao nhiêu để ông ấy truyền lại cho người trong tộc phải biết.  –

Tất cả những phần tiền quân cấp đều lưu trử trong công quĩ làng và  biên vào sổ sách minh bạch, để trử vào tiền trợ thuế hay thuế đinh của mỗi người viên quan hay dân tráng. – Ví dụ : một viên quan trong làng phải đóng 2đ70 tiền trợ thuế, phần tiền quân cấp chia cho ba năm, mỗi năm là 0đ50 thì người ấy chỉ đóng thêm cho lý trưởng 2đ20 nữa mà thôi.

 

Khoàn 135. Khi nào có việc công ích công lợi hệ trọng mà đồng hương muốn làm và được phép quan trên cho làm, thì sẽ cũng có thề đặt cách trích hết hay một phần tiền quân cấp để làm việc ấy. Nếu có sinh lời được bao nhiêu cũng sẽ chia đồng cho nhân dân trong làng theo lệ quân cấp tiền cho mướn đấu giá công điền công thổ. 

 

Mục  3   Dân ở đất công của làng

Khoản 136. Những người dân đã được làng cho đất công để làm vườn ở trước khi hương ước này ra đời, thì vẫn được ở đấy như củ. Đất ấy sẽ không đem ra cho thuê đấu giá, nhưng mà người ở đất làng cũng phải trả tiền mướn và chịu thuế đất. Tiền mướn này sẽ tính theo giá tiền cho mướn đấu giá công điền công thổ khác của làng. Ví dụ : Tên Xoài ở trong một mẫu đất công của làng, trong kỳ quân cấp năm 1939, số tiền cho mướn đấu giá một mẫu công điền công thổ khác là 25đ00, thì người ấy sẽ phải trả tiền mướn cho làng theo giá 25đ00 như vậy.

 

Khoản 137. Người dân làng thật nghèo không có ruộng đất và cũng không làm nghề nghiệp gì khá giả để tậu một cái vườn, có quyền xin đất làng để ở, phần mỗi người chỉ có một sào mà thôi. Tiền mướn cũng tính theo như đã định ở khoản 136 trên nầy. Những người giàu hoặc có ruộng đất hay làm nghề nghiệp gì có khá tiền, thì không được hưởng quyền lợi ấy.

Trong một nhà có nhiều người mà một người đã được ở đất công của làng rồi, nên nhường chỗ cho một nhà khác chưa được hưởng ân huệ ấy.

Từ nay về sau làng nhất định không cho người kiều ngụ ở đất công của làng. Người nào trước kia đã được làng cho ở, thì từ nay phải đến thương lượng với Hội đồng Đại hào mục để định giá mướn riêng.

 

Khoản 138. Sẽ dành một phần công điền ở xóm Phú mỹ dọc theo hai bên đường thiên lý, biệt hạn cho dân làng, bất kỳ là ở xóm nào, muốn xin đất làm nhà ở. Ngoài chỗ ấy ra làng không thể cho đất ở nơi khác.

Về sau nếu có nhiều tiền dự trữ, làng sẽ có thể làm một giấy nhà hợp theo phép vệ sinh ở đấy để cho dân nghèo ở không, lấy tiền hoặc cho thuê. Trong trường hợp sau này, khi nào số tiền thuê bằng số tiền làng đã chi ra làm nhà, thì bấy giờ nhà ấy sẽ khỏi phải trả tiền thuê nữa, nếu người nào không muốn ở nữa hoặc tuyệt hộ, thì nhà ấy sẽ lại cho làng.

 

TIẾT  THỨ  CHÍN: PHÂN  BỔ  SƯU  THUẾ

 

Mục 1   Phân bổ

 

Khoản 139.   Thường năm gần đến kỳ thu thuế, sau khi nhận được bài chỉ định điền rồi, Hội đồng Đại hào mục nhóm để làm việc phân bổ sưu thuế.  – Sẽ làm một bản kê biên rõ ràng những điều sau này :

1) Về thuế đinh. Ghi tên họ người phải đóng thuế ở trong làng và số tiền thuế phải đóng.

2) Về thuế điền.Ghi tên họ làng người phải đóng thuế, diện tích ruộng đất, hạn thuế và số tiền thuế về mỗi hạng.

Bản kê biên ấy có lý trưởng và những người trong ủy ban nói ở khoản 140 ký vào, sẽ đệ trình quan Địa phương dể xin bằng và sẽ niêm yết tạ nhà hội làng.

 

Khoản 140. Làng ta có bốn xóm, nên mỗi xóm sẽ đặt một ủy ban gồm có :

Một Kỳ hào hay Phó lý đốc thân.

Một Tộc biểu giữ bạc.

Một người thư ký (Hương chức hay thường dân) viết biên lai.

Ấp dịch thôi sức

Ủy ban của xóm nào sẽ tiếp những người đóng thuế thuộc về xóm ấy.

Lý trưởng chăm nom công việc làm của ủy ban, ký tên và nhận triện vào biên lai.

 

Mục  2   Cách thức thu thuế

Khoản 141. Sẽ dùng những cuốn biên lai tồn căn, để thu thuế, Biên lai có hai phần ghi số hiệu từ một đến trăm, một phần giao cho người đóng thuế, một phần để dính lại lưu chiếu. Số tiền ghi trong hai phần biên lai đều cho thật giống nhau và không nên gạch bỏ hay gom tẩy.Số tiền phải viết bằng chữ số và chữ thiệt.  – Như ruổi viết lộn thì bỏ tờ biên lai ấy viết sang tờ sau. Tờ biên lai viết quấy phải để dính y hai phần vào cuống biên lai chớ không nên xé bỏ. Lý trưởng ký áp vào phần biên lai đưa cho người đóng thuế, người này phải ký hay điểm chỉ vào bản biên lai lưu chiếu.

 

Khoản 142. Sẽ dùng một thức biên lai riêng để thu thuế cùa những người dân làng, lưu ngụ ở làng khác, biên lai ấy cũng có hai phần ghi số hiệu như biên lai nói ở khoản 141.

Giả sử xóm Phú yên có muời người dân tráng ở ngụ làng Phú Lâm Đông, Huyện Nghĩa Hành. ủy ban xóm ấy dùng cuống biên lai riêng viết 10 cái biên lai ghi trước họ, tên người dân tráng xuất ngụ và số tiền thuế. Lý trưởng ký áp vào 10 cái biên lai ấy rồi giao cho Hương dịch hay một người hương chức khác đi thâu. Người đi thâu sẽ ký tên vào một quyển sổ riêng trong ấy ghi số hiệu 10 cái biên lai, họ tên của mười người dân và số tiền tổng cộng sẽ phải thâu.

 

Khoản 143. Khi đã nhận biên lai rồi, người đi thâu phải chịu hết cả trách nhiệm.  Hể giao một cái biên lai cho người nào thì phải nhận đủ số tiền thuế.

Phỏng như có chín người trả còn một người đi vắng thì người đi thâu đem về nộp cho ủy ban hay lý trưởng số tiền thuế của chín người và một cái biên lai. Ủy ban hay lý trưởng viết tờ biên nhận cả tiền lẫn biên lai, đoạn lấy cuống biên lai ra xem cho biết người nào đã nộp đủ thuế rồi thì ghi vào chín phần biên lai lưu chiếu hai chữ  NỘP RỒI “, còn cái biên lai của người đi vắng kia thì giữ lại để đòi người ấy đến làng nộp hay làng lại sai người đi đòi nữa.

 

Khoản 144.  – Nếu trong 10 người ấy, có người nào chưa đủ tiền thuế, xin nộp lần một ít cũng có thể giao cho người đi thâu, nhưng phải nài người này đưa cái biên lai ghi tên của mình ra để biên ở phía sau số tiền mình đã giao, rồi ký tên hay điểm chỉ ở dưới. Đoạn trả cái biên lai ấy cho người đi thâu đem về trình làng. Sau lại, khi nào trả đủ tiền thuế rồi thì làng sẽ đưa biên lai ấy cho.

Không nên để người đi thâu viết biên lai bằng giấy thường và cũng không nên giao tiền mà không lấy biên lai chữ in, vì nếu có xảy ra những sự lạm tiêu thì làng sẽ không chịu trách nhiệm.

Mỗi đến kỳ thuế, nhân dân ở trong làng hay lưu ngụ ở làng khác cũng vậy người nào có thuế thì phải lo đến làng nộp trước kỳ hạn, không nên để cho làng sai người đòi hỏi nhiều lần. Sự phạt vạ định ở khoản 158 có thể thi hành cho những người có ý lôi thôi trong sự nộp thuế.

 

Mục  3   Kiểm soát

Khoản 145. Sẽ đặt một ủy ban kiểm soát gồm có Đại hào mục, một viên quan, một kỳ hào hay tộc biểu, suốt trong kỳ thu thuế, chẳng hạn lúc nào (thường là cuối mỗi ngày) đến trường thuế lấy những cuống biên lai giao cho các ũy ban thâu thuế, cộng những số tiền ghi ở phần biên lai lưu chiếu để cho biết số tiền thu đến chừng ấy được bao nhiêu. Những số tiền cộng lại phải đúng với số tiền của ủy ban thu thuế hiện giữ hay đã giao cho lý trưởng.

Ủy ban hay lý trưởng không nên giữ tiền nhiều trong mình, thâu được chừng nào thì nên đem lần gởi nộp Quan Địa phương.

Ủy ban hay kiểm soát có thể làm sổ sách hay biên chép giấy mực để việc kiểm soát cho được chu đáo.

 

Khoản 146. Tiền mua biên lai kể trên sẽ trích ở công quỉ của làng.  – Những cuống biên lai sẽ giao Đại hào mục giữ mà phát lần cho ủy ban thu thuế tùy theo sự cần dùng ít nhiều.Mỗi khi lấy biên lai, ủy ban phải làm giấy nhận cho Đại hào mục giữ.  – Những biên lai lưu chiếu phải giữ gìn cẩn thận cho đến mãn kỳ thuế rồi đem cất trong tủ văn thơ của làng.

Nếu việc thu thuế làm đúng theo các khoản nói trên nầy mà chẳng may thâu không kịp thanh toán trong kỳ hạn quan trên đã định (thường là thuế đinh) thì làng có thể hoặc tạm trích công quỉ hay vay mượn để trưng nộp đủ số cho Nhà Nước. Rồi làng sẽ dùng mọi cách theo pháp luật, buộc những người dân thiếu thuế trả lại số tiền ấy lại cho làng.

 

Mục  4  Tư – ích

Khoản 147. Không kể những người được miễn trừ, tất cả tráng dân có nộp thuế thân, mỗi năm, đều phải cúng cho làng năm ngày xâu gọi là Xâu Tư ích. Nhân công tư ích dùng để làm, ở trong làng, những việc sau này.

1) Sữa sang đình chùa, nhà cửa công, đường sá.

2) Giúp vào việc kiềm phòng và cứu tai truất nạn.

3) Làm những việc lợi ích công cộng, như là khai thác đất hoang, đắp đê, làm đập, trồng cây, trồng bói v.v.

 

Khoản 148. Nhân công tư ích có thể tự mình hay nhờ người khác đi làm xâu thay mình, hoặc xin nạp thục cũng được. Tiền nạp thục định mỗi ngày là 0đ20 hay dưới số tiền ấy tùy theo sức nạp thục của dân làng. Ở trường hợp sau này cần phải có nghị định của Hội đồng Đại hào mục được Tỉnh toà duyệt y.

Mỗi khi có người xin nạp thục, lý trưởng nhận tiền và phóng biên lai bằng chữ in. Người nạp thục phải ký hay điểm chỉ vào phần biên lai lưu chiếu.

Tiền nạp thục sẽ bỏ vào quỉ làng, biên vào sổ sách kế toán và chỉ dành để làm những việc mình định ở khoản 149.

 

Khoản 149. Nhân công tư ích có thể dùng để giúp vào những việc lợi ích chung trong Tổng của ta, nếu trong việc ấy quả thật làng ta được hưởng ít nhiều ích lợi về vật chất hay về tinh thần. Ngoài tổng của ta, nếu có sức lệnh của quan trên, trong những trường hợp hết sức đặc biệt, có thể dùng phụ vào những việc cứu tai truất nạn hệ trọng, hay góp sức vào những việc chế ngự đạo kiếp hung ác.

 

Khoản 150. Mỗi năm vào lúc tháng tám, Đại hào mục nhóm hội đồng bất thường để trù định việc dùng tư ích về năm sau.Nên thảo một bản chương trình hành động định trước những việc sẽ làm và trù tính mỗi việc phải cần dùng bao nhiêu nhân công tư ích.  – Bản chương trình ấy sẽ để trình quan Địa phương duyệt chiếu. Rồi sang năm sau, nên khởi sự thi hành theo thứ tự, những công việc đã định trong chương trình.

Nếu có xảy ra những sự dùng tư ích trong tổng hay ngoài tổng, lâm thời Hội đồng Đại hào mục nhóm để quyết định.  – Nếu không có nghị định của Hội đồng, không khi nào lý hương được phép ký giấy thuận nguyện hay bắt ép nạp thục.

 

Khoản 151. Muốn cho việc dùng tư ích được minh bạch và dễ kiểm xét, nên làm sổ sách, hằng năm, ghi tất cả số nhân công cung cho làng, số nhân công đã dùng và số nhân công còn lại

Khi nào làng kinh doanh những công việc to tát phải cần dùng một số nhiều nhân công tư ích, thì nên đặt một ủy ban để chăm nom sự tiến hành công việc ấy.  – Mỗi ngày những người đốc công làm giấy tờ ghi công cho đúng đắn.  – Người dân nào làm được một phần hay đủ số ngày xâu tư ích của mình rồi, nên lấy biên lai của làng để làm bằng.

Khi một công việc gì làm xong rồi thì Đại hào mục cử một hội đồng đến nơi khám nhận. Hễ Hội đồng đã nhận rồi thì những người có chân trong ủy ban hay những người đốc công hết chịu tráxh nhiệm.

 

Khoản 152. Nếu những công việc lợi ích chung do nhân công tư ích làm, có sinh lợi, thì lợi ấy sẽ chia cho tất cả nhân dân có đóng thuế trong làng. Tuy nhiên phần người dân tráng chịu xâu tư ích có thể lấn hơn phần những người được vĩnh viễn miễn trừ xâu ấy.

 

Khoản 153. Dân bất kham trong làng mỗi năm đều phải cúng cho làng ba ngày xâu gọi là  Xâu phụ Dịch “ để làm những việc sửa sang, trồng trọt vặt vãnh trong làng. Người nào nghèo cực quá sẽ được làng cấp tiền hay vật thực cho vừ a đủ dùng trong những ngày giúp việc cho làng.

 

Mục  5   Loại Khai

Khoản 154. Nhân phiên nhóm để thảo chương trình dùng tư ích, Hội dồng Đại hào mục nên bàn định luôn việc, làm loại khai về năm sau.  – Hội đồng nên hết sức chú trọng đến việc này để lần lần trừ tiệt những sự gian dối hay tây vị chỉ lợi cho một số ít người mà để cho phần đông nhân dân đã phải chịu sự bất công. Không có gì trái lẽ bằng đem người còn trẻ tuổi vào hạn lão niên và người giàu có vào hạn bần cùng vô lực.

 

Khoản 155. Nhân dân trong làng nên hiểu rằng nộp thuế thân là một cái bổn phận phải làm cho trọn vẹn.  – Cái bổn phận ấy tuy có bắt ta phải đóng góp một chút ít song lại cho ta hưởng nhiều quyền lợi trong nhà trong họ, cũng như ngoài làng ngoài nước.

 

Mục  6   Điền thổ bộ

Khoản 156. Người có chức trách giữ điền thổ bộ nên hết sức thận trọng trong việc biên chép.

Bộ ấy có thể tránh cho ta những sự phù lạm trong việc thu thuế điền, chứng minh những việc mua bán đất ruộng và tất cả nhữngsự lưu chuyển khác.

Nha Địa Chánh lại bảo vệ cho ta những quyền lợi về sản nghiệp (quyền nghiệp chủ, quyền tài chủ) ngăn cấm những sự bán huơng hỏa tự điền trái phép.

 

Khoản 157. Người trong làng mỗi khi gặp sự lưu chuyển ruộng đất, nên xin lý trưởng nhận thiệt vào khế tờ rồi liền đến Tòa sứ xin trước bộ và đến Nha Địa Chánh xin, trước sự lưu chuyển ấy vào Địa bộ và trong trích lục. Cẩu thả trong việc làm giấy tờ, quên lãng sự trước bộ có thể làm cho ta mất quyền lợi.

 

TIẾT  THỨ  MƯỜI

 

Mục 1   Thưởng, phạt

 

Khoản 158. Để đàn áp những sự vi phạm các điều khoản trong hương ước nầy và tưởng lệ những kẻ có công đối với làng, nên đặt ra lệ thưởng phạt. Những người có chức trách nên hết lòng công bình, vô tư trong việc này và đối với kẻ có lỗi trong làng nên đặt sự giáo hoá trên sự trừng phạt.

Tùy theo công trạng hay tội trạng của mỗi người sự thưởng phạt sẽ thi hành theo điều độ khinh trọng sau này.

THƯỞNG

1) Lời khen ngợi trước công chúng.

2) Giấy ban khen do Hội đồng Đại hào mục cấp.

3) Thưởng bạc hay cho hưởng những quyền lợi đặc biệt về vật chất hay về tinh thần (miễn đi canh, miễn tư ích trong một kỳ hạn) Ban thưởng các hạn vinh dự nói ở khoản 76 77 78.

4) Trình xin quan Địa phương ban thưởng.

Phạt

1) Lời khiển trách trước công chúng.

2) Phạt bạc hay phạt dịch (từ 0đ20 đến 1đ00 hay từ một ngày đến 5 ngày, mỗi ngày trị giá 0đ20)

3) Trình xin quan Địa phương trách phạt.

 

Khoản 159. Tùy theo công trạng, cũng có thể ghi tên người có công trong một quyển sổ riêng của làng, nhản đề là  SỔ KỶ̀ CÔNG “ và cũng tùy theo tội trạng ghi tên người có lỗi trong một quyển sổ nhản đề là  SỔ KỶ QUÁ “

Người có công sẽ được làng kính mến, trái lại người có lỗi bị làng đối đãi lạnh nhạt cho đến lúc đã biết thật tình ăn năn tội lỗi hay đã giúp cho làng được việc gì đáng công.

 

Khoản 160. Đối với người tại thế có công đức lớn với làng, làng sẽ khắc tên người ấy trên một tấm bản  kỹ công “ treo ở đình sở đời đời, trừ khi nào về sau có phạm những tội lỗi điếm nhục, tên người ấy sẽ bị xoá bỏ.  – Đối với người có công đức lớn đã qua đời, mỗi đến uý nhật người ấy, làng sẽ trích công quỉ sắm lễ và phái hương chức đến cúng, gọi là để tỏ lòng kỷ niệm.  – Sự kỷ niệm cũng có thể phát biểu bằng những lễ nghi long trọng khác.

 

Mục  2   Quyền thưởng phạt

 Khoản 161. THƯỞNG.  – Chỉ có Hội đồng Đại hào mục trong những phiên nhóm họp lệ mới được quyền ban thưởng kẻ có công trạng với làng mà thôi.

PHẠT. Ủy ban phân xử nói ở khoản 167 và nhửng người hương chức sau này có quyền phạt vạ những người phạm vào các khoản trong hương ước :

Lý trưởng

Hương kiểm

Phó lý trưởng

Chánh Phó xã đoàn  (riêng đối với dân mình)

Trừ định tệ ở khoản 124, không khi nào những người hương chủ trên nầy được phạt vạ quá 0đ20.Ủy ban phân xử được quyền phạt  từ 0đ20 đến 1đ00.

Tiền phạt không nạp được sẽ đổi ra sự phạt dịch. Một ngày phạt dịch khấu trừ 0đ20.

 

Khoản 162. Khi những nhà chuyên trách nói ở khoản 161 bắt được người nào trong làng đương trường phạm vào những điều khoản trong Hương ước đều được quyền bắt vạ.  –Nếu người có lỗi không chịu nhận lỗi hay không chịu phạt thì nhà chuyên trách tức thì lập biên bản ghi rõ ngày giờ, tên họ kẻ có lỗi và sự trạng phạm lỗi, nếu có thì nên lấy chữ ký một vài người chứng đã mục kích sự phạm lỗi ấy như mình. Tờ biên bản sẽ đệ lên lý trưởng để nhóm ủy ban phân xử.

 

Khoản 163. Sẽ giao cho những người hương chức có quyền phạt vạ mỗi người một quyển sổ biên lai tồn cán. Mỗi khi nhận tiền phạt vạ đều phải viết biên lai cho người bị phạt.  – Người nầy phải ký tên hay điểm chỉ vào phần biên lai lưu chiếu.  – Tiền phạt vạ phải nạp vào quỉ làng.

Nếu người hương chức nào nhận tiền phạt mà không chịu phát biên lai hay lạm tiêu tiền ấy đi bị phạt hết sức nặng theo điều khoản 158.

Tất cả những sự phạt vạ đều biên vào một quyển sổ riêng về việc ấy. Người thư ký của Hội đồng Đại hào mục chuyên làm sổ ấy.

 

Mục  3   Quyền Phân Xử

Khoản 164. Trong làng sẽ thiết lập một ủy ban phân xử những việc kiện thưa giữa người làng, gồm có lý trưởng làm chủ tịch, Đại hào mục hay một kỳ hào làm cố vấn, một hay hai tộc biểu (tùy theo hai bên nguyên bị thuộc một hay hai tộc phái) tham dự. – Tộc biểu được phép biện hộ cho người thuộc về tộc phái mình.

Ủy ban phân xử có thể ủy quyền cho Phó lý trưởng phải xử những việc thưa kiện nhỏ mọn ở trong xóm.

 

Khoản 165. Người trong làng mỗi khi có việc bất bình, xô xát muốn được phân giải cho ra lẽ phải trái, nên đến thưa với lý trưởng (làm đơn hay thưa miệng cũng được). – Lý trưởng tiếp được đơn thưa hay lời thưa, liền biên việc ấy vào sổ rồi định ngày nhóm Ủy ban phân xử ngay, trừ gặp việc trở ngại không nên để trể quá 10 ngày.Nên đòi cho đủ hai bên nguyên bị và nếu có người làm chứng thì cũng nên đòi luôn một lượt. Trong giấy đòi nên ghi rõ ngày giờ và chỗ xử kiện thường là ở nhà hội của làng hay của xóm. Người ngoài cũng được phép đến xem xử kiện nhưng không được làm rối trật tự và can thiệp vào việc của ủy ban.

 

Khoản 166. Mỗi khi xử một việc gì, ủy ban phải làm biên bản (hai bản) ghi rõ ngày giờ, tên họ người có mặt ở ủy ban tên tuổi và nghề nghiệp người đương sự, sự trạng việc kiện thưa, nhưng lời biện hộ và dối nại của hai bên và sau rốt những lời phán đoán của ủy ban. – Nên lấy ký chỉ vào biên bản phân xử.  – Một bản để trong tủ văn thơ của làng, một bản đệ trình quan Địa phương tri chiếu.

Nhân khi phân xử một việc kiện thưa thường mà xem ra kẻ đương sự có phạm vào các khỏan trong Hương ước, Ủy ban có thể xử phạt vạ luôn và cũng ghi sự phạt vạ ấy vào biên bản.

 

Khoản 167. Theo lệ làng từ xưa đến nay mỗi khi xử kiện lý hương được quyền thu tụng phí gọi là tiền nghi của hai bên nguyên bị phải trả, một bên là hai quan năm.  – Người thua kiện phải trả tiền nghi cho kẻ được kiện. Lệ ấy nay vẫn giữ nhưng số tiền hai quan năm giảm xuống 0đ30 ở làng và 0đ20 ở xóm, nhưng chỉ người thua kiện mới phải trả tiền ấy mà thôi. Trừ khi nào hai bên xin hoà giải thì phải chia đồng nhau chịu tiền nghi ấy. Người nào đã thua kiện mà lại còn bị phạt vạ nữa, thì phải chịu vừa tiền nghi vừa tiền phạt. Tiên nghi cũng như tiền phạt sẽ nộp vào qủi làng, rồi sau sẽ lấy ra giao cho người hương chức xử kiện nhận hưởng.

 

Khoản 168, Người đương sự không phục tình lời phân xử của phó lý trưởng có thể kêu nài ở Ủy ban phân xử. Ủy ban có quyền đem việc kiện ra xử lại công nhận hay bác khước lời phân xử của Phó lý trưởng.  – Nếu lại không phục tình nữa, người đương sự có thể kêu nài ở Hội đồng Đại hào mục. Đơn kêu nài sẽ đưa cho Đại hào mục. Nếu lại không phục tình nữa thì nội vụ sẽ đệ trình quan Địa phương thẩm định.

 

TIẾT  THỨ  MƯỜI  MỘT

 

Mục  1   Văn thư

 

Khoản 169. Làng ta có hai loại văn thư : một loại về hành chánh, một loại về  Hội đồng Đại hào mục. Loài thứ nhất gồm có tất cả những công văn hay sức lệnh của quan trên gửi đến cho làng đều giao cho lý trưởng nhận giữ.

Những tờ khai, trình, báo biên bản, đều giao lý trưởng làm gởi đi.

Loài thứ nhì gồm có tất cả công văn thư từ gởi đến cho Hội đồng Đại hào mục đều giao Đại hào mục nhận giaothư ký giữ.

Những tờ trình báo, thư từ trả lời đều giao Đại hào mục làm rồi giao thư ký gởi.

Lý trưởng cũng như thư ký nên làm hai quyển sồ một quyển nhận thư văn và một quyển phát thư văn. Những thư văn nhận được hay gởi đi đều sắp theo thứ tự số hiệu hay ngày tháng vào những cặp bìa phải gìn giữ tử tế không được xé bỏ hay làm mất đi. Nếu có tiếp nhận một thông sức hay một sức lệnh gì gởi cho nhiểu làng thì nên sao một bản đúng nguyên văn để cho làng mình.

 

Khoản 170. Lý trưởng và Đại hào mục nên trao đổi thư văn nhận được cho nhau xem. Như có việc gì lợi ích cần phải cho tất cả nhân dân trong làng đều biết thì nên nhóm họp họ lại để tuyên hiểu, hoặc sao tờ công văn gởi cho các tộc biểu để hiểu lại cho người trong họ biết.

 

Mục  2   Sổ  Sách

 

Khoản 171. Trừ những sổ bộ nên để luôn trong tủ văn thơ của làng, những sổ họ hay giấy tờ khác có thể giao cho mỗi người chuyên trách nhận giữ. Nên làm một bản thống kê tất cả những sổ sách của làng. – Người nào nhận giữ quyển nào phải ký tên vào đó để nhận lấy trách nhiệm.

Người chuyên trách nhận sổ sách phải gìn giữ cẩn thận, không được xé bỏ, sửa đổi hay thêm bớt những điều đã viết xong rồi.  – Nếu cần phải sữa đổi những điều viết lầm hay thêm những điều viết sót thì nên viết mực đỏ lên trên, rồi xin lý trưởng hay Đại Hào mục duyệt chứng.  – Nhưng sổ sách quan hệ mỗi trang đều phải có chữ ký của lý trưởng và Đại Hào Mục.

Người nào thôi làm việc, nên bàn giao sổ sách lại cho ngừoi thế chân mình. Phải làm biên bản bàn giao trước mặt lý trưởng và Đại hào mục. Hai người này đều ký áp vào biên bản. Nếu là việc bàn giao của lý trưởng, thì biên bản phải làm trước mặt Đại Hào Mục và một người hương chức khác như hương bộ chẳng hạn.

 

Khoản 172. Phòng giấy của làng sẽ bài trí ở nhà Hội. Sẽ để ở đó một cái tủ có khóa chắc chắn, chứa tất cả những hộ tịch, sổ sách, công văn, thư từ và giấy tờ khác hết thảy gọi là tủ văn thơ của làng. Tủ khoá kỷ và niêm lại … Đại Hào Mục và Lý trưởng mỗi người ký tên và đóng dấu vào giấy niêm. Chìa khoá tủ giao Hương bãn giữ.

Mỗi khi cần tìm kiếm sổ sách hay giấy má gì thì Đại Hào Mục, Lý trưởng và Hương bản hội lại mở tủ và khi đóng tủ lại phải làm giấy niêm lại như trước.

 

TIẾT  THỨ  MƯỜI  HAI

 Dân  kiều – ngụ

 

Mục  1   Sự đối đãi

 

Khoản 173. Người làng khác kiều ngụ trong làng ta vẫn được đối đãi, bảo vệ tử tế. Rủi họ có gặp những điều hoạn hoạ ta nên lấy tình đồng loại cứu giúp.

Nếu người kiểu ngụ có mời thì lý hương làng ta cũng có thể đến dự những lễ như là Quan Hôn Tang Tế. Sẽ chuẫn trong công quỉ làng một số tiền không khi nào quá 2đ00 để mua sắm lễ vật đi cho mỗi người kiều ngụ. Cũng có thể, tùy theo danh giá, phẩm vọng của mỗi người, dùng những đồ nghi lễ rước đưa đối với họ, nhưng sự rước đưa ấy không được long trọng bằng hay qúa sự rước đưa sánh với người làng ta.

 

Khoản 174. Người kiều ngụ, nhân một lễ gì đến làng ta, ta nên theo phép lịch sự tiếp đãi họ, nhưng lẽ tất nhiên là họ phải nhường ta một bực. Ví dụ phẩm vị người ấy là Chánh lục thì sẽ mời họ ngồi ngang hàng với người có hàm tùng lục ở làng ta.

 

Mục  2   Việc đóng góp

Khoản 175. Được đối đãi và giúp đỡ tử tế, người ngụ xả nên góp sức với chúng ta giữ gìn sự yên tịnh trong làng. Bởi vậy trừ những người chức sắc, miễn sai, miễn điêu, tất cả dân ngụ cường tráng không kể nội hay ngoại tịch đều phải đi canh, và cũng như dân bất kham ở trong làng ta, sẽ phải giúp ba ngày công làm những việc công ích hay tạp dịch trong làng.

 

Khoản 176. Mỗinăm, người chức sắc, miễn điêu, miễn sai, sẽ giúp cho làng ta 0đ20 gọi là tiền đóng góp về việc  Cấm phòng “ Tiền ấy dành để thưởng người chuyên trách và những dân phu cầm phòng đắc lực sẽ nộp vào quỉ làng mỗi khi có giấy sức thu của Đại hào mục. Khi nào có nghị định của hội đồng rồi, mới lấy ra để phát cho người được thưởng.

 

Khoản 177. Tất cã những việc xô xác, bất bình, thưa kiện giữa người dân ngụ xã, hay với người chính xã của ta, đều do Phó lỳ trưởng hay ủy ban nói ở khoản 164 phân xử, trử khi nào họ đã đến Toà án thưa kiện rồi thì thôi.

 

TIẾT  THỨ  MƯỜI  BA

 

Những cuộc vui

 

Mục 1   Ngày Hội đồng dân

 

Khoản 178. Nếu nhân dân hằng năm thường đóng góp cho làng nhiều việc, thì họ cũng có quyền hưởng những cuộc vui chơi để tạm quên sự khó nhọc.

Bởi thế, từ nay về sau, cách ba năm hay năm năm, nhân lúc thái bình,  nếu có sức làm được, làng sẽ xin phép tổ chức những ngày Hội vui cho dân làng.

Trong những ngày Hội ấy tổ chức ở nhà Hội làng hay ở nhà Hội trong mỗi xóm, tất cả nhân dân và những người trong gia đình họ được làng mời đến dự tiệc ăn uống tươm tất và dự những cuộc vui (không có hại) bày cho họ xem.

Ngoài những mục đích, ăn uống vui chơi, ngày hội đồng dân còn có một mục đích khác nữa là làm cho người trong làng hiểu biết nhau, kết chặt tình thân ái. Trong cuộc vui đã biết nhau, thì trong lúc hoạn nạn ắt phải tưởng đến nhau.

 

Mục  2 Ngày Hội trẻ con

 

Khoản 179. Cuối mỗi năm nhân lễ Tết Nguyên đán, ban cứu tế của làng nói ở khoản 110 có thể tổ chức những cuộc vui cho trẻ con. Nhân những cuộc vui ấy sẽ phát phần thưởng hay sách vở cho học trrò, phát y phục hay vật thực cho trẻ con nghèo trong làng. 

NHỮNG ĐIỀU KHOẢN CHUNG

Khoản 180. Tất cả những điều khoản trong hương ước nầy về sau có thể sửa đổi cho hợp với thời nghi.

Muốn sữa đổi một khoản nào, hoặc bỏ đi, hoăc thêm vào thì Đại hào mục phải chiêu tập một kỳ Đại hội đồng bất thường mời tất cả nhân dân trong làng đến dự. Muốn cho sự bàn định của Đại hội đồng có giá trị thì phải nhóm cho đươc :

1) hai phần ba số người có chân trong Hội đồng Đại hào mục, gồm tất cả lý hương đương thứ và Chánh Phó xả Đoàn.

2) Mỗi xóm bốn viên quan và bốn cựu hương chức hay dân tráng.

Tất cả những người ấy đều ký chỉ vào biên bản của phiên nhóm Đại hội đồng quyết định sự sửa đổi. Hết thảy những sự sửa đổi đều phải bẩm Tòa Tỉnh duyệt y, rồi mới thi hành.

Tất cả những nghị định của Hội đồng Đại hào mục được Tỉnh Toà duyệt y cũng có hiệu lực như các điều khoản trong hương ước này.

 

Khoản 181. Tất cả những người có chức trách trong làng từ hào biểu cho đến lý hương, mỗi người tùy theo phận sự và sức lực của mình đều chung mưu lợi ích cho làng về mỗi phương diện. Chúng ta càng theo đuổi theo một cái lý tưởng chung là : Chấn chỉnh việc làng.

Trong sự chấn chỉnh ấy, nếu làng ta cần sự học thức mới và sự hoạt động của phái trẻ tuổi, thì làng ta cũng rất cần sự khôn ngoan, sự từng trải của những bậc lão thành. Chúng ta nên để hết lòng nhẫn nại và vị tha vào tất cả những công việc mà quan trên và làng ủy thác cho ta. Chúng ta còn phải hết lòng săn sóc dạy bảo những kẻ ở dưới ta và nhất là giúp đỡ đám dân nghèo khổ trong làng..

Ta cũng nên hiểu biết công trạng của những lý hương thừa hành việc quan và việc làng ta. Theo tình thế bây giờ, những việc ấy rất khó nhọc và rất phiền phức cần phải có khôn ngoan sốt sắng và thạo việcmới làm nổi.

Những người thừa hành cũng nên biết cái chức vụ mình là chức vụ vinh dự, và nên vứt bỏ cái thành kiến đã khiến cho bao người lý hương xem việc làm làng như một cái nghề làm ăn cần phải kiếm lợi, những mối lợi về vật chất có khi qúa lạm và trái phép nữa. Vẫn biết nếu không vì lợi thì mấy ai hết lòng làm việc, nhưng cũng có những món lợi khác qúi giá và lâu bền hơn sự biệt đãi của làng, lòng mến phục của dân,, những sự tưởng thưởng của quan trên và của làng cũng đủ đền bù công cán cho ta, một cách xứng đáng và vẻ vang hơn những mối lợi nhỏ nhen thầm vụng. Người có chức trách trong làng không nên vượt quá quyền hạn và phận sự của mình. Hương kiểm chuyên việc kiểm phòng, hương mục chăm nom đường sá. Tuy vậy, hương mục cũng có quyền bắt kẻ trôm cắp giao cho hương kiểm hay lý trưởng xử lý, nhưng không khi nào được tự tiện xử đoán, bắt phạt hay tha đi.

Những người hương chức làm việc lâu năm mà không phạm lỗi gì nặng, nếu không được quan trên ban thưởng thì hội đồng Đại hào mục cũng có thề thưởng cho những sự vinh dự tương tự như những sự vinh dự nói ở khoản 76,77,78.

Đối với những lý hương chuyên việc hành chánh thường năm làm sổ dự trù ngân sách, hội đồng Đại hào mục nên chi một khoản tiền rộng rãi để phụ cấp cho họ, cũng như những việc phí tổn trong lúc làm việc quan việc làng. Tương lai tiền phụ cấp ấy có thể đổi thành tiền lương hưởng như tiền lương của viên chức các công sở.

 

 

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: