Người Cà Dong

PHONG TỤC LỄ HỘI, TÍN NGƯỠNG CỦA DÂN TỘC CA DONG

 lang-nguoi-ca-dong

Ca Dong là một nhánh của dân tộc Xê Ðăng ở bắc Kon Tum. Người Ca Dong sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy và làm ruộng, làm vườn, săn bắn, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Người Ca Dong có nghề dệt cổ truyền, các mô-típ hoa văn trang trí đẹp. Người Ca Dong còn nung được quặng cục, quặng cát thành thép thỏi để rèn công cụ sản xuất và săn bắn. Người Ca Dong ở theo từng làng, mỗi làng là một cộng đồng gồm những người cùng hay không cùng huyết thống, có nhiều nóc nhà. Tất cả chủ nóc họp thành hội đồng già làng, đứng đầu là nhừng người có uy tín nhất. Gia đình Ca Dong là gia đình song hệ (tính theo phía mẹ và phía cha). Ðồng bào không có thuật ngữ riêng để chỉ dòng họ mà đặt phụ âm đầu của tên để phân biệt dòng họ (như tr, p…), tên gọi của mỗi người kèm theo một bổ ngữ chỉ giới tính. Người Ca Dong có quan hệ bình đẳng nam nữ, không phân biệt đối xử con riêng, con chung, con nuôi, con đẻ ; phổ biến tục kết nghĩa anh em.

Quan hệ hôn nhân của người Ca Dong theo nguyên tắc nam nữ tự do tìm hiểu, kết hôn, tôn trọng tập tục hôn nhân. Hôn nhân theo chế độ cư trú hai bên. Quan hệ tính giao trước hôn nhân bị cấm ngặt. Tội hủ hóa bị phạt vạ nặng, thậm chí vợ chồng sinh con năm đầu mới cưới cũng bị xem như ngoại tình. Chế độ một vợ một chồng đã bền vững, vợ chồng thường thuận hòa, ít khi bỏ nhau, ít khi có ngoại tình. Người Ca Dong không chấp nhận hôn nhân giữa những người cùng huyết thống trong phạm vi ba đời cả phía cha và phía mẹ. Hai gia đình thông gia với nhau, thường tiếp tục gả con cái cho nhau. Nguyên tắc hôn nhân lưỡng hợp còn dấu ấn tục lệ lấy đôi thịnh hành, nhưng ít khi hai anh em ruột lấy chị em ruột mà thường là em gái của chồng lấy em trai của vợ.

Biểu diển múa cồng chiêng của người Cà Dong

congchieng_cadongNgười sản phụ đến kỳ sinh đẻ phải tự lo lấy mọi việc. Trước đây có tục sản phụ chẳng may chết trong vòng ba ngày sinh con thì người ta chôn luôn đứa con vì cho rằng chưa hết cử, chẳng may thai bị chết khi chưa dứt rốn thì không được chôn, phải buộc trên gốc cây nơi hoang vắng.

Người Ca Dong tin rằng người chết vẫn còn có thể quấy phá. Vì vậy, khi người chết còn để ở nhà, mọi việc ăn uống cúng tế đều phải dành phần cho người chết. Là cư dân nông nghiệp, tộc người Ca Dong có những lễ thức tín ngưỡng, chủ yếu là thần Mặt trăng (Y-cô, y-ca), cầu mong các siêu linh phù hộ che chở cho cuộc sống yên lành, mùa màng tết tươi. Vị trí thần lúa gắn liền với những nghi thức long trọng. Bà chủ nóc là người duy nhất được chăm sóc đến các lễ thức liên quan đến hồn lúa. Hồn lúa theo quan niệm thường trú ngụ vào một giống lúa xưa nhất. Giống lúa này được tỉa riêng ở mảnh đất thiêng trên rẫy. Mỗi người trong gia đình phải tự tay trồng một bụi sát bên chòi trước khi dọn rẫy tỉa lúa. Lúa này được cắt bông đem về trước khi suốt lúa rẫy để dùng vào lễ cơm mới. Sau khi tỉa lúa xong, lúa giống thừa không được dổ vào kho mà giã thành gạo nấu cm ăn, ăn xong nhảy múa cho đói rồi lại ăn cho kỳ hết trong vòng 5, 3 ngày. Ăn không hết phải đổ bỏ. Khi thu hoạch, lễ đưa hồn lúa từ rẫy về nhà kho rất được coi trọng. Những nơi qua suối đều phải bắc cầu hoặc căng dây chỉ (tượng trưng) cho hồn lúa đi qua. Ở nhừng ngã ba đường phải cắm cây sống làm dấu chỉ đường cho hồn lúa. Nhà kho phải bắc cầu cho hồn lúa lên. Chỗ nghỉ ngơi của hồn lúa phải được sửa soạn chu đáo. Người Ca Dong cho rằng hồn lúa sợ nước, khi tiến hành nghi lễ, phải để cho lúa không dính nước (Theo truyến thuyết. có nhà thả chó chạyrằng sủa vang. hồn lúa sợ rơi xuống sông, cả nhà ấy bị đói). Những lễ thức trên được tổ chức theo chu kỳ làm rẫy hàng năm.

Người Ca Dong cho ngày chẵn là ngày xấu, ngày ma đi; ngày lẻ là ngày tốt, ngày người đi, nên các lễ thức thường làm vào ngày lẻ, trong ăn uống cũng tôn trọng số lẻ 13, 5.. . và thường chỉ dùng tay phải, còn tay trái dùng để cấu thức ăn ném cho hồn người chết.

Người Ca Dong cho hạn hán là do thần sấm sét lãng quên, phải cầu xin để nhắc nhở, nếu không kết quả thì phải “chọc tức” để thần mưa xuống. Có nơi đồng bào nhúng ổ chim sẻ non xuống nước, nhét phân trâu vào tổ ong cho ong không ra được, kêu điếc tai thần, hoặc bắt cóc trói lại khiêng đi để cho thần sét xót thương.

trang_phuc_cadongThu hoạch xong, đồng bào tổ chức sửa sang máng nước, dựng nêu, làm lễ cúng ở máng nước, cầu mong một năm mới thịnh vượng hơn. Máng nước tượng trưng cho cả làng. Cúng máng nước là hình thức cố kết cộng đồng. Cả làng góp đồ cúng đến cúng và ăn chung ở máng nước, rồi về tổ chức ăn uống từng nhà. Người có uy tín nhất trong làng đứng ra cúng thần làng và các siêu linh khác, cầu xin cho dân làng được khỏe mạnh, mùa màng tốt tươi, gia súc phát triển. Người ta chăng dây, mắc dây kiêng, không cho người lạ vào làng khi lá chưa khô. Tết Ca Dong kéo dài cả tuần. Trong tết có tục “nhảy co”: nhảy múa xung quanh bếp lửa, gần chỗ thờ cúng tổ tiên, tung vãi cơm nếp đun trong ống nứa, chiêng trống nổi lên, họ ca hát, reo hò , cầu mong sang năm mùa màng tốt tươi, lưng thực dư thừa. Trong ngày tết không được để hết cơm trong nồi – biểu hiện của sự đầy đủ, sung túc.

Cả làng còn giết trâu mở tiệc nhân dịp chiến thắng kẻ thù, hay sau nhiều lần thất thoát, mất mùa, bại trận, dịch bệnh … để cầu xin sự yên lành may mắn.

Cây đa được người Ca Dong cho là có thần linh trú ngụ, tượng trưng cho sự trường sinh bất tử. Họ thường lấy lá đa treo vào tóc trên đầu, mong ước được sống vĩnh hằng.

(Theo Quảng Ngãi, Ðất nước – Con người – Văn hóa) 

 

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: