Người Hre

PHONG TỤC, LỄ HỘI, TÍN NGƯỠNG CỦA DÂN TỘC HRE

Dân tộc Hre cư trú chủ yếu ở các huyện Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long (Quảng Ngãi) và An Lão (Bình Ðịnh). Tiếng Hre thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khme. Người Hre chủ yếu sống bằng nghề làm lúa nước và nương rẫy. Săn bắn, hái lượm, đánh cá, dệt, rèn là những nghề phụ, nhưng có ý nghĩa đáng kể. Người Hre định canh thành từng làng (p?lây), ở nhà sàn. Trước cách mạng tháng 8.1945, mỗi làng đều có già làng đứng đầu.

nha_san_hre

Nhà sàn của người Hre. Ảnh sưu tầm

1. Cưới xin:

Nguyên tắc một vợ một chồng đã được xác lập. Dưới chế độ cũ, một số ít người thuộc tầng lớp trên có hai, ba vợ. Một số người lấy vợ hai do hiếm con. Tập tục cho phép vợ góa lấy em trai chồng, chồng có thể lấy em gái vợ.

ruong_bac_thang

Anh chị em con cô, con cậu, con dì, con vợ cả, con vợ hai, con cùng mẹ khác cha đều không được đặt quan hệ hôn nhân với nhau. Quan hệ luyến ái trái với phong tục thì bị phạt nặng, loạn luân bị coi là trọng tội. Trong cưới xin cũng có người mai mối hôn nhân của người Hre không mang tính chất mua bán. Hiện tượng kết hôn với người khác tộc chưa phổ biến, nhưng đang phát triển dần, nhất là những người nơi xen cư, kế cận với người Việt, Xê Ðăng, Cor. Tùy theo hoàn cảnh thực tế của gia đình mỗi bên mà chàng rể có thể về ở nhà vợ hay cô dâu về ở nhà chồng. Khi vợ chồng sinh con đầu lòng thì tách khỏi cha mẹ, làm nhà riêng, thành đơn vị kinh tế độc lập.                                           

bep_nguoi_hreBếp trên nhà sàn người H’re

Ðám cưới thường được tổ chức vào thời gian cuối năm, lúc rảnh rỗi và no đủ. Bên nào đón người về (làm dâu hoặc ở rể) thì tổ chức nghi lễ lớn hơn. Họ mở tiệc mặn, có rượu cần, trò chuyện và ca hát vui vẻ. Gia đình chuẩn bị sẵn một bếp dành làm nơi ngủ cho đôi vợ chồng mới. Tại đây diễn ra những nghi thức tượng trưng cho sự gắn bó vợ chồng. Hai người trao cho nhau miếng trầu, bát rượu, quàng chung một vòng chỉ. Trường hợp đón dâu, nhà trai cử một cô gái đi đón về, nhà gái cho một cô gái tiễn đưa. Cô dâu về nhà chồng qua cửa mang (cửa trổ ở phòng cuối của ngôi nhà ở vách chân người nằm). Nếu đón rể, nhà gái cho một chàng trai đi đón, nhà trai cho một chàng trai đưa tiễn. Chàng rể vào nhà vợ bằng cửa măk (cửa thông với phần trong nhà). Ðêm đầu, người tiễn đưa ở lại ngủ cạnh nàng dâu (hoặc chú rể). Sáng hôm sau, đôi tân hôn quay về nhà bố mẹ vợ hoặc chồng, rồi họ trở lại nơi cư trú đã định trước.

2. Sinh đẻ:

Gần đây, vợ chồng người Hre có xu hướng thích con trai hơn. Suốt những tháng mang thai, phụ nữ kiêng cử, cầu cúng nhiều với hy vọng sinh đẻ dễ dàng, đứa trẻ lành lặn, dễ nuôi. Người phụ nữ đẻ ngay trên bếp, một vài chị em thân cận và bà mụ được mời tới cúng và hộ sinh. Ðứa bé được cắt rốn, tắm rửa. Họ gói kín nhau vào mo cau đem để trong hang đá hoặc dưới gốc cây rừng hoặc chôn cạnh nhà. Trong khoảng vài chục ngày sau khi đẻ, người mẹ nghỉ việc, kiêng ăn cá niêng, trứng, ớt, chuối, thịt gà trắng, thịt trâu.phu_nu_hre

Ðứa bé đầy tháng thì làm lễ đặt tên, tránh trùng tên hoặc vần với nhừng người trong họ hàng. Ðồng bào quan niệm ma quỷ có thể làm con cái họ chết yểu, nên thường dùng tên xấu xí. Cùng với việc lấy họ như người Việt, người Hre đã tiếp thu từ “thị” trong tên nữ và “văn” trong tên nam. Thường ngày, người lớn không gọi thẳng tên trẻ con mà dùng đại từ thay thế để xưng hô: con trai là “éo“, con gái là “yên“, như người Việt gọi ‘thằng cha” , “cái gái” .

3. Tang ma:

Người chết bình thường tại nhà thì đặt ở tư thế nằm ngửa trên phần sàn vẫn ngủ khi sống, rửa mặt bằng nước lã, mặc hai, ba lớp quần áo, rồi quấn chiếu hay đặt vào hòm.nha_mo_hre

Nhà mồ người H’re

Khi một gia đình có người qua đời thì họ hàng thân thuộc và cả dân làng đến giúp lo ma chay. Nếu gia đình chưa chuẩn bị hòm thì một nhóm đàn ông vào rừng kiếm gỗ làm hòm. Những người khác đi lấy gỗ, cỏ tranh, dây làm nhà mồ, hoặc mổ heo, trâu, giúp chủ nhà làm cơm đãi khách. Con vật hiến tế được coi là dành cho người chết. Người Hre làm hòm bằng thân cây đục rỗng khá công phu, giống như chiếc thuyền độc mộc, có ván thiêng đậy trên. Nhà giàu thường để xác người thân ba, bốn ngày, đâm trâu ăn uống linh đình. Nhà nghèo thường chỉ sau một ngày đã đem chôn. Nếu người chết là chủ gia đình thì đưa ra ngoài theo cửa phía đầu nhà, nếu là thành viên khác trong nhà thì qua cửa bên.

Người Hre quan niệm, ban ngày ở dương gian là ban đêm ở cõi âm, nên có tục đốt xác ong để dẫn đường khi đưa tang. Tục chia của cho người chết, nhiều loại, có loại đặt trong hòm như quần áo, cơm, thịt, bạc, trầu, có loại chôn ngoài như con gà, cái ché , có loại đặt trên mặt đất như đao, bếp, nồi, củi, gùi .

Người Hre không có tục để tang. Sau khi chôn cất, người thân nghỉ việc ruộng rẫy vài ngày, không ca hát, hội hè gì. Năm hôm sau lễ chôn cất, người nhà đem một con gà nhỏ ra cạnh làng để cúng, tỏ lòng thương tiếc, an ủi, chia sẻ tình cảm với người chết một lần nữa. Trước khi ăn tết, các nhà có tang trong năm cùng đem bánh nếp tới mộ than khóc phát dọn cây con, để lại phần bánh trên mộ. Từ đó đồng bào chỉ cúng người chết khi có sự cố do quẻ bói cho biết là có tổ tiên quở phạt.

Dân tộc Hre quan niệm người chết trận, chết sinh đẻ, chết bị hổ vồ, sét đánh. . . là chết độc (chết dữ), phải chôn riêng một chỗ xa làng. Nếu chết ở ngoài thì không đem vào nhà. Ðồng bào còn có tục làm ma giả đối với trường hợp chết mất xác hoặc bỏ xác ở phương xa, mục đính là để mai táng những di vật của người xấu số.

4. Tín ngưỡng:

Người Hre nằm ngủ ngang sàn, đầu quay về phía đất thấp, bên trái là đầu nhà dành cho đàn ông và tiếp khách, phần cuối nhà dành cho phụ nữ và trẻ em.

Người Hre cho rằng lực lượng siêu nhiên gồm nhiều thần linh mang tên gọi khác nhau, có nhiệm vụ cụ thể. Làng ma là sự tưởng tượng của người Hre về cuộc sống của thế giới bên kia, linh hồn người chết biến thành “ma” và sống ở đó. Mọi sinh hoạt diễn ra giống như làng người sống nhưng trái ngược lại, như đêm là ngày, cỏ là lúa… Người Hre quan niệm mỗi người đàn ông có 7 hồn, đàn bà có 9 hồn, con vật cũng có hồn. Người Hre kiêng nhiều linh hồn tàng ẩn ở cây đa, tảng đá, con suối, con rắn xanh cũng như quan niệm có những thần linh liên quan đến trẻ con, lo sợ ma quỷ ìàm hại con cháu, nên thường cho trẻ con đeo trước ngực một cái ngãi hộ thân kỵ ma. Người Hre rất quan tâm đến những giấc chiêm bao lành hay dữ, những điềm báo trên giò gà hoặc các dấu hiệu bắt gặp ngẫu nhiên như thấy chim bay, hắt hơi, vấp chân. . . từ những điềm đó, có thể tiến hành hay đình hoãn những công việc đã định.

Tín ngưỡng hồn lúa cùng các lễ thức trong quá trình sản xuất lúa chiếm vị trí đáng kể, tập trung vào hai giai đoạn của mỗi mùa, khi gieo cấy và khi thu hoạch, cất lúa vào kho. Vị trí người đàn bà chủ lúa – vợ chủ nhà-!à người quản lý lương thực được coi là có liên hệ thần bí với hồn lúa. Ngày cúng cơm mới, bà ta lấy lúa từ ruộng rẫy về rang, giã gạo, nấu cơm rồi chịu lễ và một mình ăn cơm nấu trong “nồi thiêng”. Cũng chỉ bà mới được tỉa lúa làm phép, đem gùi lúa đầu tiên về nhập kho. . .

Lễ cầu sức khỏe, cúng ốm đau, cúng theo chu kỳ sản xuất làm nhà mới, cúng người chết, cúng đặt tên… đều tiến hành ở gia đình. Có những nghi lễ thu hút đông đảo dân làng, người quen đến dự, nhất là lễ cúng đâm trâu. Ngoài ra khi có nạn dịch đe dọa người và gia súc, hai năm, ba năm một lần, cảlàng tổ chức cúng chung nhằm cầu an, ngăn ngừa bệnh tật. Ðâỵ là nghi lễ mang tính chất cộng đồng.

(Theo Quảng Ngãi, Ðất nước – Con người – Văn hóa) 

 

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: