Kẹo Gương

Kẹo gương

keoguongKẹo gương từ xưa chủ yếu được sản xuất ở Thu Xà (nay thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa). Ngày nay có nhiều nơi sản xuất kẹo gương. Tục truyền, ông tổ nghề là người Trung Quốc và kẹo gương có nghĩa là kẹo pha lê, tiếng Quảng Ðông gọi là “kẹo thừng” hay “pố-ly thừng”.

Dụng cụ nấu ngày trước là chảo đồng, khiến đường dễ bị cháy, dính cho, phải tốn nhiều dầu, mỡ. Ngày nay người ta dùng cho nhôm, chỉ cần ít dầu phụng làm cho hạ bọt, khỏi sôi trào. Ðiều quan trọng nhất khi “thắng” (nấu) kẹo gương là không để đường ra cát, vì vậy không dùng vôi mà cần phải có mạch nha, chanh tươi. Một kg đường RS thường nấu với từ 50 g đến 100 g mạch nha và vài trái chanh tươi. Nếu dùng nhiều mạch nha, kẹo gương không trong, không giòn. Kẹo gương thơm ngon còn nhờ ở đậu phụng và mè rang. Ðậu và mè được rang với kỹ thuật cao, chín mà không vàng, khi chà vỏ đều chín trắng.

Khi nấu đường cần “sên” đường thành nước sền sệt trộn thêm mạch nha với nước chanh cho vào cho để nấu. Cho lửa cháy mạnh, đường và mạch nha đều tan ra. Thỉnh thoảng khuấy cho khỏi sít. Bên cạnh đấy, trên một cái bàn mặt tôn thật phẳng, đổ sẵn nhân mè đã chà sạch vỏ. Ðường chín, người thợ cho đậu phụng vào cho trộn đều rồi đổ ra mặt bàn, đường tràn lên mè . Ba bốn người cầm đũa trài thật nhanh ra cho mỏng và đều, nếu đường nguội sẽ cứng. Trài xong dùng dao cắt thành miếng ngay, nếu đường nguội cắt sẽ bị sứt, vỡ, miếng kẹo không được sắc. Gọi là kẹo gương vì cầm miếng kẹo soi lên ánh sáng, nó trong như gương, nổi lên nhừng hạt mè và đậu phụng.

ep_duong

Ép mía làm đường thủ công (Ảnh tư liệu chụp năm 1963, Phạm Trung Việt)

Kẹo gương vừa đẹp vừa ngon. Trong một đĩa có nhiều loại kẹo, thì kẹo gương là món hấp dẫn nhất.

Tuy vậy, kẹo gương có một nhược điểm đến nay chưa khắc phục được. Nếu để lâu, kẹo sẽ dịu đi, dễ gãy vỡ, mè và đậu phụng dễ bị mốc.

Kẹo gương là một đặc sản ngon đặc biệt, nhưng chưa có bao bì bền đẹp, nên chưa thành hàng hóa rộng rãi trong cả nước và thế giới.

(Theo Quảng Ngãi, Ðất nước – Con người – Văn hóa) 

 

Advertisements

Đường Phổi

ÐưỜng phỔi 

Nắm chắc được kỹ thuật nấu đường phèn thì nấu đường phổi không khó mấy. Nấu đường phổi cũng dùng vôi cho trắng đường và dễ ra cát, dùng trứng thay thuốc tẩy để vớt chất bẩn, dùng dầu lạc để hạ bọt sôi. Người thợ tùy tình hình cụ thể mà vận dụng linh hoạt. Nấu đường phổi dùng vôi trứng ít hơn nấu đường phèn… Dầu phụng và trứng đắt tiền nên người ta dùng rất hạn chế. Cho đường vừa đủ sạch, người ta không đổ thêm trứng, có khi còn dùng thuốc tẩy thay trứng.

duong-phoi 

Mỗi lần nấu một cho khoảng 10 kg đường cát.

Trước kia nấu bằng chảo gang, đường dễ bị dính cho. Ngày nay dùng cho nhôm người ta rất dễ lấy đường ra. Khi đường đạt đến tiêu chuẩn cần có, người ta nhất cho đường ra khỏi lò, đặt vào một chỗ vững chãi đã chuẩn bị sẵn. Lập tức một người thợ khỏe mạnh cầm chiếc “bạng” đánh vòng quanh cho đường. Bạng là dụng cụ dùng vào việc đánh đường phổi, làm bằng gỗ hoặc tre đặc, có dáng như một cái chày giã gạo, một khối lăng trụ dài 120cm, có đường kính khoảng 5-6 m

 

lo_duong_thu_congLò đường thủ công

Khi đường phát ngòi, lên tăm, người thợ càng đánh mạnh hơn. Ðường nở ra và ta thấy đường trong cho dâng lên cao là đường tốt. Rút bạng ra phải thật đúng lúc. Nếu đánh già, chậm thì rút khó, lại để dấu trên cho. Nếu rút non, sớm thì đường xẹp xuống, không có phổi.

Bạng rút ra là đến lúc cắt đường thành miếng. Phải hai người nhanh tay mới cắt kịp trước khi đường nguội.

Dao cắt đường phổi hai bên đều là lưỡi mỏng, dài gần 40 cm, rộng 40-50 cm, mài thật sắc, cắt tới cắt lui đều được, nên miếng đường phổi được cắt rất thẳng và sắc.

Cắt xong để nguội là lấy ra. Gọi là đường phổi vì đường nở ra, lổ rổ, mỗi thanh đường được cắt thành hình nửa bộ phổi, ghép hai thanh lại giống như một buồng phổi. Ðường phổi ngon là đường phổi giòn và thơm. Giá trị sử dụng của đường phổi cũng như đường phèn. Nó thích hợp cho mọi lứa tuổi.

Ngày nay khách từ Nam chí Bắc đi ngang qua Quảng Ngãi nhiều người mua đường phổi về làm quà, vừa ngon vừa rẻ, thanh nhã và tiện lợi.

(Theo Quảng Ngãi, Ðất nước – Con người – Văn hóa) 

 

Ðường Phèn

Ðường phèn

 duong_phen

Quảng Ngãi là xứ sở của mía đường, từ xưa đã có câu ví: “ngọt như đường cát, mát như đường phèn, trong trắng đường bông, thơm ngon đường phổi”.

Cách nấu đường phèn tuy còn ở dạng thủ công nhưng rất sạch sẽ, tinh khiết. Có sạch, có tinh thì cục đường mới trong, mới đẹp. Kỹ thuật nấu đường phèn phức tạp nhất trong số các loại đường đặc sản.

 

Ðường nguyên liệu càng trắng càng ít tạp chất, càng dễ chế biến đường phèn. Dùng đường RS chế biến là tốt nhất.

Thường người ta dùng 3 phần đường RS trộn thêm hai phần nước lã hòa với nước vôi đánh tan đường, cho vào cho nấu – ngày trước dùng 4 lá chảo gang, nay chỉ dùng 2 lá chảo bằng nhôm. Vôi có tác dụng làm chắc đường. Vôi nấu đường là loại vôi ăn trầu hầm bằng vỏ sò, hến, ốc. Lượng vôi sử dụng nhiều hay ít tùy thuộc đường nguyên chất đã ăn vôi tới mức nào. Khi nhìn cho đường sôi, người thợ lành nghề biết ngày là già vôi hay non vôi để gia giảm.

Người thợ dùng trứng gà đã pha chế sẵn cho vào cho đường sôi để tạp chất nổi lên, vớt nhiều lần cho sạch. Trứng gà thay thế cho thuốc tẩy. Chế nước trứng đến đâu vớt bọt bẩn đến đó. Khi cho đường sôi mạnh cho vào vài ba thìa dầu phụng để đường khỏi bị trào, vẫn cho thêm nước trứng vớt cho đến bọt trắng. Sau đó tiến hành khâu lọc. Khăn lọc bằng vải, dày vừa phải. Khăn được căng trên một cho khác, múc đường đổ vào khăn cho chảy xuống chảo. Lọc xong thì tiếp tục nấu cô.

Nấu lần này chảo đường tốt thì tiếng sôi nghe reo giòn. Cho đường xấu thì tiếng sôi nghe “phình phịch”. Người thợ luôn theo dõi tiếng sôi, độ sôi và thử đường để biết độ cô của đường. Mỗi người thợ có cách thử đường khác nhau. Ðường già nhỏ giọt chậm, đường non nhỏ giọt nhanh. Có thể xem cái tơ vương của đường để xác dịnh mức độ tới của đường phèn.

 

Khi đường tới, thợ múc ra đổ vào vại. Vại ngày trước lam?bằng đất nung, cắt thành nhiều miếng ghép lại, dùng niềng néo thật chặt rồi dùng hồ trít kín các kẽ hở để khỏi chảy rỉ. Lúc lấy đường thì tháo niềng, gỡ các miếng vại ghép rời ra. Dụng cụ bằng gốm này dễ vỡ, lại bất tiện. Ngày nay người ta dùng tôn dày gò thành cái vại nguyên, khi lấy đường ra dễ dàng.

Trước khi đổ đường vào vại phải chuẩn bị sẵn một mạng ghim trong vại. Ngày trước ghim là những lạt tre dài, khoanh dàn đều trong vại để đường có chỗ dựa kết tinh, đóng khối. Ngày nay người ta dùng chỉ sợi mới đánh, tiện lợi và rẻ hơn.

Ðường trong vại từ 7 đến 9 ngày thì nghiêng vại cho mật chảy ra hết. Thường thu được 55% đường phèn so với lượng đường cát ban đầu, với 50% mật và 5% “đường ô” là đường nấu lại từ bọt. Tỷ số cuối cùng bao giờ cũng cao hơn lượng đường ban đầu. Ðây là bí mật nghề nghiệp của người sản xuất.

nau_duong_phenÐường phèn đổ ra nong phải, dùng trang kéo, cào trở cho khô đều. Nếu đường trong trắng, đóng đinh to là tốt nhất. Nếu vớt bọt không sạch, đinh hơi xanh có màu trứng sáo Ðinh có gai là nấu còn non. Ðinh nhỏ có dính cát là nấu quá già, không được tốt. Cắn cục đường có dấu răng sắc là đường già vôi, không thấy dấu răng cào là đường non vôi.

Mật đường phèn ngọt thanh, nếu khi nấu không cho lượng thuốc tẩy quá nhiều thì ăn rất ngon và bổ.

Qua ba lần dự triển lãm kinh tế – kỹ thuật Việt Nam tại Hà Nội, đường phèn Quảng Ngãi đoạt hai huy chương vàng, chứng tỏ sản xuất đường phèn của Quảng Ngãi đã đạt đến trình độ cao. Ðường phèn Quảng Ngãi đã từng bán đến các tỉnh thành trong cả nước và một số nước Ðông Nam Á. Người ta thường dùng đường phèn với nước trà để tiếp khách quí, hay để làm quà . Ðường phèn chưng với chanh, quất, chữa được bệnh ho, viêm họng rất hiệu quả. Ðường phèn rất bổ đối với người già, người bệnh tật.

(Theo Quảng Ngãi, Ðất nước – Con người – Văn hóa) 

 

Mạch Nha

MẠch nha

mach_nhaỞ Quảng Ngãi, nghề nấu mạch nha phát triển rộng rãi. Người ta nấu mạch nha để ăn, đổ vào lon để bán và để làm bia.

Mạch nha ngọt, thanh dịu, bổ lành, không ngọt gắt như đường nên ăn được nhiều. Mạch nha nấu kỹ có thể để được lâu chuyên chở đi xa được, là món ăn vừa ngon vừa rẻ, đậm đà hương vị quê hương. Nhiều khách ra Bắc vào Nam qua Quảng Ngãi đều mua năm, ba lon để làm quà.

 

Chế biến mạch nha chỉ cần có mộng nếp, hoặc mộng lúa và gạo, hoặc một loại bột nào đó thay gạo.

Kỹ thuật làm mộng nếp lúa phức tạp, đòi hỏi thời gian tương đối dài, phải qua các khâu sau đây: Chọn nếp hoặc lúa khô, tốt, ngâm nước 24 tiếng đồng hồ, vớt ra xả sạch nước chua, đem ủ ba ngày đêm, thường xuyên tưới nước như ủ lúa giống làm mạ. Sau đó lại trải mỏng ra và tiếp tục ủ 4 đến 5 ngày, tưới nước đều cho mộng dài ra theo ý muốn (mộng dài không ngọt bằng mộng ngắn).

Sau đó đem mộng ra rũ sạch trấu và ủ lại cho mộng héo rồi xé rời ra phải khô, vừa phải nắng vừa lấy sưng, tùy thời tiết tốt hay xấu có thể mất 4 đến 5 ngày nữa mới thật khô giòn rồi đem giã nhỏ hoặc xay thành bột.

              che-bien-mach-nha Chế biến mạch nha

Gạo đem nấu thành cơm, đổ ra nong để nguội. Tất cả cho vào nồi, cứ một lớp cm thì một lớp mộng theo tỷ lệ 5 kg gạo 1 kg bột mộng (nếu cho già mộng thì chất ngọt nhiều nhưng màu mạch nha hơi đỏ).

Sau đó trộn đều dổ thêm nước lã theo tỷ lệ 2 kg gạo 1 lít nước, rồi bắc lên lò nấu và khuấy nhuyễn. Nấu độ 6 đến 7 tiếng đồng hồ thì đổ vào bao gai, ép lấy nước, bỏ bả ra nuôi heo.

Ép và lọc sạch xong, lại đổ vào nồi nấu tiếp. Ðây là đợt nấu cô cuối cùng nên càng phải khuấy đều cho khỏi sít và phải xem chừng để bớt lửa.

Nếu mạch nha để làm bia thì cô lỏng, nấu để ăn thì cô đặc cho đến khi thử có tơ bay như cách thử nấu đường.

Nấu mạch nha là nghề truyền thống của Quảng Ngãi, tiêu biểu là vùng Thi Phổ (Mộ Ðức). Ông Trần Kỳ, người sáng chế mạch nha đem dự đấu xảo tại Hà Nội và Huế ngày trước, sản phẩm của ông được cấp bằng khen và được triều đình Huế phong hàm cửu phẩm văn giai.

(Theo Quảng Ngãi, Ðất nước – Con người – Văn hóa) 

 

 

MẮM CÁY

Dù đã hơn 20 năm tha phương cầu thực, mỗi lần về quê nhìn dòng sông, lòng tôi vẫn nao nao một cảm giác buồn buồn khó tả. Hình dáng con cáy, hương vị mắm cáy dường như đã khắc sâu vào ký ức, chiếm một phần kỷ niệm thời thơ ấu của tôi.

Con cáy, còn gọi là mày my, loài sinh vật rất dễ thương nhỏ bằng đầu ngón tay và sậm màu hơn con còng một tí. Cho mãi đến những năm 80, sau khi người ta cải tạo nhánh sông Ngang đắp đường nối liền thôn An Tĩnh xã Đức Thắng và xây dựng bờ tràn qua xóm Trung Giang về Kỳ Tân, An Chuẩn thì An Mô quê tôi mới thực sự mất đi hương vị của mắm cáy.

Tuy cùng họ nhà cua nhưng cáy không tanh, mắm không khẳng như cua đồng. Nếu được làm bởi bàn tay khéo léo, kinh nghiệm thì nước mắm cáy trong và thêm, hương vị đặc trưng, khó có loại mắm nào sánh được.

Ngày ấy, dòng sông An Mô tấp nập vui vẻ, dân các vùng lân cận kéo về bắt don, nhủi hến, cào lịch, kéo tr… thật nhộn nhịp.

Mùa cáy là lúc dòng sông nhiễm mặn, thủy triều lên xuống ngày hai lần để lộ bãi cát trắng dày đặc, hang cáy chạy dài theo bờ sông quanh làng. Lúc cạn nhất dòng sông chỉ còn là con lạch nhỏ chừng năm bảy bước chân. Ban ngày cáy chỉ lởn vởn quanh hang, về đêm chúng kéo ra mé nước kiếm ăn hay hoạt động nòi giống chi đó. Lợi dụng đặc tính này, người ta có hai cách bắt cáy: Một là chạy đuốc, hai là đặt máng.

Chạy đuốc thì người ta dùng lốp xe hư hay bã mía… bó làm đuốc để soi. Một người soi, hai ba người dùng tay lùa thật nhanh bắt cáy bỏ vào thng. Tất cả tuyệt đối im lặng, không được cười đùa to tiếng.

Đặt máng: Đôi khi thủy triều rút cạn (khoảng một – hai giờ chiều), dùng bẹ chuối làm máng kín hai đầu đặt sát mé nước, cứ hai mét đặt một máng, giữa các máng lấy bẹ chuối chẻ thép rộng ba ngón lay dựng kín không cho cáy đi ra.

Cách đặt máng cũng đòi hỏi sự khéo léo, sao cho mép máng thấp hơn mặt đất một tí để cáy đễ lọt mà không bò lên được. Đồng thời đặt máng phải xong trước lúc chập choạng tối để kịp giở “đi ăn” của chúng.

Thường thường cứ khoảng  15 phút lại thu một bận cho đến khi gần sáng mới dỡ máng. Máng được cất cẩn thận để hôm sau đặt tiếp. Khi đặt lại, chọn những máng hư bỏ đi, thay vào  máng mới, cứ thế đến hết mùa cáy.

Kỹ thuật làm mắm cáy cũng đơn giản như mắm cua đồng. Sau khi rửa sạch đất cát để ráo, đem cáy giã nhuyễn với muối ăn. Cứ ba hoặc bốn bát cáy cho vào một bát muối, có thể cho thêm một ít nước lã, để lẫn xác hay vắt lấy nước cũng được. Mắm làm xong cất kỹ trong lu, chum, khoảng độ vài ba tháng sau dem dùng. Nếu làm mắm chua thì khi giã cho năm sáu bát cáy một bát muối, thêm tỏi, gừng và đường làm phụ gia, để chừng năm bảy ngày ăn là vừa. Mắm chua cũng thơm ngon không kém.

Tôi đã trải qua thời thơ ấu từng soi đuốc, đặt máng, làm mắm thức thâu đêm cả mùa cáy nên hình ảnh con cáy vẫn chưa phai nhòa trong ký ức. Bây giờ mà có một chén mắm cáy đúng độ để ăn với bún tươi hay chấm rau luộc thì ngon tuyệt.

 

Lê Mộng Bảo

 

MẮm Nhum

Mắm nhum: Sản xuất ở các đảo ngoài biển. Đời Minh Mạng đặt hộ mắm nhum 5 người. Mỗi năm phải nộp 12 cân mắm nhum…”

i Nam nhất thống chí)

con_nhum Xem thế đủ biết mắm nhum là một thức ăn quý, được dành để tiến vua, ngang hàng với các đặc sản khác ở trăm vùng nước Việt: thuốc lào Tiên Lãng, vải thiều Hải Dương, nhãn lồng Hưng Yên, sâm cầm Hồ Tây… vì được dùng để dâng vua nên loại mắm này còn được gọi là “mắm tiến”, và để có được mỗi năm 12 cân (cỡ 6 kg) “mắm tiến” ấy, triều đình đã đặt hẳn một hộ dân chuyên trách. Theo lệ, hộ này được miễn mọi sưu dịch, được hưởng lộc nước (tiền, gạo cấp hàng tháng hoặc là ruộng đất) chỉ để toàn tâm, toàn ý sản xuất mắm cho vua.

Thời gian ở Quảng Ngãi, tôi đã được nhìn thấy con nhum ở Dung Quất được một ngư dân chỉ cho. Thoạt nhìn, tôi cứ tưởng đó là một quả chôm chôm ai vứt dưới biển, bị nước làm đen lại, đó là loại nhum con, nhum chưa “trưởng thành”.

Mình nhum đầy gai nhọn. Con lớn nhất có hình tròn dẹt, đường kính cỡ nửa gang, bề dày độ hai đất tay. Vùng cư trú lý tưởng của loài nhuyễn thể này là các ghềnh đá ven biển, các bãi rong, rêu. Họ nhà nhum có nhiều loại, nhum mỡ, nhum bạc, nhum ta… Nguy hiểm nhất là loài nhum bắn. Gặp nguy hiểm, loại nhum này có thể bắn gai ra xa tới nửa mét. Người dính phải gai này thường xây xát da thịt, đau buốt vì nọc.

Mùa khai thác nhum bắt đầu từ tháng 2 âm lịch. Nhưng nhum chắc nhất phải từ tháng 5 đến tháng 6. Cuối tháng 6 đã hết mùa nhum. Người bắt nhum đương nhiên phải là người bơi lặn giỏi. Bơi lặn thật nhẹ nhàng chứ không được làm nước chao động mạnh. Động mạnh, nhum biết có nguy hiểm sẽ bám chặt vào đá thì …   Nhum bám đá cũng như kỳ đà bám đá, chỉ còn cách lấy dao nhọn nạy ra hoặc… bổ đôi luôn tại chỗ lấy ruột. Phát hiện ra nhum rồi, dùng cái móc sắt giật con vật về phía mình, túm lấy, bỏ bao

Nhum bắt về được rửa sạch, dùng dao sắt bổ đôi rồi dùng dao tre nạo vòng bên trong, lùa lách, tách khối thịt ra khỏi vỏ. Thịt nhum trắng hồng, kết thành 6 hay 8 múi. Lột cái dạ dầy vứt đi, có thể nhậu ngay thịt nhum sống với rượu đế được Nhậu thịt nhum sống với rượu đế, người không biết uống cũng phải làm được một xị. Dân ghiền thì… hàng can.

Thịt nhum tươi vừa ngọt vừa mát… Nhum có thể kho để ăn cơm hay cầu kỳ hơn thì làm chả. Trong các nhà hàng đặc sản, chả nhum đắt hơn cả tôm he, làm đến đâu bán hết đến đó.

Chỉ có loài nhum ta màu huyền là làm mắm được. Thịt nhum cho vào thẩu, rắc muối, hạt tiêu lên trên. Mắm nhum phải cho muối nhạt hơn các loại mắm khác để dễ chua, cốt giữ nguyên cái vị ngọt ngào, thơm ngon riêng của nó. Muối chừng nửa tháng đã ăn được. Mắm nhum nguyên chất sền sệt có màu đỏ như mắm tôm. Dịp tết Đoan Dương (mùng 5 tháng 5), đem mắm nhum ra ăn với bún tươi hay là dùng làm nước chấm thịt lợn ba chỉ cuốn bánh đa, rau sống là tuyệt nhất.

Để giữ nguyên hương vị riêng của mắm nhum, người ta thường chỉ dùng tỏi với hạt tiêu nguyên hạt làm gia vị, không thêm một thứ gì hết. .

Ở xứ Quảng, thời trớc có nhiều hộ chuyên làm mắm nhum. Tuy vậy, do sản lợng nhum ít nên mỗi hộ trong một vụ chỉ sản xuất được chừng 1 tạ là nhiều. Mắm nhum rất đắt, nên tuy là quê hương của loài nhum mà dân xứ Quảng cũng rất ít người được ăn thứ “mắm tiến” này.

Không hiểu tại sao từ mươi năm nay, người làm mắm nhum ở Quảng Ngãi ngày càng ít. Có lẽ do sản lượng nhum càng ngày càng giảm đi. Cũng có thể nhum chui vào các nhà hàng “đặc sản” hết rồi. Tiền tươi, lấy ngay bỏ túi ai mà chả ham.

 

Cá Thài Bai

Từ tháng chạp, tháng giêng trở đi, ở đoạn cuối sông Trà Khúc (phần nước ngọt) cá thài bai ngược dòng nước từng đàn kéo đi không dứt.

Cá nhỏ sức yếu nên thường bơi theo ven bờ cát, nước nông. Người đánh bắt cá phải cào cát be thành bờ, chắn trước thành từng khoang rộng rồi đơm cá.

ca_thai_baiCá Thài Bai – Ảnh Lê Hồng Khánh

Dụng cụ đơm cá thài bai là một cái đó dan rất dày. Cách đơm cá thài bai cũng rất đặc biệt là đơm xuôi để đón đàn cá đi ngược nước.

Thời vụ đánh bắt cá thài bai chỉ hơn một tháng. Càng về cuối vụ, cá càng già, không ngon như trước. Kỹ thuật kho nấu đơn giản nhưng hương vị còn đọng lại lâu dài: “Cá thài bai chiên mỡ lại gia hành” hoặc cá thài bai trộn chung với trứng đem chưng cách thủy. Người ăn thường bẻ bánh tráng để xúc cá, nếu thêm tí rượu càng nhận được hết cái hương vị của cá thài bai.

Nếu đánh bắt được nhiều, người ta đem hấp, nấu canh, hoặc kho với dưa cải làm món ăn ngon miệng, rẻ tiền.

Cá thài bai đúng thời vụ là một món ăn đặc biệt ngon và quý hiếm. Sản lượng cá thài bai rất thấp, không thể trở thành món hàng phổ biến. Ai muốn thưởng thức món ăn này cần đặt hàng trước tận nơi khai thác.

(Theo Quảng Ngãi, Ðất nước – Con người – Văn hóa)