Núi Long Phụng

Núi Long Phụng nằm ở phía đông nam xã Đức Thắng, huyện Mộ Đức có độ cao 68 mét, dài gần 2.000 mét, chạy dọc bờ biển theo hướng nam – bắc, hình thể tựa như con thanh long, đầu ngẩng cao ngó thng về hướng tây. Trên đầu rồng có đá trắng đục và trắng trong như gương, nằm chồng chất lên nhau, lớn có nhỏ có, nằm ngang có, dựng đứng có. Khi ánh mặt trời rọi xuống, ta thấy một màu trắng xóa như bạc, bởi thế người ta gọi là núi Đá Bạc.

Nếu ta đứng ở Vực Hồng (xã Nghĩa Hòa) phía bắc nhìn vô thì thấy đầu rồng ở phía tây đuôi phụng ở phía đông. Còn đứng ở Đức Minh phía nam trông ra thì trông thấy đầu rồng ở phía đông, đuôi phụng ở phía tây. Khi ta ngồi trong ghe lao chao trên sóng ở biển Đông nhìn về phía tây, nhìn thấy rõ núi như một con rồng uốn khúc vươn cổ lên chụp lấy mặt trời, mặt trăng. Còn đứng ở Quốc lộ 1A là hướng tây nhìn đỉnh núi hệt như đầu rồng mà người ta thường vẽ tạc ở chùa, (rinh. Đứng phía nào cũng thấy hình rồng nên người ta nói là “tứ diện long”. Trên đỉnh núi cây cối xanh tươi suốt bốn mùa, chụm lại thành cụm như vảy rồng, chạy dọc thành hàng như kỳ rồng dương lên khi đắc ý. Từ xa, ngắm nhìn dãy Long Phụng ta có cảm giác như đang ngưỡng mộ một con vật kỳ ảo giữa đất trời mênh mông. Núi này gọi là hòn Long. Dưới đuôi hòn Long tức về phía bắc, nối tiếp một dãy núi nằm dọc theo hướng nam bắc dài độ bảy tám trăm mét, hình thể hơi giống mu rùa và được kết tạo bằng đất sỏi màu đỏ như gạch lưa thưa mọc vài chòm cây gai trắng, hoa sim… Núi này gọi là hòn Phụng. Về hình thể cấu tạo, sắc thái của hòn Long, hòn Phụng khác biệt nhau, nhưng bởi nằm sít bên nhau giống như đầu Rồng đuôi Phụng nên được mang tên chung là núi Long-Phụng: Cuối đuôi Long Phụng có một quả núi hình nón đứng tách biệt mang tên là núi Một, trên núi có một khối đá vôi lớn chừng 2 mét, chung quanh có khắc chạm hoa văn tương đối đều đẹp. Dân làng truyền rằng trước đây là tháp của người Chàm, gọi là tháp Núi Một.

Đứng trên “đầu rồng” ta có thể thấy bao quát một vùng rộng lớn của tỉnh Quảng Ngãi. Mặt đông – bắc, thấy đảo Lý sơn và dãy Ba Làng An. Nhìn xa xa phía bắc là hòn Ấn và hòn Bút như một tiền án; trông lại gần thấy dòng sông Vệ như dải lụa bạch chạy quanh co giữa cánh đồng mênh mông, bát ngát mươn mướt như nhung. Phía nam, ta thấy xa xa núi chập chờn đến tận cửa Sa Huỳnh. Phía đông là cát trắng và rừng dương trải dài, biển xanh, với những cánh buồm lô nhô lướt gió. Đứng nơi đây, ta nghe những âm thanh bất tận của đất trời: tiếng sóng rì rào hòa với tiếng vi vút của rừng dương như những khúc nhạc vang vọng từ rất xa xôi, nâng đỡ tâm hồn ta, dìu ta lạc vào một không gian huyền diệu.

Đầu thập niên sáu mươi, thi sĩ Quách Tấn cùng một vài nhà văn khác đã du quan trên núi Long Phụng và có lời như sau:

“Trên phía đầu rồng của núi Long Phụng có mai vàng mọc đầy. Mùa mưa ngớt, mùa xuân trổ, sắc làng của hoa chiếu vào sắc trắng của đá, hừng hững, rực rỡ, đứng xa trông như núi phát hào quang. Thỉnh thoảng mùi hương đưa nhẹ, vừa có đó, vừa không đó, nửa hư, nửa thực.

Và trên hòn Phụng có một loại đá son bằng ngón tay, chất cứng, sắc ngoài hơi thâm đen, thấm nước mài ra thì đỏ như son Tàu. Thời Hán học thịnh hành, các sĩ tử đến lượm son về cho thầy chấm vở.

Son này  nhiều nơi cũng có nhưng sắc không tươi bằng vmới cầm đã dính tay. Đá son Long Phụng đã tươi mà khi nào mài mới ra đỏ. Tương truyền rừng do máu của hòn Long Phụng bị Cao Biền chém đứt phun ra rồi đọng lại. Không biết đá son này là do máu rồng của hòn Long chảy xuống hay máu nơi Phụng ứa ra. Mà phải là máu rồng, hay máu phụng, đá son núi Long Phụng mới thắm mãi tới non sông. Và phải chăng người đặt ra tên Long Phụng vốn mang ý niệm không quên nòi giống Tiên Long, không quên Non Nước Hồng Lạc. Đó cũng là biểu tượng cho tâm lòng son sắt của người Việt Nam nói chung, người Quảng Ngãi nói riêng:

Giống ging Hồng Lạc còn đây .

Đá son Long Phụng mỗi ngày mỗi tươi

Theo triền đông bắc của hòn Long, cách bờ biển 100 mét, ở mé hòn Phụng có một hang đá diện tích khoảng tám mét vuông. Tương truyền xưa kia có một nhà sư ăn ngũ cốc, không kinh kệ, không đệ tử bổn đạo, suốt ngày ngồi tham thiền. Đến đúng ngọ, trở dậy hái rau ăn qua loa rồi nhập định lại.

Nhà sư tên gì và quê quán nơi đâu nhiều người không biết, chỉ thấy ông ăn rau nên gọi ông là ông Rau và nơi hang đá ông tu gọi là chùa, lâu ngày thành quen gọi là chùa ông Rau. Giờ chỉ còn lại hang đá với ba bộ đá thờ, ngày ngày ngút tỏa mây phong.

Lê Kỉnh, tú tài khoa Mậu ngọ 1918 có bài thơ vịnh chùa ông Rau:

Tẻ lắm ông Rau ! ông hỡi ông !

Ông đi đâu mãi b chùa không

Hang sâu phó mặc bầy dơi ở

Vách trống không ngăn ngọn gió lồng

Nước vẫn nhuần lòng cơn nắng hạ

Cát dương vùi hạt ngọn triều đông

Không ai nối gót tu hành trước

Đài cảnh còn soi rạng núi sông.

Cánh đồng phì nhiêu bao la bát ngát của xã Long Phụng tô điểm cho núi thêm xinh. Và cảnh sinh hoạt phồn thịnh của chợ Long Phụng cùng cảnh dân cư đông đúc đã làm cho núi thêm thanh thế.

Khách phương xa đến núi Long Phụng ai cũng khen đời phú túc của dân Long Phụng. Con gái thì duyên dáng, dịu dàng, con trai thì tuấn nhã, hào hiệp. Ngoài cánh đồng cò bay thẳng cánh, khách còn khoái mắt nhìn những vồng lang cuồn cuộn như sóng biển chôn giấu những củ sởn sơ như bắp vế. Khoai lang nơi đây hương vị thật đặc biệt. Khoai nhiều nơi hễ ngọt thì không bùi, hễ bùi thì không ngọt. Khoai Long Phụng vừa ngọt lại vừa bùi, vỏ mỏng như giấy quyến. Do đó mà ca dao xứ Quảng có câu:

C lang mỏng vỏ đỏ da

Ai về Long Phụng theo ta thì về.

Khách tham quan, du lịch đến núi Long Phụng khi ra về thế nao cũng mang theo một ít thổ sản, đặc biệt là son đỏ, mai vàng, khoai lang. Thi sĩ Quách Tấn viết:

Mai  làng, son đỏ duyên trời,

Khoai lang, nghĩa đất tặng người tình chung

Mãn  vui ôm Phụng, ấp Rồng,

Non sông nặng gánh mong lòng dừng quên.

LÊ VINH BỔN

 

Advertisements

Bãi biển Mỹ Khê

vungbienquetoi_maihuynhMỹ Khê là tên cũ của xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, nay dùng để chỉ bãi biển ở xã này. Bãi biển Mỹ Khê cách tỉnh lỵ Quảng Ngãi khoảng 15 km về hướng đông – đông bắc, nằm giữa dải ven biển đẹp từ nam Cửa Đại với Cổ Lũy cô thôn đến Ba Làng An ở phía bắc với các cảnh đẹp tự nhiên như An Hải sa bàn, Thạch Ky điếu tẩu, cửa biển Sa Kỳ. Cách Mỹ Khê 3 km về phía tây – hướng đất liền,  là khu Chứng tích Sơn Mỹ.

 

Bãi biển Mỹ Khê nằm trong thôn Cổ Lũy, cũng gọi là Cổ Lũy cô thôn hay Cổ Lũy Bắc – để phân biệt với Cổ Lũy Nam thuộc xã Nghĩa An, huyện Tư Nghĩa. Cổ Lũy cô thôn hay Cổ Lũy Bắc cũng bị một dòng chảy cắt rời khỏi đất liền bởi sông Kinh chạy dọc theo hướng nam – bắc, chảy từ cửa Đại ra đến cửa Sa Kỳ. Thôn Cổ Lũy ở đây cũng khá đẹp, nhờ con sông Kinh với các đầm dừa nước, các rừng phi lao và các làng mạc rợp bóng dừa. Từ giữa thế kỷ 19, quan đại thần triều Nguyễn là Trương Đăng Quế xin về nghỉ hưu tại quê hương ông bên bờ sông Kinh và tự hào nói “nhất Huế nhì đây – Cổ Lũy cô thôn”. Sau này một số ký giả Mỹ cũng ghi nhận Mỹ Khê là một trong những bờ biển đẹp nhất Nam Việt Nam.

mo_truong_dang_que 

Lăng mộ Cụ Trương Đăng Quế ở Mỹ Khê. Ảnh Trần Trọng Uyên, tháng 8/2003.

Bãi biển Mỹ Khê có hình lưỡi liềm với đường cong siết lại ở vụng An Vĩnh phía bắc. Có đồi An Vĩnh chắn sóng. Bãi biển cát vàng phau, sạch sẽ, rợp bóng rừng dương, độ dốc của bãi biển thấp, do vậy ngày càng thu hút đông đảo khách đến đây tắm biển, du lịch. Ngày nay nhờ có đường Quốc lộ 24B được xây dựng nối với Quốc lộ 1A, khá thuận tiện, nên bãi biển Mỹ Khê càng phát triển mạnh về du lịch và dịch vụ. Các nhà hàng mọc lên trên bãi biển với các món ăn hải sản. Dự án Khu du lịch Mỹ Khê đang được xây dựng. Mỹ Khê đã và đang trở thành trọng điểm thu hút khách du lịch của tỉnh Quảng Ngãi.

CAO CHƯ

 

Bãi Biển Sa Huỳnh

Sa Huỳnh là cửa biển cực nam tỉnh Quảng Ngãi, cách tỉnh lỵ 60 km, có đường sắt và Quốc lộ 1 chạy qua. Cũng như cửa Đại Cổ Lũy (Chiêm Lũy lịch môn) ở phía bắc, cửa Sa Huỳnh có một vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc Nam chinh 1471 của vua Lê Thánh Tông. Sa Huỳnh cũng là một trong những cửa biển sử dụng trong giao lưu hàng hải khu vực Đông Nam Á rất sớm. Nhiều ý kiến cho rằng thời điểm này ít nhất là khoảng thiên niên kỷ thứ 1.

baibiensahuynh

Hiện nay Sa Huỳnh là một cảng cá khá sầm uất ở bờ biển miền Trung. Thắng cảnh Sa Huỳnh nói ở đây bao gồm biển Sa Huỳnh và vùng phụ cận (bãi cát, làng mạc, đồi núi và ruộng muối…)

Thực ra, Sa Huỳnh là một địa danh từ lâu đã quen thuộc với người trong nước và cả người nước ngoài, vì ở đây có nhiều di chỉ khảo cổ học thuộc nền văn hóa Sa Huỳnh, có nghề làm muối và nước mắm nổi tiếng.

Nét độc đáo của thiên nhiên Sa Huỳnh làm cho nó trở thành một thắng cảnh đầy hấp dẫn, là bởi ở đây có những mạch núi rẽ ngang của hệ Trường Sơn đâm sát xuống phía biển, tạo thành nhiều mõm, cù lao lô nhô lên ngọn sóng, hợp cùng dài cát vàng, những đụn muối trắng và tràu xanh của biển thành một bức tranh thiên nhiên bao la khoáng đạt Biển Sa Huỳnh có màu xanh biêng biếc, sóng êm, bờ cát phẳng rì, được che khuất bởi những rặng dừa xanh nên là một bãi tắm thiên nhiên lý tưởng.

Một trong số những cù lao nằm đọc theo ven biển Sa Huỳnh là hòn đảo nhỏ có tên là đảo Khỉ, có những đàn khỉ sống hoang dã giữa trời nước. Phải chăng tổ tiên của những đàn khỉ này vốn có mối liên lạc với núi rừng phía tây, qua những đầm cạn vào thời biển thoái, và rồi nước biển lại dâng cao, nhấn chìm đường nối với đất liền khiến đàn khỉ bị cô lập nhưng vẫn tồn tại và sinh sôi thành những bầy đàn dông đúc, trở thành một “Vương quốc tự trị”.

dong-muoi-sa-huynh

Sa Huỳnh cũng là quê hương của những đặc sản nổi tiếng mang hương vị biển khơi như mắm nhum (còn gọi là mắm tiến, vì ngày trước hàng năm phải tiến cho Vua), cua huỳnh đế, tôm hùm…

Đến Sa Huỳnh vào dịp sang xuân, khi biển đã trở lại yên bình sau mùa gió bão, du khách sẽ được chứng kiến những lễ hội cầu ngư, cúng thần Nam Hải, hát múa sắc bùa độc đáo của dân cư ven biển. Những năm đầu thế kỷ XX, các nhà khảo cổ học Pháp đã tiến hành nhiều cuộc khai quật và phát hiện ở đây nhiều khu mộ chum, lưu tích của một nền văn hóa xuất hiện vào thời kỳ rất sớm. Hơn nửa thế kỷ sau, cũng chính ở đây, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã khám phá những di vật thuộc thời kỳ văn minh có niên đại sớm hơn những hiện vật mà người Pháp đã tìm thấy, tức vào sơ kỳ đồng thau, cách chúng ta hơn ba thiên niên kỷ.

Gò Ma Vương, gò Diều Gà và một số địa điểm khác thuộc Sa Huỳnh hiện vẫn còn là một lực hút đáng kể đối với những nhà khảo cổ học và du khách.

Vẻ đẹp tự nhiên của Sa Huỳnh đến nay vẫn còn giữ được tương đối nguyên vẹn, đồng thời ở đây cũng đã xây dựng được một số công trình phục vụ du lịch mà đáng kể là khách sạn Sa Huỳnh – một khách sạn đẹp nhưng chưa thật thịnh đạt.

Hiện nay Sa Huỳnh đã trở thành một nơi nghỉ mát, ngoạn cảnh, tắm biển, thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước. Riêng khách nước ngoài thường chọn nơi đây làm chặng nghỉ chân và tắm biển trên lộ trình từ Đà Nẵng đến Nha Trang và ngược lại.

Vẻ đẹp thiên nhiên độc đáo, các món ăn đặc sản hấp dẫn, nhiều di tích và sinh hoạt văn hóa có giá trị, đường giao thông thuận lợi, người dân hiếu khách, đó chính là những tiềm năng săn có của vùng Sa Huỳnh để phát triển ở đây một điểm du lịch văn hóa thu hút đối với khách trong và ngoài nước.

LÊ HỒNG KHÁNH

 

Chùa Hang – Hang Câu

Cách đất liền 27km và thị xã Quảng Ngãi 50km về hướng đông bắc, với những phương tiện giao thông hiện có, hành khách chỉ mất chừng 20 phút đến bến Tịnh Kỳ, sau đó lên. thuyền lướt sóng khoảng 2 giờ đồng hồ là cập bến cảng cá Lý Sơn, còn nếu có ca nô tốt thì từ Tịnh Kỳ đi Lý Sơn không quá 30 phút. Đặt chân lên đảo, đi tiếp 5 km nữa về phía đông nam, qua một con đường độc đạo, cheo leo, bên vách núi, bên biển, với thế núi cao dần lên cho đến bên kia triền đồi rồi tụt xuống hơn 40 bậc tam cấp bằng đá là đến chùa Hang.

                          chua_hanglyson

Chùa Hang

Chùa Hang vốn là một hang động lớn nhất của ngọn núi Thới Lới, vách đá dựng đứng cao gần 20 mét đã bị thủy triều sóng biển qua hàng triệu năm đào đắp, đẽo gọt tạo nên. Dấu tích còn lại của nó là những bãi đá ngầm, bãi san hô phô bày ra trước mặt cửa hang, khi nước thủy triều hạ xuống, những khối đá chồng xếp lên nhau, ngổn ngang hiện lên. Ngay dưới chân bậc tam cấp, sân chùa Hang thoáng mát hiện ra một tượng Quan âm được xây cao giữa hồ sen, nhìn ra biển cả mênh mông, đôi rất màu nhiệm, nếp áo cuốn cong theo chiều gió. Xung quanh là những cây bàng biển cổ thụ mà tuổi của nó có thể đến hàng trăm năm, thân và rễ to xù xì, cằn cỗi, nhưng cành lá lại xòe ra những chùm lá to, xanh rì che mát cả một khoảng sân.

Hang đã có từ nghìn xưa, còn chùa Hang thì được lập dưới triều vua Lê Kính Tông do đức thủy tổ Trần tiền hiền ở đây tạo dựng cùng với việc khẩn hoang, mở đất lập làng Lý Hải, Lý vĩnh xưa: Chùa Hang thờ Phật, còn có tên là Thiên Khổng Thạch Tự (Chùa đá trời sinh). Vào bên trong lòng hang sâu và rộng, bề dài 24m, bề ngang 20m, trần hang cao 3,2m, diện tích 480m2, đủ sức chứa hàng trăm người vào lễ Phật cùng một lúc. Nội thất chùa Hang được bài trí như sau: bàn thờ giữa thờ Phật Di Đà như Lai, Di Lặc, bên trái thờ Sư tổ Đạt Ma, bên phải thờ 12 vị Diêm Vương, 3 vị đức thủy tổ kế tiếp phụng sự chùa là: Trần Công Thành, Trần Công Tiềm, Trần Công Quận và 7 vị tiền hiền làng Lý Hải cùng các bổn đạo thiện nam tín nữ đã có công tổ chức trùng tu chùa về sau này. Điều đặc biệt là các bệ thờ ở đây được con người tạo tác từ các nhũ đá tự nhiên ở nền hang, rồi được nghệ thuật hóa thành các khám thờ, đồ thờ, làm tăng thêm vẻ thâm nghiêm, huyền bí cho các gian thờ.

Hàng năm cứ vào ngày Tết Nguyên đán, lễ Phật đản, lễ Vu lan, ngày giỗ các vị tiền hiền, nhân dân địa phương tới hành lễ, niệm Phật, chiêm bái các vị tiền hiền. Càng đi sâu vào phía sau các gian thờ, ánh sáng mờ ảo, không khí mát lạnh, ta bắt gặp đường lên trời, đường xuống âm phủ. ta như lạc vào chốn thiên cung.

noi_that_chua_hang

Nội thất chùa Hang

Từ chùa Hang đi tiếp về hướng nam ta gặp các hang to nhỏ, cao thấp khác nhau cùng những khối đá thiên hình vạn trạng do trần hang hoặc vách núi sụp đổ xuống làm đá gieo xuống dòng nước biển chồng chất lên nhau ngay trên nền trước cửa hang. Bên trên các trần hang là thành vách đá cao vút chạy dài. Lưng chừng vách đá cheo leo, chuối và các loài thảo mộc mọc cắm thẳng vào vách đá hoặc uốn quanh những cành cây rồi tỏa xuống những chùm hoa lá xanh đỏ rực rỡ như hóa trang cho vách đá thêm mềm mại tươi mát. Từ trên vách núi cao những dòng nước nhỏ li ti lăn mình qua rêu cỏ, đổ xuống. Rảo bước qua khỏi sườn núi đá dựng đứng như lũy, như thành chạy dài hàng năm sáu trăm mét là đến hang Câu – hang động cuối cùng trong hệ thống hang động ở đây. Khác với chùa Hang, cửa hang Câu rộng và cao như mái vòm khổng lồ được xây bằng đá. Trên trần hang, vách hang chim nhàn làm tổ. Đây là giống chim cánh trắng, đuôi trắng và dài hơn chim sẻ. Chúng săn mồi ở biển như chim bói cá trong đất liền; khi săn được mồi, chúng liền bay về trần hang gọi bầy tới ăn, nên suốt ngày tiếng chim từ trần hang dội xuống vang lên nghe ríu rít.

Qua bên kia hang Câu, tường thành đá bị cắt đứt, để lại những dải cát trắng trải dài bên bờ biển xanh thẳm. Trước mặt hang là những bãi đá bằng, khi nước triều lên du khách ngắm biển, bơi thuyền, khi thủy triều xuống có thể tha hồ bắt cua ốc và các loại cá có nhiều màu sắc rất đẹp.

Từ hang Câu nếu muốn ta có thể leo lên núi Thới Lới nhìn về các hướng, thu đất trời, biển cả vào trong tầm mắt. Phía tây bắc, không xa, là hòn Bé như con rùa nổi mai trên mặt nước, chếch phía Đông là những thửa ruộng trồng hành tỏi thẳng tắp, vuông vắn như bàn cờ. Nhìn xa về phía Tây, trời biển bao la, xanh biếc, thăm thẳm đến nao lòng. Đông nam núi Thới Lới là trạm hải đăng có ngọn đèn biển suốt đêm nhấp nháy.

Hang Câu, Chùa Hang, núi Thới Lới của Lý Sơn là một quần thể thắng cảnh đẹp nổi tiếng không chỉ của riêng tỉnh nhà. Ở đây, núi, biển, hang động, chim cá cùng tạo nên bức tranh non cao, nước biếc, hang sâu làm đẹp cho đời.

 

Hải Giá

Nước có thể ngập đồng, cuốn trôi nhà, phá đường, thậm chí có thể làm sạt lở cạ̉t sườn núi. Nhưng sau mùa mưa, cây cối lại mọc lên che phủ, con người dựng lại nhà cửa, sửa sang đường sá. Dấu chân hung d của nước lũ được xóa đi ít ra cũng tạm quên trong tâm tưởng. Có lẽ đó là một thực tế tâm lý chung ở miền Trung nhiều mưa nắng.

hai_gia

Thế nhưng ngay giữa mùa nắng nóng, ta vẫn có thể thấy hiện hình rõ rệt dấu ấn của nước lũ, đó là Hải Giá. Từ huyện lỵ Sơn Hà miền tây tỉnh Quảng Ngãi ta có thể theo con đường men theo bờ sông Rhin, đi 6 km nữa tới Hải Giá.

Bờ sông cao khiến ta nhìn xuống lòng sông tựa nhìn xuống vực thẳm. Lòng sông bày lên những tảng đá như để phô bày thêm uy lực của nước đang mênh mang trôi giữa trời đất. Nhưng phải đến tận đoạn sông Hải Giá ta mới cảm nhận hết được cái uy lực ghê gớm này. Hải Giá là nơi sông Rhin gặp sông Rhe, sông Xà Lò ở vùng núi điệp trùng của miền tây tỉnh Quảng Ngãi để khi về hạ thì mang tên sông Trà Khúc, con sông lớn nhất trong tỉnh và cũng nổi tiếng về sự bạo liệt. Điều rất đặc biệt là trải dài đến vài cây số trên lòng sông Hải Giá không chỉ là cát, là đá cuội, mà là những tảng đá to. Mùa nắng, mực nước thấp, lòng sông hiện ra, ta mới thấy đá ở đây chỉ chừa cho nước một khoảng nhỏ hẹp như lòng mương. Nhưng để đổi lại, nước cũng không vừa.   hai_gia1

Ta thấy những đường xoáy nước dữ dội in hằn trên các tảng đá. Có nơi nước đào xuống lưng tảng đá một cái hố như hố chiến đấu cá nhân, có nơi gờ thành các tảng đá bị xoáy cuộn để có hình sóng lượn dưới chân đá. Mặt đá thì nơi nơi đều lởm chởm vì chân nước bào mòn dữ dội. Bãi đá dưới lòng sông Hải Giá quả thực đã bị nước sông bạo liệt ghi lại dấu Ấn của nó bằng hình dạng hết sức kỳ dị, đẹp mắt, vừa đầy vẻ bí hiểm của thiên nhiên. Mùa hè ở Hải Giá khá mát mẻ. Nhiều người tìm đến Hải Giá để tận mắt thấy sự kỳ thú của tự nhiên. tắm sông, ngắm cảnh và có lẽ cũng để cảm thấy hết sức mạnh của nước mà có sự đề phòng tích cực, hữu ích.

CAO CHƯ

 

Cấm Ông Nghè

Cấm ông Nghè thuộc địa phận thôn Năng Tây, xã Nghĩa Phương, huyện Tư Nghĩa. Từ tỉnh lỵ đến cấm chừng 8 km về phía Nam. Nhưng lấy mốc là cầu Cây Bứa trên Quốc lộ 1 theo hướng tây đến cấm chỉ hơn cây số. Cấm rộng một mẫu bảy, có hình bầu dục, na ná như trái xoài. Giữa đồng trống mênh mông nổi lên ngọn núi bằng đá làm cho cấm đầy huyền bí.

Ông Nghè tên thật là Nguyễn Tộ, sinh năm 1888, mất năm 1966. Trước đây cấm thuộc phần đất của ông, qua bao đời núi được chăm sóc cẩn thận. Nhà ông Nghè ở ngay chân núi cấm. Nhà cổ, có trên 200 năm. Trải qua bao nhiêu năm vật đồi sao dời, bao nhiêu cuộc chiến tranh đi qua: song ngôi nhà vẫn còn nguyên vẹn. Chỉ tiếc là mới đây, trận lũ lịch sử cuối năm 1999 đã làm mái ngói âm dương rêu rã, vách gỗ hoa văn mục ruỗng, đành phải thay. Tuy nhiên nét cổ kính vẫn còn.

Chuyện xưa kể lại, trước đây đất đai của ông Nghè rộng vô kể. Ông tổ của ông Nghè chính là vị Tiền hiền, hoang khai hóa, sáng lập nên vùng đất. Trong quá trình khai khẩn, ông phát hiện thấy hòn núi lạ, cho là điềm lành, bèn sai người dọn dẹp sạch sẽ, hương đèn kính cẩn. Tương truyền, cấm ông Nghè rất thiêng. Vào những đêm trời quang mây tạnh, không khí trong lành, hay có thần giáng hạ. Đó là một chùm sáng khi trắng, khi xanh, khi đỏ từ trên cao nhằm cấm sà xuống. Người dân trong vùng bảo có điềm lành, tiền báo cho một mùa lúa bội thu. Những người chặt cây, săn thú, bẫy đá ở cấm trước đây, về sau làm ăn không khá lên được, phần lớn số phận chìm nổi, nay đây mai đó. Trước mặt cấm là một tảng đá to bằng cái nhà. Trong cấm, ngay cổng ra vào, có cái miếu rêu phong cổ

kính, ngót trăm tuổi là miếu thờ bà Chúa Ngọc. Sau miếu Bà, chệch bên phải là miếu ông, nhỏ hơn và có năm tuổi ít hơn, thờ ông Mã Thái Giám. Lễ cúng được tổ chức định kỳ hàng năm vào ngày 20 tháng 3 âm lịch.

Phía sau miếu là một dãy núi bằng đá xếp hàng chồng lên nhau trông rất lạ mắt. Có đến trên trăm hòn đá to, đen, đủ các hình thù, được gọi là đá Con Cù, đá Thùng, đá Hang Cọp đá Bàn… Đứng trên hòn đá Bàn (hn đá cao nhất), nhìn thấy tận biển, vào những ngày nắng, trời trong xanh thấy cả tàu thuyền dập duềnh trên sóng. Từ những hòn đá kề cận nhau tạo ra vô số hang, hầm; mỗi hang, hầm có thể chứa đến mấy mơi người, trời nắng không thấy nắng, trời mưa không thấy mưa. Vào những năm ba mươi của thế kỷ XX đồng chí Nguyễn Nghiêm – Bí thư đầu tiên của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi – đã từng ở đây.

Cấm còn nhiều cây cối xanh tốt. Ngày xưa, có những cây to hai người ôm không xuể. Các loài chim, các giống thú rừng quý hiếm về đây làm tổ, đào hang, sinh sống. Nhưng do chiến tranh, cùng với sự chặt phá của con người, cảnh quan mất dần đi vẻ nguyên sinh vốn có.

Những thời khắc trong ngày mang đến cho cấm từng nét đẹp riêng biệt. Nhưng có lẽ đẹp nhất, huyền diệu nhất vẫn là những đêm trăng thanh gió mát, ánh trăng bạt ngàn trải thảm. Thấp thoáng trên những hàng cây là những hầm hố dài ngoằn, gấp gãy. Hòa quyện trong không gian u tịch là mùi hương trầm, hương thị, hương của vô số loài cây thơm ngào ngạt. Trai gái trong làng yêu nhau, thường dắt nhau ra đây để tình tự, thề non hẹn biển. Nghe nói mùi hương cây ở đây rất lạ, nam nữ hít vào là đời đời không thể rời xa nhau được. Thời ông Nghè, những nhà hiền triết,  những bậc túc nho, những bằng hữu tri âm tri kỷ xa gần quần tụ về đây uống rợu, uống trà để đàm đạo và làm thơ vịnh cảnh…

Tuy nhiên, cho đến nay, công tác bảo quản cấm còn rất hạn chế. Vài năm trở lại đây, cấm thường xuyên bị đe dọa bởi nạn chặt cây, phá đá, xâm lấn bừa bãi. Để cấm ông Nghè trở thành điểm du lịch sinh thái đầy ý vị, thiết nghĩ, các cấp có thẩm quyền cần đẩy mạnh hơn nữa công tác giữ gìn, bảo quản.

CAO CHƯ

 

Đèo Quán Thơm

Đèo Quán Thơm còn gọi là đèo Bà, thuộc địa phận thôn Thuận Hòa, xã Hành Thịnh, huyện Nghĩa Hành, cách thị xã Quảng Ngãi chừng 20 km về hướng tây nam theo đường chim bay.

Đèo không cao nhưng cây cối rậm rạp, đá chất đống dựng đứng. Dưới chân đèo là dòng sông Vệ chạy uốn khúc sâu thẳm, du khách khi nhìn xuống thấy chẳng khác nào con rồng lấp lánh vươn mình bay về phía biển Đông.

Người địa phương gọi đoạn sông Vệ lượn qua chân đèo này là khúc sông Ba Vực, bởi có ba vực nằm kề nhau. Vực phía trên, có cầu Cộng Hòa nối liền qua Phú Lâm. Vực phía dưới là bến đò An Chỉ – một bến sông có nhiều “tình sử”, được giới thi hữu đất Quảng đưa vào thi ca. Vực giữa nằm ở chân đèo, rộng và sâu hơn cả, nước xanh dờn, chảy xoáy hình xoắn ốc.

Độ sâu của vực nước dưới chân đèo không ước lượng được Trước đây, có một người thợ lặn, cột dây, nương gành đá lặn xuống và dặn người cầm dây trên thuyền; “thấy dây giật mạnh thì kéo lên “. Khi thòng xuống được gần 30 sải người trên thuyền thấy dây giật, liền kéo lên. Người thợ lặn mình mẩy bắt đầu tím, hô hấp chặp lâu mới tỉnh. Ông ta cho biết là chưa xuống tới đáy nhưng nước tối um, không thấy gì, càng xuống càng lạnh nên phải giật dây. Từ đó không ai dám lặn thử nữa.

Khúc vực sông này có nhiều cá to, nhất là cá lóc và cá gáy. Thỉnh thoảng có những con tranh (cùng loại ba ba) lớn như cái nia nổi bồng bềnh trên mặt nước.

Cụ Trần Khúc Lâm một người làm thơ ở địa phương có để lại chút tình viếng cảnh như sau:

Cẩm Thành mười cảnh dấu còn nêu

Này, Quán Thơm thêm một cảnh đèo.

Đá chởm, non xanh chân ngựa ruổi

Sóng dồn, vực thẳm tiếng gươm reo.

Di phương gió mát hồn Lê thị,.

Khuyến nghĩa y giăng sắc Nguyễn triều.

Mặc kẻ đuổi trâu lòng bấu víu

Ngồi nghe đá chải tiếng chim kêu.

Nhưng Quán Thơm nổi danh không chỉ vì dốc cao, cây lớn, đá dựng, vực sâu, cá to mà còn là do ngôi miếu trên lưng đèo. Theo lời các cụ già truyền lại thì miếu thờ bà Lê Thị Tân – một nữ tướng dưới triều Tây Sơn, không biết người ở tỉnh nào. Bà cùng chồng đi đánh giặc, ngộ chiến tại đèo này. Cuộc giao tranh khốc liệt từ sáng đến chiều, ngựa, kiếm không phút dừng; bỗng tóc bà xổ tung vướng phải binh khí và bà bỏ mình tại đây. Nhớ công đức hy sinh cao cả của bà, dân địa phương lập miếu thờ trên lưng đèo Quán Thơm. Còn bên kia sông (đèo Đá Bàng) là miếu ông. Miếu này được xây cất trên sườn đèo, mặt quay ra mặt sông Vệ. Người ta kể lại, trước kia trong miếu có thờ một mớ tóc và một hạt lúa to gấp ba lần hạt bình thường. Cứ mỗi năm vào lệ xuân – thu, làng sở tại làm heo bò đến tế lễ và ai có việc gì đến xin đều linh ứng. Sân miếu có cây đa to tỏa bóng ôm trùm ngôi miếu như chiếc lọng che.

Sau lưng miếu Bà chừng 100 m về phía đông nam, có một vũng lầy diện tích khoảng 5.000 m2, gọi là cái Sình, bùn sền sệt quanh năm, dù nắng hạn mấy cũng không khô. Theo truyền thuyết, vũng sình này có hang mạch thông ra vực sông trước miếu.

Hầu hết đá ở đèo đều dựng đứng nhưng vực dưới chân đèo có một hòn đá bằng phẳng, rộng chừng hai chiếc chiếu, nằm dài trên mặt nước, người ta gọi là hòn đá Chải.

Du khách đến thăm đèo vào mùa hè, ngồi chơi trên hòn đá Chải dưới bóng cây tỏa mát, hơi nước ướm vào da thịt rười rượi.

LÊ VINH BỔN