Lê Ngung ( ? – 1916)

Chí sĩ yêu nước chống Pháp, thuộc Việt-Nam-Quang-phục-hội, chưa rõ năm sinh, mất năm 1916, người làng Ðông Phước (nay thuộc xã Bình Thanh, Bình Sơn).

Thuở nhỏ, Lê Ngung học giỏi văn võ, tính tình khẳng khái. Năm 1906, ông tham gia Duy tân hội. Năm 1907, ông được chọn đi xuất dương nhưng bị lộ, phải ở lại. Mùa thu năm 1908, ông được cử đi cùng Trần Kỳ Phong ra liên lạc với Quảng Nam, gây lại phong trào chống thuế ở đây (phong trào chống thuế năm 1908 nổ ra ở Quảng Nam trước, nhưng bị địch dập tắt ngay. (Người cầm đầu là Ông Ích Ðường, con cụ Ông Ích Khiêm bị địch xử tử), làm hậu thuẩn cho Quảng Ngãi. Song ông bị địch bắt tại Hội An ngày 23.10.1908 (Theo báo cáo của công sứ Quảng Nam gởi Khâm sứ Trung kỳ ngày 27.10.1908) và bị kết án 6 năm tù giam tại Quảng Ngãi. Trong tù ông vẫn tìm cách chuẩn bị cho các hoạt động về sau. Mùa thu năm 1914, ra tù, ông liền vận động, tập hợp những người yêu nước như Nguyễn Công Phương, Nguyễn Quang Mạo, Lê Triết, Hứa Thọ, Mai Tuấn… tổ chức đội tân binh, lập ban vận động lương thực, vũ khí do bà Võ Thị Ðệ phụ trách, liên hệ với Việt-Nam-Quang-phục-hội các tỉnh… để chuẩn bị khởi nghĩa. Tháng 12.1914, Lê Ngung viết thư cho Thái Phiên (Quảng Nam) đề nghị bạo động, nhưng các ông Thái Phiên, Nguyễn Thụy chưa đồng tình. Tháng 2.1915, các đại biểu Quảng Nam, Quảng Ngãi họp tại Ðà Nẵng nghe Bùi Phụ Ðặc (Bùi Phụ Thiệu) và Nguyễn Công Mậu thông báo kết quả chuyến đi Xiêm liên lạc với Việt Nam Quang phục hội ở hải ngoại và bàn việc sắp tới. Trong hội nghị này,ông lại đề nghị tiến hành bạo động, nhưng không được chấp thuận, mà phải gấp rút tăng cường lực lượng, chờ thời cơ. Ông được phân công cùng Nguyễn Thụy xây dựng phong trào ở Quảng Ngãi. Ông cũng được giao tu chỉnh lời hịch khởi nghĩa của vua Duy Tân (do Võ Hàng soạn thảo) để Trần Cao Vân tiếp kiến nhà vua, vận động yua tham gia chống Pháp cứu nước. Từ sau hội nghị tháng 2.1915, phong trào ở Quảng Ngãi phát triển khá mạnh: một vùng căn cứ từ Minh Long đến Ba Tơ, lên tận Mang Ðen (Kon Tum), vào tận An Ðỗ (Bình Ðịnh) được thông suốt. Các cơ sở yêu nước trong nhân dân và binh lính địch đã khá hơn trước. Tháng 6 năm ất mão 1915, nhân Pháp thua Ðức ở châu Âu, các nhà lãnh đạo hội ở Quảng Ngãi cho rằng thời cơ khởi nghĩa đã dến. Lê Ngung viết thư cho Thái Phiên (lãnh đạo hội ở nam Trung kỳ ) đề nghị cho gấp rút khởi sự và đã được chấp thuận, chủ trương cho tất cả các tỉnh gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa. Tháng 3 năm Bính thìn 1916, các nhân vật trọng yếu của Việt-Nam-Quang-phục-hội ở Trung kỳ họp tại làng Xuân Yên (Bình Sơn) bàn kế hoạch khởi nghĩa. Lê Ngung cùng với Nguyễn Thụy, Phạm Cao Chẩm được phân công chỉ huy khởi nghĩa ở Quảng Ngãi. Ông đã chuyển cơ quan tổng chỉ huy của mình đến làng Sung Tích, bờ bắc sông Trà, đối diện với tỉnh thành ở bờ nam. Nhưng chiều ngày 29.3 Bính thìn (1.5.1916) do sự bất cẩn của một cơ sở cuộc khởi nghĩa bị lộ. Nguyễn Thụy, Trần Thêm, Võ Cẩn, Võ Cư, Mai Tuấn, Hứa Thọ đều sa vào tay địch và bị xử chém. Lê Ngung về nhà hủy tài liệu xong, uống thuốc độc tự tử nhưng sau đó, thực dân Pháp vẫn chặt đầu ông bêu ở thành Quảng Ngãi (Bùi Ðịnh – tr.94).

Cuộc khởi nghĩa ở Huế và Quảng Nam cũng chịu số phận tương tự.

(Theo Quảng Ngãi, Ðất nước – Con người – Văn hóa) 

 

Advertisements

Lê Văn Duyệt (1764-1832)

Lê Văn Duyt, t tích nguyên quán B Ð, M Ðc, Qung Ngãi. Ni t là Ông Lê Văn Hiếu thiên cư và vào min thôn dã gn Vàm Trà Lt (sau thuc làng Hoà Khánh, tnh Ðnh Tường). Cha là ông Lê Văn Toi sinh được 4 con trai. Lê Văn Duyt là con trưởng sinh vào năm Giáp Thân (1764) ti Vàm Trà Lt. Sau khi ông Lê Văn Hiếu qua đi, đi gia đình cư trú ti vùng Rch Gm bên rch ông H, nay thuc làng Long Hưng (Ðnh Tường).

 lang_ong1

 

Lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt – Ảnh Trần Trọng Uyên, 8/2003

Lúc mi sinh, Lê Văn Duyt b tt n cung (không có b máy sinh dc), thân hình ngn, tính khí thâm trm, dũng mãnh, sc khe khác thường. Ông ít bn bè li không ham hc văn mà ch chung võ. Sut ngày, ngoài vic tp luyn võ ngh, ch lo làm by, làm gi bt chim, đánh cá; đc bit say mê thú nuôi gà nòi.

Khi 14, 15 tui thường than rng: “sinh đi ly lon mà không kéo trng, cm c làm đi tướng đ lưu công danh s sách thì không phi là trai”.

Năm 1780, Lê Vãn Duyt được chúa Nguyn tuyn làm Thái Giám, sau thăng Cai Cơ cai qun hai đi quân thuc ni thành, có công bo v chúa Nguyn trên đường phc quc t Phú Quc qua Xiêm La v Sài Côn cho đến ngày đt Ðng Nai thuc v chúa Nguyn (1789).

Lê Văn Duyt thường theo d chiến trn, cùng các tướng bàn lun vic dng binh, có nhiu ý kiến xác đáng. Nguyn Vương t ý đp lòng. Lê Văn Duyt bèn xin chiêu m binh sĩ theo v cánh T quân, phng mnh ra đánh Quy nhơn có công ti mt trn Úc Sơn được thăng làm thuc ni v úy, thuc đi Thn Sách quân.

Ðu năm t Mão (1795), đem quân cu vin Diên Khánh, đưa đi quân qua sông đánh h đn, Lê Văn Duyt được ci phong V úy Diu Võ, li đi làm Chánh Thng T Ðn ca đo quân Thn Sách trn th Diên Khánh thành.

Ðu năm K Mùi 1799, Lê Văn Duyt đem quân án ng Bình Ðê ngăn vin binh Tây Sơn. Quân ca Thiếu Phó Trn Quang Diu và Tư Ð Võ Văn Dũng khôngtiếp vin được phi lui v Thanh Ho, M Ðc, vì thế thành Qui Nhơn b h. Nguyn Vương cho đi Quy nhơn thành là Bình Ðnh thành.

Tháng Chp năm K Mùi 1799, thành Bình Ðnh b quân Tây Sơn vây cht. Mùa Xuân Canh Thân 1800, Nguyn Vương cùng Lê Văn Duyt đem binh ra cu vin Quy Nhơn, dùng ha công đánh tan thu quân Tây Sơn ti ca Th Ni.

Sau chiến thng Th Ni, Nguyn Vương theo li khuyên ca Lê Văn Duyt y theo kế ca Võ Tánh ra đánh Phú Xuân. Lê Văn Duỵệt và Lê Cht điu khin thy quân tin phong c thng, bt được Phò Mã Tr và hơn 500 tù binh và do ca Thun An thng tiến đến kinh thành Huế. Sáng ngày 3 tháng 5, Tân Du 1801, Vua Cnh Thnh Nguyn Quang Ton ca Tây Sơn ri Phú Xuân chy ra Bc Hà. Vào chiu cùng ngày, chúa Nguyn Phúc Ánh bước lên b sông Hương sau 6 năm lưu lc.

Sau đó, Lê Vãn Duyt được vua đc bit ban thưởng mt chiếc trng trn và c trn đ tăng uy điu khin ba quân cùng Lê Cht, Tng Viết Phước đâ phá quân Tây Sơn, t ca bin M ý tn công bt thn, đi thng quân Tây Sơn tiến và ra Bình Ðnh khc phc được thành này năm 1802.

Lê Văn Duyt được phong tước Qun Công tháng 5 năm Nhâm Tut. Li được thăng Khâm Sai Chưởng T quân dinh Bình Tây Tướng Quân cùng Lê Cht tin phong đánh Bc Hà đến tháng 10 thì thâu phc được thành và đi tên là Bc Thành ri ban sư.

T năm 1803 đến 1808, Lê Văn Duyt 3 ln lãnh s mng dp gic Thượng H’Re, có ln đóng quân ti Trà Khúc.

Năm Gia Long th 11 (1812), Lê Văn Duyt vâng ch vào tun vãng Qung Ngãi, sau đó được vua triu v lãnh chc Tng Trn Gia Ðnh giao tùy nghi gii quyết v Xiêm La và Chân Lp.

Năm 1813, Lê Văn Duyt dn 13.000 quân theo đường bin đưa vua Chân Lp Nc Ông v c đô La Bích, sai quân đp dùm vua Chân Lp kinh thành Nam Vang vng chc đ phòng th. Sau khi an đnh, Lê Văn Duyt lưu Nguyn Văn Thoi thng lĩnh 1.000 quân li giúp vua Chân lp.

Năm 1815, Lê Văn Duyt phng ch v triu lãnh s mng – dp gic Thượng H’Re ln th tư. Sau khi bình đnh ông cho đp trường lũy chy dài sut t huyn Hà Ðông (Tam Kỳ) qua Qung Ngãi đến Bng Sơn (Bình Ðnh). Sau đó cùng L B Thượng Thư Phm Ðăng Hưng đng th C Mng (Di Chiếu ca vua) y cho ông gm coi 5 đo quân cơ thuc đo Thn Sách quân.

Năm Minh Mng nguyên niên (1820), Lê Văn Duyt li phng mng lãnh chc Gia Ðnh Tng Trn dp gic yên Cao Miên. Ly c bo h Cao Miên và đ phòng s xâm ln ca Xiêm La, ông cho sa đp con đường t Sai Gòn lên Gò Du, Tây Ninh cho lc quân d dàng di chuyn đến biên gii Xiêm La; đường bin thì cho đào kinh Vĩnh Tế t Châu đc qua Hà Tiên đ thùy quân đ dàng vn chuyn. D đnh đánh Xiêm la chưa thành thì ông lâm trng bnh phi đem quân tr v Gia Ðnh.

Năm 1824 và 1831, ông đã hai ln dâng s xin t chc nhưng vua Minh Mng không nhn li. Cho đến đêm 30 tháng 7 Nhâm Thìn (1832) ông t trn ti Trn thành hưởng th 69 tui

Là mt người có đi công vi nhà Nguyn nhưng lúc nào ông cũng mt lòng cương trc liêm chính, trung thành đt quyn li đt nước lên trên tt c Ðã có ln ông x t Huỳnh Văn Lý, phó Tng Trn thành Gia Ðnh v ti tham tàn, sách nhiu dân chúng, mc du Lý có con gái là sũng phi ca vua Minh Mng.

Ông cũng là mt nhà ngoi giao tài ba giúp Cao Miên, Ai Lao không b quân Xiêm La thôn tính. Ông cũng được s n phc ca nhng người Anh Cát Li và M đu tiên đt chân đến Vit Nam.

Lăng ca ông đt ti Qun Bình Thnh, Thành ph H Chí Minh và đó là nơi được nhiu người đến hành l hàng năm vào dp đu xuân.

(Theo Non nước Xứ Quảng)

 

Lê Tựu Khiết (1857 – 1908)

Chí sĩ yêu nước trong phong trào Duy tân chống Pháp, sinh 1857, mất năm 1908, hiệu Dương Phong, tự Huy Thanh, sinh trưởng trong một gia đình quan lại nhỏ, quê làng An Ba (nay thuộc xã Hành Thịnh, huyện Nghĩa Hành.

Lê Tựu Khiết có tư chất thông minh, đỗ Cử nhân năm 1882. Ông từng là thuộc hạ của Nguyễn Thân, từng làm quan đến chức Bố chánh (nên thường gọi là Bố Khiết), sau chứng kiến nhiều tội ác của quan lại thực dân, lại đọc được “Việt Nam vong quốc sử” của Phan Bội Châu có đoạn lên án mình, ông tỉnh ngộ .

Ông từ quan trở về tỉnh nhà, tham gia Duy tân hội với phong trào “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” do Lê Ðình Cẩn chủ xướng ( 1904 – 1908).

Ông mở hiệu thuốc Quảng Tri ở cửa tây tỉnh thành làm nơi liên lạc của Nghĩa hộị Duy tân. Khi phong trào khất thuế cự sưu của Quảng Ngãi bắt đầu lan rộng (đầu năm 1908), hội Duy tân họp bàn kế hoạch lãnh đạo và ông được giữ vai trò lãnh đạo phong trào (như tài liệu Indochine SOS Ðông Dương nguy cấp – của bà André Viollis có ghi). Phong trào ngày càng sục sôi mãnh liệt. Ngày 7.4.1908, địch lập kế mời Lê Tựu Khiết vào thành thương thuyết rồi bắt ông. Công sứ Quảng Ngãi Ðô-đê (Daudet) buộc ông lên mặt thành kêu gọi dân chúng giản vòng vây, nhưng ông cương quyết chối từ. Nguyễn Thân (anh em bạn dì với ông) tố giác ông và Nguyễn Bá Loan là những người khởi xướng phong trào. Ngày 24.3. 1908, Pháp xử chém ông và Nguyễn Bá Loan tại bờ xe nước phía Ðông tỉnh thành.

Ðặng Bằng Ðoàn trong tập “Việt Nam nghĩa ìiệt sử” đã ca ngợi khí tiết của ông trước khi chết. Phan Bội Châu cũng làm thơ viếng ông. Ông được đưa về an táng tại quê nhà. Sau cách mạng tháng 8.1945, tên ông được đặt cho tên một trường trung học nổi tiếng của khu V: trường trung học Lê Khiết.

(Theo Quảng Ngãi, Ðất nước – Con người – Văn hóa) 

 

Nguyễn Tự Tân (1848 – 1885)

Chí sĩ yêu nước chống Pháp, sinh năm 1848, mất năm 1885, người làng Trung Sơn (nay thuộc xã Bình Phước, huyện Bình Sơn).

Năm 18 tuổi (1867), Nguyễn Tự Tân thi đỗ Tú tài, nhưng tính tình khẳng khái, cương trực, không muốn đi thi tiếp, cũng không ra làm quan. Ông cùng Nguyễn Thông, Bố chánh Quảng Ngãi (1869 – 1872) và nhiều sĩ phu yêu nước khác tích cực chuẩn bị lực lượng chống Pháp. Ông vận động nhân dân Bình Sơn đến khai hoang vùng Tuyền Tung (phía tây bắc huyện Bình Sơn ngày nay) có đường thông với Trà Bồng, Cờ Tung, Trà Mi và nhiều châu miền núi Quảng Nam. Từ những năm 1871-1872, Tuyền Tung là vùng khai thác kinh tế nhưng bên trong là một căn cứ địa có tổ chức chu đáo.

Nguyễn Tự Tân liên hệ với Nguyễn Duy Hiệu – về sau là người cầm đầu phong trào Cần vương Quảng Nam – và được đưa đến Tam Kỳ thăm đồn Mỹ Lý và trại khai mỏ, luyện sắt đúc khí giới. Ông trở về tổ chức khai thác quặng sắt ở Phước Bình, tục gọi Lò Thổi (nay thuộc xã Bình Khương), bí mật rèn vũ khí cất giấu vào kho dọc núi Ngũ Chỉ (giáp ranh Quảng Nam, do Chuyển vận sứ Phan Văn Bình, thân phụ Phan Chu Trinh phụ trách). Qua Nguyễn Duy Cung, Nguyễn Tự Tân còn liên lạc với các sĩ phu yêu nước Bình Ðịnh như Mai Xuân Thưởng, Nguyễn Cang để phối hợp hành động.

Từ cuối 1884 đến đầu 1885, Nguyễn Tự Tân cùng các sĩ phu yêu nước tổ chức hương binh do Lê Trung Ðình làm Chánh quản, ông làm Phó quản, lấy Tuyền Tung làm chiến khu và vận động binh lính trong thành Quảng Ngãi hỗ trợ.

Ngày 13.7.1885 (tức 1.6 ất dậu) tiếp được chiếu Cần vương, ông cùng Chánh quản Lê Trung Ðình tổ chức đánh chiếm thành Quảng Ngãi. Sau đó cuộc khởi nghĩa thất bại, ông bị tên Việt gian Nguyễn Thân bắt chém tại trận. Ðầu ông bị bêu 3 ngày ở cửa Bắc, sau vợ ông mới đưa về quê ghép với xác để chôn cất.

Ông cùng với Lê Trung Ðình là người đóng vai trò quan trọng trong việc gây dựng cơ sở và mở đầu cho các phong trào kháng Pháp liên tục, kiên cường của nhân dân Quảng Ngãi về sau.

(Theo Quảng Ngãi, Ðất nước – Con người – Văn hóa) 

 

 

Nguyễn Bá Loan (1857 – 1908)

Chí sĩ yêu nước chống Pháp của phong trào Cần vương và phong trào Duy tân, sinh năm 1857, mất năm 1908, là con của đại thần Nguyễn Bá Nghi, người làng Lạc Phố (nay thuộc xã Ðức Nhuận, huyện Mộ Ðức), tục gọi ấm Loan.

Trong cuộc khởi nghĩa Cần vương tháng 7.1885 ở Quảng Ngãi, Nguyễn Bá Loan phụ trách cánh quân ở Mộ Ðức. Khi nghĩa quân đã chiếm được tỉnh thành, ông đi Mộ Ðức tập hợp hương dũng và huấn luyện quân sĩ. Ðược tin Nguyễn Thân phản bội chiếm lại thành Quảng Ngãi, ông liền dẫn quân lên chiếm sơn phòng (nay gần cây số 7, đường Thạch Trụ – Ba Tơ). Nguyễn Thân kéo vào bao vây sơn phòng, ông rút quân về căn cứ dự phòng để bảo toàn lực lượng. Ông hợp quân với Nguyễn Tấn Kỳ rút ra căn cứ Tuyền Tung, sau đó ông lại hợp nhất lực lượng với nghĩa quân Quảng Nam do Nguyễn Duy Hiệu và Nguyễn Hàm lãnh đạo. Tháng 8. 1885, nghĩa quân Nam – Ngãi tấn công Nguyễn Thân ở mạn nam huyện ly Bình Sơn, quân Thân thiệt hại nặng, tướng giặc Nguyễn Thuyên bị giết, Thân phải đốt cầu mà chạy. Thân chạy vào Qui Nhơn xin thêm súng Pháp, dựa vào quân sơn phòng tấn công nghĩa quân. Lực lượng nghĩa quân yếu dần và tan rã.

Nguyễn Bá Loan vào gặp thầy học là Nguyễn Duy Cung và liên lạc với Mai Xuân Thưởng (Mai Xuân Thưởng – lãnh đạo phong trào Cần vương Bình Ðinh) để thống nhất lực lượng chống Pháp. Trở về, ông chia quân làm 3 đội: đội do Ðỗ Ðiệt chỉ huy chiếm giữ núi Tai Mèo (Mộ Ðức) để bao vây sơn phòng, đội do Bùi Ðiền chỉ huy ra La Hà (Tư Nghĩa) để phối hợp đánh ra tỉnh thành, đội do dích thân ông ngược sông Vệ đánh thọc sâu vào quân sơn phòng. Thời điểm tấn công vào tháng 2.1886. Kế hoạch không thành do Nguyễn Thân bất ngờ tấn công quân của Ðỗ Ðiệt và tiếp tục phản kích, khiến nghĩa quân ngày càng suy yếu. Nguyễn Bá Loan dẫn quân vào Bình Ðịnh hợp với Mai Xuân Thưởng chiến đấu. Năm 1888, Mai Xuân Thưởng hy sinh, ông cũng biệt tích, mãi đến năm 1905 mới trở lại quê nhà (Trong những năm 1888 – 1905. Nguyễn Bá Loan cùng Tãng Bạt Hổ sống ở khu dinh điền của Nguyễn Thông ở Phan Thiết, sau đó ông vào Ðồng Nai dạy học).

Qua Lê Viết Hòa (quê xã Ðức Chánh, Mộ Ðức. tham gia phong trào Cấn vương. khất thuế), Nguyễn Bá Loan gặp Lê Ðình Cẩn.  Và gia nhập hội Duy tân mới nhóm lên ở Quảng Ngãi. Ông đến làng Tình Phú (nay là Hành Minh, Nghĩa Hành) xây dựng nông trại, dạy chữ quốc ngữ, thực hiện “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, ủng hộ việc cử người liên hệ với Phan Bội Châu để học tập kinh nghiệm và mua sắm vũ khí chuẩn bị khởi nghĩa. Năm 1907, Lê Ðình Cẩn sa lưới giặc, ông đảm nhiệm vai trò lãnh đạo hội.

Ngày 24.3.1908, nhân dân Bình Sơn kéo vào tỉnh thành đưa đơn xin khất sưu thuế, mở đầu phong trào “cự sưu khất thuế” rầm rộ, Hội Duy tân họp bàn, cử người vào Bình Ðịnh, Phú Yên để phối hợp hành động. Nguyên Bá Loan cùng Phạm Tiên (Sơn Tịnh), Phạm Mỹ (Tư Nghĩa) được cử vào ban lãnh đạo cuộc đấu tranh. Việc bại lộ, ông về trại canh nông Tình Phú để triển khai công việc thì bị tay sai Pháp bắt ngày 7.4.1908.

Sau hơn hai tuần giam cầm, tra tấn, sáng ngày 24.3.1908, thực dân Pháp xử chém ông và một số nhà lãnh đạo phong trào tại bờ xe nước phía đông tỉnh thành. Thi thể của ông được các cộng sự thân tín còn lại như Lê Viết Hòa, Nguyễn Công Phương chuyển về mai táng ở trại canh nông Tình Phú.

(Theo Quảng Ngãi, Ðất nước – Con người – Văn hóa) 

 

Nguyễn Duy Cung (1839 – 1885)

bai-vi-nguyen-duy-ngungChí sĩ yêu nước chống pháp, hiệu Văn Giang, sinh năm 1839, mất năm 1885, người làng Vạn Tượng (nay thuộc xã Nghĩa Dũng, thị xã Quảng Ngãi).

Nguyễn Duy Cung nổi tiếng học giỏi từ thuở nhỏ, đỗ Cử nhân năm 1868. Sau khi đậu Cử nhân, ông ở nhà mở trường dạy học, trở thành nơi gặp gỡ của các trí thức yêu nước bấy giờ như Lê Trung Ðình, Nguyễn Bá Loan… Nguyễn Duy Cung tiếp xúc với Bố chánh Quảng Ngãi Nguyễn Thông và cùng một số sĩ phu yêu nước khác bí mật lập Nghĩa hội để chuẩn bị chống Pháp.

 

Năm 1870, Cử Cung được bổ chức Hành tẩu tại kinh đô nhưng vốn tính cương trực phải trải qua tập sự đến 9 năm. Năm 1879, ông được cử về Quảng Ngãi giữ chức Bang biện Sơn phòng Nghĩa-Ðịnh và đến 1881 thì được thăng Thương biện Sơn phòng. Ông càng có điều kiện giúp Lê Trung Ðình, Nguyên Tự Tân, Nguyễn Bá Loan, Nguyễn Tấn Kỳ… xây dựng lực lượng Nghĩa hội, sẵn sàng đánh Pháp. Cuối năm 1884, ông bí mật cử Lê Trung Ðình và Nguyễn Bá Loan ra kinh đô Huế gặp Tôn Thất Thuyết nhận chỉ thị. Cũng theo đề xuất của ông, Tôn Thất Thuyết điều ông Nguyễn Tạo (người An Ðại, Phổ Hòa, Ðức Phổ) đang làm Tri huyện Ðoan Hùng (Sơn Tây) về làm Tiểu phủ sứ Sơn phòng Nghĩa – Ðịnh, để gấp rút chuẩn bị đánh Pháp. Năm 1885, ông lại được Tôn Thất Thuyết điều vào Bình Ðịnh cũng với mục dích trên. Tại đây ông bí mật liên lạc với một số quan lại văn thân yêu nước, xây dựng lực lượng Nghĩa hội.

Ngày 5.7.1885, kinh thành Huế thất thủ. Ngày 13.7.1885, cuộc khởi nghĩa của Lê Trung Ðình, Nguyễn Tự Tân ở Quảng Ngãi giành được thắng lợi nhưng chỉ sau 4 ngày đã thất bại. Nguyên Duy Cung hội bàn với quan lại ở tỉnh thành Bình Ðịnh tổ chức phòng thủ chống Pháp. Ông thân hành chỉ huy phòng tuyến từ Cầu Gành (An Nhơn) đến núi Chớp Vung (Phù Mỹ) để ngăn chặn giặc Pháp tấn công tỉnh thành từ phía biển, kêu gọi các sĩ phu, văn thân và nhân dân đứng lên chống Pháp. Ðầu tháng 8.1885, giặc Pháp và tay sai đánh chiếm thành Bình Ðịnh. Tuyến phòng thủ bị vỡ, lực lượng chống Pháp phải rút về tỉnh thành. Quân Pháp và tay sai bao vây tỉnh thành. Nguyễn Duy Cung đưa quân về vùng rừng núi An Nhơn (tức An Khê) để bảo toàn lực lượng chống Pháp. Nhưng sau đó, ông quyết định trở về tỉnh thành tổ chức chống Pháp đến cùng. Tổng đốc Bình Ðịnh Lê Bá Thận cho bọn thủ hạ bắt giam Nguyễn Duy Cung và mở cứa thành đón giặc Pháp. Ðịch dụ dỗ Nguyễn Duy Cung đầu hàng hòng tiêu diệt ngọn cờ chống Pháp của văn thân, sĩ phu Bình Ðịnh, nhưng không thể lay chuyển được chí khí của ông. Ông tuẩn tiết ngày 30.6 Ất dậu (12.8.1885) tại thành Bình Ðịnh. Trước khi chết, ông lấy máu mình viết bản Huyết lệ thư bằng chữ Hán trên vạt áo dài trắng ném ra ngoài thành để kêu gọi tiếp tục chống Pháp. Linh cửu của Nguyễn Duy Cung được đưa đón trọng thể về an táng tại quê nhà.

(Theo Quảng Ngãi, Ðất nước – Con người – Văn hóa) 

 

Đoàn Khắc Nhượng

Danh sĩ dưới triều Nguyễn, chưa rõ năm sinh, năm mất, quê quán làng Nhơn Hòa, nay thuộc xã Bình Tân, huyện Bình Sơn.

Trong khoa thi hương Bính ngọ 1846, Đoàn Khắc Nhượng và cả người anh con bác ruột của Đoàn Khắc Nhượng là Đoàn Duy Trinh cùng thi đỗ Cử nhân. Sau này con là Đoàn Thúc Vĩ đỗ cử nhân khoa Giáp ngọ 1894. Ông Vĩ sau làm rể Đông các Đại học sĩ Trương Quang Đản ở Mỹ Khê. Cả bác là Đoàn Duy Trinh và cháu là Đoàn Thúc Vĩ đều nhận chỉ được một chức học quan (giáo thụ, huấn đạo) trong một thời gian ngắn rồi cáo về. Con dâu của Đoàn Duy Trinh là Võ Thị Đệ (1) (tức cháu dâu gọi Đoàn Khắc Nhượng bằng bác) là một người phụ nữ giàu lòng yêu nước và đầy bản lĩnh khi đem cả tài sản, sức lực và có lẽ cả thế lực nhà. chồng ủng hộ cho phong trào Cần vương, Duy tân ở Quảng Ngãi và được suy tôn là “Hộ quốc Mẫu nghi”.

Đỗ cử nhân vào cuối triều Thiệu Trị, Đoàn Khắc Nhượng đã bắt đầu hành trình hoạn lộ của mình vào đầu triều Tự Đức: Song một trong những cái mốc khiến tên tuổi ông nổi lên là năm 1878 – năm ở Quảng Ngãi bị hạn nặng, tiếp đến lại bị trận lụt lịch sử mà các nhà nho gọi là “Lụt bất quá” và dân chúng Nam – Ngãi lâm vào cảnh đói nghiêm trọng, triều đình đã phải cách chức hàng loạt quan đầu tỉnh, cử Hoàng Diệu làm Khâm sai vào Quảng Nam, Đoàn Khắc Nhượng làm Khâm phái vào Quảng Ngãi để trực tiếp tổ chức chỉ đạo việc cứu đói cho dân. Tình cảnh xã hội Nam – Ngãi lúc này vô cùng phức tạp: nạn đói diễn ra trên diện rộng, đạo tặc nổi lên quấy nhiễu ở nhiều nơi, lại thêm người Tàu tuồn bạc giả vào, trong bối cảnh thực dân Pháp đã đánh chiếm một phần nước ta, khiến xã hội càng thêm phức tạp. Hoàng Diệu cũng như Đoàn Khắc Nhượng đã ra sức cứu tế dân, ổn định tình hình cho mãi đến cuối năm 1879 mới tạm ổn. Sau này Hoàng Diệu được điều chuyển tới trấn nhậm ở Bắc bộ. Còn Đoàn Khắc Nhượng thì từ tháng 3.1879 được bổ làm Tuần phủ Nam – Ngãi. Ghi nhận về những đóng góp của Đoàn Khắc Nhượng trong công cuộc cứu đói ở Quảng Ngãi 18781879 được ghi rõ trong sách Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng như trong Bài vè Lụt bất quá được xem là của tú tài Phan Thanh.

Vua Tự Đức từng ban khen: “Thanh như Lượng, khiêm như Nhượng, thiên hạ hà hữu bất trị” (Thanh liêm như Lê Trung Lượng, khiêm cung như Đoàn Khắc Nhượng, thiên hạ lo gì không yên).

Năm 1881, Đoàn Khắc Nhượng về hưu. Có lẽ ông mất sau năm 1885.