LÀNG AN CHỈ

HƯƠNG  ƯỚC  LÀNG  AN  CHỈ

TỔNG  HÀNH  THƯỢNG, HUYỆN  NGHĨA  HÀNH

 

An Chỉ, ngày 20 tháng 5 năm 193[…]

 

Chúng tôi là viên, kỳ, hào lý hương chức và dân làng An Chỉ, tổng Hành Thượng, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.

 

Tuân theo lời hiển sức, hội đồng châm chước theo tục lệ di truyền từ xưa và trình độ ngày nay lập thành bản hương ước có tiết mục điều thứ như sau này:

 

TOẠ THỨ

 

Khoản thứ 1:  Toạ thứ nhì có bản hương ẩm, chiếu theo phẩm hàm cao thấp, niên xỉ lớn nhỏ hoặc có công lao với làng, cùng không công lao mà định chỗ ngồi trước sau, người nào không theo hương ẩm thì phải phạt 0$20.

 

TIẾT  TƯ

 Khoản thứ 1:  Trong làng có một cái đình ở về bộ Cây Sung thờ thần (thần hoàng) có sắc phong và có bốn cái dinh cũng có sắc phong và có một cái nghĩa từ, thường năm có lệ tế xuân một lần; lễ tế xuân dùng heo, bò đều sáu con và phẫm nghi 35 $00, kỷ niệm và tam nguyên dùng lễ nghi hết 5$00.

 

Khoản thứ 2:  Có đặt một người chủ bái đứng tế, tế rồi đãi xong còn huệ nhục thì đầu heo kỉnh chủ bái, nọng heo kỉnh lý trưởng, tiền hậu hiền kỉnh một tộ 3 phân rưỡi, người dự tế kỉnh 2 phân rưỡi, những người có công lao hay quyên cũng kỉnh 2 phân rưỡi, thủ sắc, thủ bổn cũng kỉnh vai heo đều một cái.

 

ĐIỀU KHOẢN VỀ VIỆC CỨU HOẢ

 Trong làng thường hay xảy ra hoả nạn, nay làng đặt thêm một đoàn phu cứu hoả, làng sẽ lựa những dân tráng mạnh bạo để nhập vào đoàn; đoàn phu ấy giao cho hương kiểm kiểm soát, làm 2 bản kê tên những dân đoàn; một bản trình quan địa phương, một bản lưu chiếu tại làng; hương kiểm phải chiếu theo sức dân tỉnh số 8152 […] đã có giao về cách chữa lửa mà chia cho mỗi tên phu đoàn một công việc nhứt định trong khi cứu hoả. Khi nghe tiếng trống báo tin có hoả nạn thời những người lân cận phải đến dùm giúp ngoại, phu đoàn có mắc việc gì cũng phải chạy đến liền.

 

Còn đồ khí cụ cứu hoả thời làng phải chiếu theo sức văn nói trên và sắm cho đủ đồ như: trống, sao có tra câu liêm, thang tre, thùng không, hay thùng tre sơn dầu rái, gàu múc nước có tra cán dài độ 5 thước tây, bao bố hay chiều củ. Cuốc xẻng v.v…

 

Dân đoàn nào khi nghe tiếng trống mà không đến, làng xét không có duyên cớ chính đáng thời phạt 0$20 đến 1$00; còn trong khi cứu hoả, người nào can đảm cứu hoả giỏi, hay cứu người thời làng sẽ ban khen thưởng bạc 1$00.

 

Khoản thứ 1:  Khánh điếu khoa vọng hôn lễ, những ngừoi có lao cán với làng, gặp khi có sự khánh hạ (như thăng hoa, tấn chức) làng để mừng một câu đối, hoặc trà rượu 2$00, lễ điếu thì 0$50, hương chức khánh điếu 0$40, dân tráng khánh điếu 0$30, dân ngoại tịch khánh điếu 0$20.

 

2)  Trong làng bất cầu trong nhà người nào có người nào chết phải trình cho làng hay, bịnh đau thường hay bất thường, và trong 24 giờ, phải trình với hương bộ, để ghi vào bộ tử, người nào không tuân hương lệ, thì phạt 0$20.

 

Khoản thứ 2:  Tang chủ có xin dân trợ tấn thì làng cho hương dịch bắt dân cho đủ, người dân nào xét không co duyên cớ gì chính đáng mà không đi thì phạt 0$20, tiền ấy trước vào sổ thâu, hoặc phạt dịch một ngày để trông cây trong vườn đình, để răn người khác.

 

4)  Còn sự làng đưa đón (cờ trống kèo lọng nhiều ít) tùy theo hạng người.

 

5)  Còn nhà nghèo chết, không xin dân thời đương chức dịch cũng phải một, hai người đến vào đưa một cái kiểng để gọi là lễ tống biệt

 

6)  Tán xong bất luận giàu hay nghèo chỉ tạ làng một bàn trầu rượu mà thôi.

 

Khoản thứ 3:  Hôn lễ thì tùy hai bên sui gia định liệu, nhưng không được sách bức về sự tiền bạc, trang liêm quá nhiều và không được để từ khi nói đến khi cưới quá 6 tháng, nhưng trừ khi nào gặp trường hợp bất thường ngoại.

 

7)  Những lúc làm lễ cưới phải có tờ chứng thơ kê những trang liêm và lễ vật, chứng thơ ấy hai sui gia đều cấm lễ thành hôn.

 

Nội trong tám ngày thời đến khai vơi hương bộ vào bộ hôn thú.

 

TIẾT THỨ 4:  KIỀM PHÒNG ĐỘNG TỊNH VIỆC TRỘM CƯỚP BA LỢI NGOÀI ĐỒNG

 

1)  Về việc kiềm phòng làng không có địa phận dân ở tản tác làng, sự kiềm phòng theo các làng sở tại. Kiểm cố, hương kiểm, chỉ kiểm trong sở đình từ.

 

2)  Người trong làng làm điều gì trái lẽ, hoặc gian đạo mà bị sở tại bắt phạt, xét quả làng lại phạt nữa, cấm dân trong làng không được tụ đảng, tụ tập hoặc làm mất trật tự, nếu người nào không tuân hương lệ, thì bắt phạt 0$20 hoặc phạt dịch một ngày để quét dọn trong vườn đình, hay trồng cây ở vườn làng.

 

TIẾT THỨ 5:  CÔNG ÍCH CÔNG LỢI, VỆ SINH CÔNG CỘNG, SỬA SANG ĐƯỜNG SÁ CẦU CỐNG, VỆ NÔNG, CỨU TAI.

 

TRUẤT NẠN  –  HỌC HÀNH  –  GIÁO DỤC.

 

1)  Về sự công ích mỗi năm đến tháng tám, bắt dân tư ích trồng cây có ích ở nơi vườn đình.

 

2)  Về sự cứu tai truất nạn, trong làng ai có bị tai nạn thời làng truất của công nhu 0$50 để giúp chi người ấy, tiền ấy ghi vào sổ chi.

 

3)  Về sự học hành giáo dục, con nít trong làng từ 7 tuổi trở lên đều phải tới trường học tập, trò nào đậu được bằng yếu lược làng thưởng 0$30, trò nào đậu được bằng tiểu học Pháp Việt làng thưởng bạc 0$60, còn đậu cao lên chiếu theo đó mà thưởng cấp, tiền ấy ghi vào sổ chi để khuyến khích.

 

4)  Những kẻ tử đệ đã ra trường học rồi, trong nhà phải nghe lời dạy bảo của phụ huynh và tộc biểu, không được làm điều gì du đãng, phóng tứ, đứa nào bất tuân, do ban hội đồng xét phạt (bạc thời 0$20 đến 1$00) hay phạt dịch 1 ngày đến 5 ngày.

 

 

TIẾT THỨ 6:  QUẢN PHÂN ĐIỀN THỔ

 

1)  Làng có ruộng tư của làng được 4 mẫu cho người làm lãnh cày, đồng niên trả lúa làng bán giá lúa không nhất định, tuỳ theo thời giá và bạc cho vay được 50$00, mỗi đồng niên thủ lợi 2 phân để chi tiêu về việc làng đều có ghi vào sổ, sổ ấy giao hương bổn giữ, văn khế ruộng đất của làng có một người thủ khế để coi giữ.

 

2)  Làng ưng truất lúa của làng là 250 thặng cấp cho lý trưởng để ăn làm việc quan và mua giấy mực.

 

TIẾT THỨ 7:  PHÂN BỔ SƯU THUẾ

 

1)  Làng truất của công nhu bạc năm đồng 5$00, bạc thuế đinh học phí và cho hương bộ 2$00 bạc thuế đinh, hương kiểm, hương mục mỗi người đều 1$00 thuế đinh.

 

2)  Đến kỳ sưu thuế thời làng nhóm lại lý trưởng chiếu theo bài chỉ mà thâu, không được phù thâu, hương chức đốc sức dùm để thâu cho mau thạnh khoản.

 

TIẾT THỨ 8:  THƯỞNG PHẠT TRONG LÀNG

 

1) Trong làng có sự thưởng phạt nhiên hậu có sự khuyến khích làng có khắc hai cái bảng, một cái gọi nguyệt đáng phiên hương, một cái gọi là thân minh đình, treo ở nơi đình làng,  đối với làng có công tâm công lý hoặc làm gì công ích, công lợi, trong làng đều công nhận, hoặc người nào làm được kỹ nghệ gì khéo, đậu được bằng cấp gì cao, phẩm hạnh,hiếu để gì khác thường, thời ghi vào bảng nguyệt; đáng phiên hương và toạ thứ lên một bực, để thi khuyến việc định thưởng thì do hội đồng đại hào mục xét.

 

2)  Còn người nào đối với làng không có công tâm và làm nhiều nhũng lạm, hoặc không kể trật tự luân thường, không lo làm ăn thời ghi vào bảng thân minh đình và thấp tọa thứ xuống một bực để thủ trừng.

 

3)  Khi làng nhóm, hoặc có tế lễ, phải giữ có trật tự, nếu người nào không tuân thời bắt phạt bạc 0$20.

 

4)  Hội đồng xã thôn đại hào mục, định 3 tháng nhóm một lần để xét sổ chi thân nhân thế bộ và coi sổ sách khui hay bàn việc ích lợi như kinh tế, dùng tư ích, khi làng nhóm thâu lúa và bán lúa hoặc thâu tiền vay lợi của công nhu, thời lý trưởng, hương bộ, hương kiểm, hương mục đốc sức coi sóc sổ sách với hương bản, không được lười biếng, nếu người nào không tuân thì phạt lần đầu trà rượu, lần sau trình quan xét nghĩ.

 

Bổn xã đồng ký

Tùng cửu phẩm văn giai Nguyễn Hữu Đinh tự ký

Tùng cữu phẩm đội trưởng Lê luyện tự ký

Cựu đại hào mục Nguyễn Phán tự ký

Đại hào mục sung chủ bái Phạm Điền quá cố

Kỳ hào quyền lý trưởng Phan Tịch ký

Cửu bổn Nguyễn Tuyên tự ký

Hương bộ Nguyễn Hữu Cư tự ký

Hương bổn Phan Quản tự ký

Cựu hương kiểm Nguyễn Ohượng tự ký

Hương mục Lê Châu.

 

Advertisements

LÀNG NAM AN

HƯƠNG  ƯỚC  LÀNG  NAM  AN (*)

TỔNG  BÌNH  ĐIỀN,  PHỦ  BÌNH  SƠN

 

Ngày 20 tháng 6 năm Bảo Đại thứ 12

(27 ….. 1937)

 

Chúng tôi là viên hào, lý hương, tộc biểu làng Nam An, tổng Bình Điền, phủ Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

Tuân chiếu tờ hình sức số 2886 ngày 3/6/1937 về việc chỉnh đốn hương thôn.

Tuân chiếu theo tục lệ tương truyền trong bổn thôn, chúng tôi nghị định các điều khoản hương ước như sau này:

 

TIẾT THỨ 1: HƯƠNG ẨM TOẠ THỨ

 Khoản thứ 1:  Khi nào làng nhóm đại hội tế tự, bàn định việc làng, tại nhà công hội, thì gian giữa các văn, võ, ấn quan, tân cựu đại biểu nghị viện, văn võ quan viên có phẩm hàm thì người viên hàm, văn giai hay bá hộ ngồi trước, hàm đội trưởng ngồi sau, khoa mục từ tú tài trở lên, tân cựu tổng hào hội viên, quan viên tử, hào mục, hội trưởng, tân cựu thủ sắc, tân cựu chánh phó tổng đoàn chưa có phẩm hàm, các cựu kỳ lão trước có làm lýtrưởng, từ 70 tuổi trở lên, các đại hào mục phải chiếu theo vị thứ kể trên mà ngồi.

 

Khoản thứ 2:  Gian bên tả thì các hào cựu từ 60 tuổi trở lên, cao đẳng tiểu học văn bằng, tân cựu lý trưởng, các hạng binh: cựu chiến binh, khố đỏ, khố xanh, kinh binh, giản binh, lệ binh, trạm binh chưa có phẩm hàm, người nào có huy chương cao hơn thì được ngồi trước, chánh xã đoàn, các hạng miễn sai, tân cựu hương chức, viên từ, nhiêu ấm, tiểu học Pháp Việt văn bằng đã trước tịch, các hạng miễn điêu, các tộc biểu, cứ chiếu theo vị thứ kể trên mà ngồi.

 

Khoản thứ 3:  Gian bên hữu các người chức dịch làng và xóm từ 60 tuổi trở lên không có quan bằng, các tân cựu thập đoàn, các tân cựu chức dịch làng và xóm, không có quan bằng, dân tráng, các người có yếu lược văn bằng thì được đứng trước dân tráng, đồng thời trước tịch với mình, đều theo vị thứ mà ngồi, cón các người lai ngụ, người nào có tư cách đã nói trong khoản thứ 1, thứ 2, khoản thứ 3 thì được chiếu theo vị thứ ấy. Mỗi khi làng nhóm hội thì các viên hào tân cựu, chức dịch đều phải tuân theo vị thứ mà ngồi và bàn nói, cấm không được say rượu, cãi lớn tiếng, làm ồn ào mất trật tự, nếu ai không tuân thì phải bị phạt từ 0$20 đến 0$40, còn phạm lần thứ 2, thì trình quan xét nghĩ.

 

TIẾT THỨ 2:  TẾ TỰ

Khoản thứ 4:  Thần sắc của làng để vào […] tôn trí để tại nhà của thủ sắc, có lễ tế sẽ rước về đình, tế xong, nghinh về nhà ông thủ sắc tôn trí.

 

Khoản thứ 5:  Trong làng, mỗi năm có hai lệ tế, lệ tế xuân ngày 8 tháng 2, lệ tất niên ngày 26 tháng 12, có dẫy mã […] vị, chung quanh đình chợ và tế tại đình chánh, còn lệ kỹ niệm, nguyên đán thì dùng hương đèn, hoa quả.

 

Khoản thứ 6:  Lễ tế xuân chánh tế một heo, ngoại miếu một heo, tiền hiền một heo, ngoại đàng một bò và phẩm vật, đến 6 giờ sớm ngày ấy, thì viên kỳ, hào cựu, lý hương, chủ ấp đều bận áo rộng xanh, còn tộc biểu, lý hương cựu thì bận khăn áo cho chỉnh tề, và dân đều tới nhà các thủ sắc, rước thần sắc về đình nghinh tế, lể tất niên không rước sắc. Sự tế thì ông thủ sắc đứng gian giữa gian chánh tế, còn bồi bái thì đương thứ lý trưởng và một ông hào cựu, bên tả, bên hữu thì có sáu ông chủ ấp đương thứ đứng tế, ngoại miếu hương bộ đứng, ngoại đàng hương kiểm, hương mục đứng; […] thì hương dịch. Đánh chiêng trống thì phó lý trưởng, xã đoàn, đánh trống tiểu cổ thì phó hương bộ; còn người thị dịch thì sáu xóm đều đặt người tư lễ, hiệp với người tư lễ của làng, sắp đặt sự tế: phẩm vật và hương đèn, rót rượu. Lễ tế thì có người tư nghi và bốn người học trò đều bận áo rộng đứng dẫn và có cử nhạc. Khi tế xong trước khi xướng lễ kết thì các viên chủ tế, bồi bái đứng ra một bên, cho quan viên hào cựu, chiếu theo vị thứ của mình mà hậu bái, những người nào không có chức sự gì về sự tế, không được đến đó làm ồn ào, tế xong rồi, chiếu theo lệ làng kính biếu: khai khoa, hoạn quan, quan lộc, viên chủ tế, viên hội trưởng chủ cúng đất vườn đình, mỗi người đều một tấm tộ và lòng, xong rồi dọn đãi thì cứ chiếu theo toạ thứ, hương ẩm mà ngồi, đãi xong thì hai giờ chiều rước thần sắc về nhà ông thủ sắc tôn trí.

 

Còn trước ngày tế tháng hai, ngày mồng một, nhóm tại đình, chiếu lệ phân bổ đồ đạc cho sáu xóm có tờ như là ngủ sự nồi niêu, củi đuốc v.v…

 

Trong làng sáu xóm, nơi chợ và các phường đều có miễu và nghĩa trũng, trước ngày cúng tế đều phải trình làng hay.

 

TIẾT THỨ 3: TÀI CHÁNH VĂN THƠ V.V…

 Khoản thứ 7:  Các tài nguyên trong làng: A) Tư điền một mẫu, để cho các xóm làm rẻ (xóm Đồng Trung, Ngọc Hương, Lộc Tự, An Phương,Long Bình và Tư Hoà) đong lúa cho làng thì hương bản nhận giữ để tế tự.  B) Tư điền tám mẫu năm sào, bốn thước năm tấc. Mỗi năm cho dân vay rẻ, đong lúa cho làng, hương bản nhận giữ. Làng bán lúa ấy, lấy bạc và thâu các món tiền cho mướn đất làng chung quanh chợ và thâu tiền hương ẩm tọa thứ để tính nạp thuế điền thổ và cấp cho lý trưởng mỗi năm tám đồng, để mua giấy mực và đi công vụ, còn phó lý và ngũ hương, xã đoàn bạc mỗi năm 10$00 (mười đồng) để đi công vụ phí tổn. Còn phụ cấp cho hương bản 3$00 (ba đồng) chi lúa hai đồng, nếu còn bao nhiêu để chi tiêu việc làm.

 

Tới tháng ngày mùng một, trong làng hiệp lại nhà hương hội tính sổ một lần.

 

Trừ mỗi năm bốn kỳ đại hội, cứ ba tháng một lần, ngoài mỗi tháng chi thâu khoản gì, thì giao cho hương bản ghi vào sổ hương qũy, đến khi làng nhóm hội, thì hương bản tường sổ hội đồng xét hạch. Mỗi năm hễ đến ngày rằm tháng chạp Tây, viên hào lý hương tộc biểu phải hội lại để chiết tính sổ hương bản cho xong để trình quan duyệt chiếu.

 

Còn thuế chợ thì lý trưởng đốc sức hai tên trùm thập, thâu mỗi mười ngày đem bạc giao cho lý trưởng nhận giữ, đến qúy (3 tháng) lý trưởng đem nạp cho quan. Còn đất chợ, nhà chợ của tiền nhân để lại, góp tiền mua hạng liệu làm ra. Mỗi năm các người ngồi bán trả tiền thuế bao nhiêu trùm thập thâu giao cho hương bản nhận giữ, để trưng thuế cho nhà nước; còn thời tu bổ mở mang sở chợ, nếu năm nào không tu bổ thì chi tiêu việc làng dùng vào công ích cho đồng dân.

 

Mỗi khi có thâu nạp một món tiền bạc hay lúa gì vào công […] của làng thời phải trước vào sổ thâu chi liền liền. Số bạc hoặc lúa thâu vào công quỹ nhiều, mà làng chưa có việc gì để đem ra dùng, thời sẽ gởi vào nhà […] ngân hàng, để tăng số lợi cho đồng hương. Ông thủ sắc giữ đồ khí tế trong làng: áo rộng, phẩm phục, mão, ngũ sư đồng, trống tiểu cổ, 2 bản trường biên và cựu chỉ trường biên hai bản. Còn các thể lệ quan sức, Nam triều quốc ngữ công […] lý trưởng giữ, nhơn thế bộ hương trung tự chỉ, điện thờ văn khí, châu đón bằng bộ, nghi môn thượng hạ, chiêng cờ long tinh tam tại hương bộ giữ. Còn ba cái nồi bảy và chén dĩa, ang, đấu, hai quyển sổ thu chi, tân cựu trường biên và hai quyển sổ tạp thâu chi […], đương thứ lý hương ký, hương bản giữ, hương kiểm giử cờ vuông và cờ long tinh củ, lọng vàng. Hương mục một cái trống và cờ xéo. Từ lễ giữ chén, ve khay, hộp, chưng đèn v.v..

 

TIẾT THỨ 4: KHÁNH ĐIẾU

 Khoản thứ 8:  Trong làng các viên chức được phẩm hàm, cửu phẩm, bát phẩm, thất phẩm và đậu bằng cao đẳng tiểu học thì làng mừng một câu đối giá bạc 1$00 và cặp rượu giá 0$70. Các viên chức thăng thưởng hàm thất phẩm, bát phẩm trở lên và đậu bằng tú tài trở lên thì làng mừng một câu đối giá 2$70 và một cặp rượu giá 0$50. Còn các xóm trong làng làm miễu mới và nghĩa trũng cùng các vùng lân cận có làm […] hay làm việc gì có công ích, thì làng đi mừng từ 0$30 đến 1$00.

 

Khoản thứ 9:  Trong làng có tang vào hạng quan viên, tân cựu thủ sắc, tân cựu hào mục, tân cựu tổng lý thì làng điếu một bàn trầu cau, rượu, bạc 0$[…] và một câu đối. Đưa đám thì có cờ trống và dân. Tân cựu hương chức, miễn sai, và tộc biểu, chủ ấp có làm hương chủ khi chết có trình với làng, thì đi điếu bàn trầu, cau, rượu, bạc 0$30. Còn xóm sở tại đưa trống tiểu cổ, bốn cây cờ và dân. Các tộc biểu không làm hương chức, hương dịch trở xuống khi chết có trình với làng, thì làng đi điếu bạc 0$20 một bàn chè. Đám tang cha, mẹ và vợ các hạng người nói trên đều chiếu theo vị thứ của người con và người chồng mà tống táng. Các người lai ngụ có tư cách nói trên mà có công nghiệp với làng thì lễ khánh điếu chiếu theo khoản thứ 8, thứ 9 mà làm.

 

TIẾT THỨ 5:  HÔN LỄ

 Khoản thứ 10:  Trong làng con trai từ 18 tuổi trở lên, con gái từ 15 tuổi trở lên thời mới được dựng vợ gã chồng. Các hôn lễ thời nhà trai, gái tuỳ liệu điều đình với nhau, nhưng nhà gái không được đòi yêu sách, không được đòi lễ nhiều. Sau khi ước hôn, thời trong hạn 6 tháng phải làm lễ cưới; trừ khi nào duyên cớ chánh đáng, phài để hoãn lễ thành hôn thời không kể. Sau khi đã làm lễ cưới, hạn trong tám ngày thì phải đến hương bộ xin khai vào sổ hôn thú […] trích bạc 0$20, nhà trai phải nạp tiền cheo, nhà giàu ba hào, nhà bậc trung 0$20, nhà nghèo 0$05, số tiền ấy hương bộ thâu giữ, tiền trích lục và tiền hương bộ 0$10 chi một giác và tiền cheo để mua nhơn thẻ bộ, còn dư bỏ vào công qũy.

 

TIẾT THỨ 6:  KIỀM PHÒNG KIỂM SÁT.

 

Khoản thứ 11:  Trong làng có đặt 10 người thập đoàn và 100 dân đoàn, giữa làng có một nhà hương hội, trước có nhà vườn để dân đoàn nằm, thường đêm 6 giờ rưỡi, hai người thập đoàn, thổi ốc ba hồi lại ba tiếng, rút 20 dân đoàn đến nhà đoàn, đều có dây, gậy, đuốc; chánh phó xã đoàn tới kiểm đủ số, phân một tên thập đoàn, và 5 tên dân gác tại nhà đoàn, còn một tên thập đoàn và 15 tên dân đoàn, chánh phó xã đoàn chia làm hai toán, dẫn đi tuần trong địa phận và mấy chỗ giáp tiếp mấy làng (An Vương, An Phước, Lạc Sơn, Tham Hộ, Đông Phước, Phước Thọ, Phú Long, An Lộc) hoặc khi rút dân đoàn tảo số, thời có trù luân sức tới tại nhà đoàn, có hội đồng hào mục và hương chức đốc sức và phân bổ ngoại.

 

Trong làng sáu xóm có tám cái chòi canh, ba chòi ở về xóm (Long Bình, Đồng Trung, Lộc Tự) mỗi chòi hai người đầu phiên và tám người dân canh, còn  năm chòi canh mỗi chòi một người đầu phiên và năm người dân canh. Trong mỗi xóm có một người tuần ấp, đều hôm 6 giờ rưỡi đến chòi, đánh mõ ba hồi lại ba dùi, đầu phiên và dân canh đến tại chòi xóm ấy canh gác, rồi hương kiểm phải đi đến các chòi, kiểm số dân canh; mỗi người dân canh đều có một cây gậy, một vòng dây và một cây đuốc. Khi nào gặp thấy hoặc đạo kiếp án mạng phải đánh mõ hồi một, các việc khẩn đánh mõ hồi hai, việc thường đánh mõ hồi ba. Dân doàn nghe đánh mõ hồi một phải chạy tới tiếp cứu liền. Dân canh nghe mõ hồi một thì phải đánh mõ tiếp cứu ỡ nơi chồi canh, phải phòng triệt và hô hoán cho làng xóm tiếp cứu. Trong làng xóm có việc gì trừ con nít, đàn bà ngoại, người nào hễ nghe tiếng mõ hồi một và la thì phải lập tức tiếp cứu, và dân đoàn, dân canh, khiếm diện thì phạt bạc từ 0$20 đến 1$00 hay là phạt dịch từ một ngày đến năm ngày.

Trong làng có người nào can về vụ đạo kiếp mãn hạn giam, giao về quãn thúc, cứ thường đêm phải đem tới chòi canh, liên canh trong hạn sáu tháng, sau làng hội đồng xét quả có cải hối, cho cùng dân canh đồng phiên, khỏi phải liên canh.

Mỗi nhà phải có một cái gàu mo cau, hễ khi nào nghe có lửa phát ở nhà nào, thì phải đem gàu mo ấy và đồ cứu hoả đến cứu, người nào không tuân sẽ bị phạt từ 0$20 đến 1$00 hay phạt dịch từ một ngày đến năm ngày.

 

Khoản thứ 12:  Trong làng nhà nào chứa những người tha hạt, tha tổng, xã tới nghỉ đêm trong làng thì gia chủ phải trình với hương kiểm hay xã đoàn tới xét, hỏi thẻ thuế hay là căn cước; nếu có giả mạo thì lý trưởng giải cả chủ nhà và người lạ đến quan xét, nếu chủ nhà không trình mà lý trưởng xét được, thì chủ nhà bị phạt bạc 0$20 hay là phạt dịch một ngày.

 

Khoản thứ 13:  Các tộc biểu dạy con em trong tộc mình, người nào cũng phải tôn kính các bậc tôn trưởng, các người công chức, hoà thuận với anh em chúng bạn, chăm lo làm ăn, không được tụ hội, cờ bạc ngổ nghịch với bực tôn trưởng, du đãng, rủ nhau từng ba, từng bảy đi rông ngoài đường, tụ nhau ăn uống, say sưa cãi lộn, đánh lộn, la nói ồn ào, làm trở ngại đến những điều trị an. Nếu có người nào không đổi tánh xấu nói trên, thì gia trưởng với tộc biểu phải trình hội đồng hào mục xử phạt từ 0$20 đến 1$00 hay là phạt dịch từ một ngày đến năm ngày. Nếu làng xã không tuân sẽ trình quan nghĩ trị. Tộc biểu mà không cáo giác thì phạt bạc 0$20.

 

Khoản thứ 14:  Nhà nào, người nào có việc gì bất bình tới tường với tộc biểu hiểu xử, nếu tộc biểu không xong, phải tường với hội đồng hào mục hiểu xử: cấm những vợ chồng, nàng dâu, mụ gia, anh em, chị em hay là người ngoài không được cãi lộn nhau, đánh lộn nhau, nằm vạ làm cho náo động làng xóm. Nếu không tuân thì phải phạt bạc 0$20 đến 1$00, hay phạt dịch từ một ngày đến năm ngày. Còn các ngườinằm vạ ở ngoài đồng, ngoài đường, ngoài chợ, bất luận trong làng hay là người làng khác thì giao cho lý hương phân xử, trách phạt như trên. Nếu không tuân, trình quan nghĩ trị.

 

Khoản thứ 15:  Trừ các khi tế lễ, các nhà trong làng không được quần tụ, hay bày ra những sự cờ bạc, tụ hội, đông đảo nếu không tuân thì chủ gia bị phạt bạc từ 0$20 đến 1$00 hay phạt dịch từ một ngày đến năm ngày.

 

Khoản thứ 16:  Nhà nào có người bệnh hoạn phải nhờ nhà thương cứu chữa hay là dùng thuớc bắc, thuốc nam tùy ý không được mê tín như là dùng những thày tu, thày phù thủy cúng quảy, sai đồng lên động, làm phù phép, trống mõ ồn ào. Nếu không tuân, hạng người chức dịch phạt từ 0$20 đến 1$00, hạng dân phạt dịch từ 1 ngày đến 5 ngày

 

Khoản thứ 17:  Nhà nào, ban ngày, ban đêm có bị đứa gian cắp những đồ vật trong nhà hay ngoài vườn, ngoài chợ mà trị giá không quá 1$50 hay là gà vịt, heo chó, bắt được tang phạm thì phải báo trình lý kiểm, cã đoàn, xét phạt dịch từ một ngày đến năm ngày. Còn tang vật thì phải trả lại, nếu mất rồi không truy bồi, nhà nào hoa trữ đạo tang ấy, bị phạt như trên. Khi nào mất trộm mà không tìm ra tang phạm thì sự chủ phải tường với lý trưởng, hương kiểm, xã đoàn, tới nơi xét quả, có ban cận ký chứng, sau nếu tìm ra tang phạm truy cứu, sẽ bắt bồi phạt như trên. Cấm những người mất súc vật không được đứng ngoài đường, trong vườn la chửi. Nếu không tuân sẽ bị phạt bạc 0$20 đến 1$00 hay phạt dịch từ 1 ngày đến năm ngày, trừ ra những sự trộm cướp trọng tình: trâu bò, ngụa thì lý trưởng trình quan nã ngoại, lại trong làng nhà nào có bị trộm cắp, trong nhà hay ngoài đồng, sự chủ báo trình xóm sở tại và lý trưởng phải lập tức tầm nã. Nếu tình nghi nhà nào có oa trữ đạo tang thì lý hương được quyền đến xét liền, bất luận là nhà ai, không được cản trở, nếu chủ nhà nào không tuân. Thì lý hương sức canh giữ nhà ấy, rồi trình quan nghĩ xử. Tất cả chức dịch hay là ngừoi dân trong làng, người nào bắt được tang, hay là bắt được người trộm cắp, thì hội đồng hào mục sẽ ghi hảo trạng vào một quyển sổ và sự chủ nghĩ thưởng chiếu tang số mất trộm. 1$00 trở xuống thì thưởng 0$10, tang số 10$00 thì thưởng 1$00; tang số đến 30$00 thì thưởng 3$00; tang số 31$00 trở lên thì thưởng 4$00.

 

Khoản thứ 18:  Các đồ vật hay là các vật của người nào bỏ quên hay là làm rơi mất trong địa phận làng, trong làng người nào tìm được, phải đem nạp cho lý trưởng giữ. Lý trưởng phải niêm yết ở nơi chòi canh hay là nơi, hạn trong hai tháng chủ mất phải tìm tới nhận, thưởng cho người tìm được như: trị giá 1$00, thì ngừoi tìm được thưởng 0$10, còn súc vật trừ tiền thưởng cho người tìm ngoại, chủ có súc vật phải tính trả phí tổn cho người chăn nuôi, từ ngày tìm được cho đến ngày nhận, nếu quá hạn mà không ai đến nhận, thì các đồ vật thường dùng: gà, vịt, heo v.v… thì giao cho người tìm được nhận dùng, còn trâu bò ngựa, vật khác có trọng giá thì lý trưởng phải trình quan thông tư, sức cho chủ mất đến nhìn nhận. Nếu quá hạn quan trên đã thông sức không ai đến nhận, thì của ấy sẽ đem phát mãi, phân nửa sung vào hương quỹ làng, còn một phân nửa cho người tìm được; trừ ra những căn cước, thẻ thuế, khi nào tìm được thì lý hương phải nạp quan ngoại. Nếu người nào tìm được dấu đi tự tiêu, khi phát giác, người tìm được phạt bạc từ 0$20 đến 1$00, hay phạt dịch từ một ngày đến năm ngày. Những đồ tìm được làng phải thâu giữ để trả cho chủ mất, nếu đã tiêu phá đi rồi, người tìm được phải chiếu giá truy bồi.

 

TIẾT THỨ 7:  TUẦN ĐINH

 Khoản thứ 19: Trong làng phía đông giáp xã An Cường, An Phước:phía tây giáp làng Phước Thọ,Đông Phước: phía nam giáp xã Tham Hội, Lộc Sơn;phía bắc giáp Phú Long, An Lộc. Trong làng chia làm 6 xóm:Đồng Trung, Lộc Tự, Long Bình, An Khương, Tri Hòa, Ngọc Hương . Trong 3 xóm Đồng Trung, Long Bình,  Lộc Tự đều đặt mỗi xóm 2 người tuần trưởng và 20 tuần đinh . An khương, Tri Hoà mỗi xóm đều đặt một người tuần trưởng và 10 người tuần đinh . Còn xóm Ngọc Hương một người tuần trưởng và 5 người tuần đinh .

 

Làng giao cho cứ ấp phần tuần giữ . Các xóm đặt tuần trưởng, đều đem tới làng xét nhận thiệt và kê biên tên họ tuần đinh giao làng chấp chiếu . Đi tuần thì tuần trương cầm một cây gậy vuông . Còn dân tuần đinh đều một cây gậy tre, cây đuốc và vòng dây dừa, cứ mỗi xóm tuần trưởng, cứ thường xuyên ban đêm dẫn dân tuần đi tuần trong địa phận và giữ ba lợi .

Dân trong xóm bất cầu chánh ngụ từ 25 tuổi trở lên phải đem vô số tuần đinh, hết phiên  người ấy đến người khác . Nếu người nào không tuân, trình quan phạt dịch hai ngày .

 

Khoản thứ 20: 

Các chủ có ruộng đất thì giao cho tuần trưởng, tuần đinh canh giữ, chủ nào bị mất ba lợi thì tuần đinh với sự chủ hội lại định số ba lợi mất là bao nhiêu,  rồi tuần trưởng, tuần đinh phải bồi cho sự chủ . Khi nào định số ba lợi bị mất trộm mà tuần đinh với sự chủ có ý kiến khác nhau, thì sự chủ phải trình với lý hương phân định xử  bồi, đến mùa thâu hoạch ba lợi thì năm ngày trước chủ ruộng đất phải báo với tuần trưởng đến nơi, tuần trưởng hiệp với chủ có ruộng đất phải định ghi số ba lợi, sẽ thâu được bao nhiêu . Định xong, chủ có ruộng đất phải ghi số ba lợi vào một quyển sổ của tuần trưởng, và ký chỉ cho phân minh sau khi thâu ba lợi rồi, thì cứ số lúa bắp thâu 10 gánh lúa bắp, trả công tuần đinh một ang . Còn các thứ mì, khoai cứ tính theo số đất gieo, lúa giống một ang trả tiền công tuần đinh 0$04. Khi thâu ba lợi rồi, tuần trưởng, tuần đinh đều tới nhà thâu, thâu số lúa bắp và tiền công, tổng kê biên bản, hiệp với ấp chức chiếu tính 10 thành, trích giao bổn ấp 2 thành, sung vào bổn ấp, để tu bổ chòi canh, còn dư để cho dân ăn đắp đường yếu lộ trong xóm . Còn 8 thành, tuần trưởng tuần đinh chia nhau .

 

Khoản thứ 21: Số lúa và tiền trả công tuần đinh nói trên, các chủ ấy phải y kỳ hạn mà trả . Nếu chủ nào không trả, hay là trả lôi thôi, đòi ba lần mà trả không xong thì làng phải trình quan làm bằng, đến mùa sau tuần đinh không giữ ba lợi cho chủ ấy nữa . Còn trông bắp, mì, khoai, lúa thì tuần trưởng, tuần đinh phải chịu về sự mất trộm và chó, heo, gà mà thôi . Còn như chim, chuột, khỉ phá hại thì chủ phải chịu lấy .

 

Khoản thứ 22: Các người khác có cày ruộng đất ở trong làng hay là người trong làng cũng thế, trong mùa ba lợi mà ban đêm tối muốn đi đến chổ đất nào thì đều phải thắp đuốc mà đi, cho rõ mình không phải người gian . Nếu người nào không có duyên cớ gì, đêm tối không có thắp đuốc, đi vào ruộng đất có ba lợi, tuần đinh bắt được, xem như là kẻ gian tế, sẽ chịu theo khoản 18 nói trên mà phạt .

 

TIẾT THỨ 8:  VỆ NÔNG

 Khoản thứ 23:  Trong mùa ba lợi cấm không ai được thả trâu bò, ngựa, heo, gà, vịt, chó tới bờ ruộng ăn phá hoa màu và ba lợi, trong vườn, và không được bẻ trộm măng, phá rào, rút củi, người nào không tuân, thì sự chủ tuần đinh, hay là người nào bắt được, thì chủ có súc vật, người bẻ trộm măng, người phá rào, rút củi, chiếu giá bồi thường và phải phạt bạc từ 0$20 đến 1$00, hay là phạt dịch từ một ngày đến năm ngày.

 

Khoản thứ 24:  Các sở ruộng đất trong làng nguyên có nương nước để đến mùa mưa lụt nước chảy lưu thông, hoa màu ruộng thấp khỏi bị ngập thúi. Vậy cấm không ai được ngăn đắp từng đoạn lại, tát nước bắt cá, bờ mương đắp ngăn đem thảy lờ hay là cấy lúa trong đường mương, làm cho nước không chảy được và chặt rào, cuốc lấn bờ rẩy. Nếu ai không tuân sẽ bị phạt như khoản 23 nói trên và bắt phải đắp sửa lại như nguyên.

 

Khoản thứ 25:  Các chủ ruộng đất có chứa nước để cày cấy, hay là dưỡng hoa lợi, thì không ai được phá bờ, tháo nước qua ruộng đất mình và không được cuốc lấn bờ ruộng của chủ khác. Nếu ai không tuân thì sẽ bị phạt như khoản 23 đã định và phải bồi thường tổn hại, cứ tính ruộng đất gieo một ang lúa giống thì cứ bồi tổn hại nước 1$00, còn bờ ruộng xâm lấn phải tu bổ lại như nguyên.

 

Khoản thứ 26:  Các chủ có ruộng sâu, hay là ao chứa nước nuôi cá, thì không ai được đem nơm lưới tới bắt lén cá. Nếu người nào không tuân thì sẽ bị phạt như khoản 23 nói trên.

 

Khoản thứ 27:  Những người trong làng có mì, lang, bắp đến kỳ thu hoạch, phải đem phơi cho khô và cho sạch sẽ. Khi đem ra bán, cấm không được trộn cát, đất vào hay là trộn nước, hay là trộn thứ tươi vào thứ khô bán cho lợi cân. Nếu lý hương, tộc biểu hay là người mua mì, khoai, bắp xét ra được, thì sẽ trình với hội đồng đại hào mục phạt từ 0$20 đến 1$00 hay phạt dịch từ một ngày đến năm ngày.

 

TIẾT THỨ 9: CÔNG ÍCH CÔNG LỢI

Khoản thứ 28:  Trong làng có sáu xóm đều có viên miếu, thổ mạng, theo tiền nhơn để về ấp phần sáu xóm, để trồng cây cấm củi, bán lấy tiền cúng tế trong miếu xóm, còn lại thì bổ trợ thuế thân cho dân: có khi lấy củi dùng vào việc làng việc xóm. Cấm không ai được đốn củi. Nếu thủ khoán bắt được đem về công hội xóm phạt bạc từ 0$20 đến 1$00 hay là phạt dịch từ một ngày đến năm ngày. Nếu như không tuân, tường với lý hương giải trình, còn tang vật thâu lấy để làm của công, như thủ khoán không bắt được thì phải bồi thường.

 

TIẾT THỨ 10:  VỆ SINH CÔNG CỘNG

Khoản thứ 29:  Nhà nào ở gần đường tỉnh lộ, tổng lộ, hương lộ, ấp lộ và gần chợ đều phải quét dọn cho sạch sẽ, không được tấp rác hay bỏ những đồ uế, vật dơ trên đường, hay là hai bên đường, trong các mương nước cũng thế. Người nào có heo, bò, ngựa, chó chết thì đem chỗ nào xa cách nơi nhà người ta ở một kilometre và chôn cho sâu. Còn gà, vịt, mèo chuột chết v.v… đều phải đem xa cách nhà người ta ở 500 metre mà chôn cho sâu. Cấm không đựơc đem những súc vật chết, giẻ rách, giường hư hay là rác các vật uế bỏ ngoài đường, dưới mương nước, sông, suối, ao, và trên đám đất ruộng hai bên con đường và gần nhà ngưới ta ở không được phóng uế. Nếu ai không tuân, cứ giao về người dịch mục, tuần ấp xóm sơ ̉tại bắt được trình với lý hương phạt dịch từ một ngày đến năm ngày hay là phạt bạc từ 0$20 đến 1$00.

 

Khoản thứ 30:  Các giếng để uống nước phải xây thành hay là rào cao 6 tấc tây, cấm không ai được đem chiếu mền, quân áo giặc nơi bờ giếng, và người bịnh không được tắm, để cho sạch sẽ nếu  ai không tuân sẽ phạt 28 sẽ định.

 

TIẾT THỨ 11:  CẦU ĐƯỜNG

 Khoản thứ 31:  Các con đường tỉnh lộ, tổng lộ, hương lộ, ấp lộ, cấm các người buôn bán không được tụ hội, ngồi buôn bán trên đường, và không được phơi để đồ vật trên đường, không ai được lấn xâm cuốc phá hai bên thân đường; cấm đào mương trên mặt đường, những chủ nào muốn đem mương nước qua đường, thời phải làm cây đặt lù v.v…Cấm không ai được chăn trâu bò ăn phá cây, bẻ nhánh các con đường. Nếu ai không tuân sẽ bị phạt bạc từ 0$20 đến 1$00 hay là phạt dịch từ một ngày đến năm ngày và phải tu bổ bồi thường tổn hại.

 

Khoản thứ 32:  Mỗi đầu năm tháng giêng ngày 20 An Nam, hương mục phải đốc sức tư ích lưu hương, tu bổ cầu cống và thân đường tờng lộ, hương lộ, các vườn đình, nhà hương hội và chợ, còn các con đường ấp lộ, mỗi xóm bắt dân chánh ngụ và bần cùng đều phải tu bổ con đường trong xóm một ngày để tu bổ cho xong. Mỗi ngày mỗi xóm bao nhiêu số lưu hương tư ích, thì hương mục phải phóng biên lai cho tên dịch mục xóm ấy, và phải làm sổ kê biên, hội đồng hào mục xét hạch, nếu có nhũng lạm thì hương mục phải bồi thường.

 

TIẾT THỨ 12: PHÂN BỔ SƯU ĐINH

 Khoản thứ 33:  Phân định đinh điền sưu thuế, mỗi năm đến kỳ thuế đinh điền sau khi lãnh bài chỉ đinh điền, hội đồng hào mục, viên hào hương chức, đều nhóm tại nhà hương hội phân định, người nào điền thổ hạng nào, mấy mẫu phải nạp bao nhiêu, cùng mỗi suất đinh phải nạp bao nhiêu rồi giao cho lý trưởng phần thâu ba ấp, phó lý trưởng phần thâu ba ấp. Còn bạc đinh phân định sáu xóm thâu, hương mục hương kiểm sức chủ ấp án nhận phần thâu bạc đinh, ấp phần nào, thâu giao cho lý trưởng nhận phần đem gởi trước cho quan, mỗi năm xóm nào thuộc lý trưởng nào, có tờ phân định nhận thâu, tớ ấy giao cho huơng bộ nhận giữ.

 

TIẾT THỨ 13:CỨU TAI TRUẤT NẠN

 Khoản thứ 34:  Trong làng nhà nào chẳng may bị cháy nhà, nhà giàu, nhà tầm thường, thời trong xóm sở tại, mỗi nhà đều giúp công hai ngày, chủ nhà phải dọn cơm ăn bữa trưa (trừ nhà giàu có ngoại), còn nhà tầm thường xóm ấy giúp cho 0$40. Còn nhà nghèo thì người trong xóm mỗi nhà giàu và bậc trung phải giúp cho một cây tre và ba tấm tranh. Nhà giàu cho thêm một ang gạo hay là bạc 0đ40. Còn nhà nghèo gíup công một ngày, không có cơm công, xóm sở tại giúp cho 0$60.

 

Khi nào có thấy ngưởi chết đuối phải hô hoán lên, người nào biết bơi lặn phải tìm xuống vớt lên liền, theo phép cứu chữa. Người nào thấy những người qua đường bị cảm mạo cấp bịnh, thì phải hô hoán cho chòm xóm ai có dầu thuốc gì đem ra cứu cấp, rồi báo với lý hương hoặc thân nhân chở tới nhà thương, và gặp tai nạn khác phải hết lòng cứu chữa.

 

Nếu không tuân sẽ bị phạt từ 0đ20 đến 0$60 hay phạt dịch từ một ngày đến ba ngày, người nào nghèo khổ, không có thân nhân bị quá cố thì xóm sở tại giúp cho 1$00 để cấp táng.

 

TIẾT THỨ 14:  GIÁO DỤC

 Khoản thứ 35:  Trong làng con em từ sáu tuổi trở lên, mà nhà cha mẹ không nghèo thiếu, thời phải cho đến trường học tập.

 

Trong làng học trò đậu bằng tiểu học Pháp Việt làng thưởng mỗi trò 1$70. Còn học trò trong làng mà học trường trong làng, hoặc học các trường khác, đến khi hạch lên lớp, trò nào lên lớp nhứt đứng đầu, thưởng 1$30, đứng thứ nhì thưởng 1$20. Lớp nhì đệ nhị, trò nào đứng đầu trong lớp thưởng 1$10, đứng thứ nhì thưởng 1$00. Lớp nhì đệ nhứt, trò nào đứng đầu thưởng 0$90, đứng thứ nhì thưởng 0$80. Lớp ba trò nào đứng đầu, thưởng 0$70, đứng thứ nhì thưởng 0$60. Lớp tư trò nào đứng đầu thưởng 0$70, đứng thứ nhì thưởng 0$40. Lớp năm trò nào đứng đầu thưởng 0$30, đứng nhì thưởng 0$20. Trường trong làng gần tới ngày nghĩ, làng hội đồng với thày giáo tại trường phát thưởng cho các lớp học trò trong trường. Còn học trò các trường khác, trò nào dự vào các lớp nói trên, có giấy chứng chỉ, đem về đến ngày nhóm, hội đồng phát thưởng.

 

TIẾT THỨ 15: TẠP LỆ

Khoản thứ 36:  Số bạc phạt về các khoản nói trên, đều giao cho hương bản nhận, để ghi vào sổ hương quỹ chi tiêu các việc làng. Còn các khoản phạt dịch giao cho hương mục và hương dịch dẫn đi tu bổ các con đường trong làng và chợ, dọn cỏ trong vườn trường học của làng.

 

Khoản thứ 37:  Hội đồng hào mục, đại hội mỗi năm Tây bốn kỳ, ngày 15 tháng 3, ngày 15 tháng 6, ngày 15 thang9, ngày 15 tháng chạp, để bàn định các việc làng, hiểu các trật tự, luân lý, các việc cầm phòng, trù các khoản lợi ích chung, xét sổ hương bản, sổ tư ích, sổ nhơn thế bộ và các tộc biểu phải kê danh sách tử đệ trình chiếu, hiểu khuyến mở mang học vụ, công nghệ, kinh tế v.v.. Còn các tháng ngày mùng một, ông thủ sắc và chủ ấp, lý hương, chức dịch, tới nhóm tại nhà hương hội, lo công vụ và định việc làng. Ngày 15 thời có đại hào mục và các chức nói trên, đều tới nhóm, bữa mai ngày ấy, độ 7 giờ, hương dịch tới trước nhà hương hội, đánh trống ba hồi lại ba dùi, thì các viên chức trong làng, trừ người nào có duyên cớ gì, đã cáo khiếm diện ngoại trước với viên đại hào mục ủy viên, đều phải tề tựu để bàn định. Nhân dân trong làng có việc gì bất bình, đều được nhân ngày hội ấy tới thưa làng phân xử. Tiền lễ xử kiện, như việc tầm thường, mỗi bên 0$40 hay là hộ hôn điền thổ mỗi bên 0$60 đến trình làng phân xử, làng xử không xong trình quan xét nghĩ. Các món tiền tụng lệ đều bỏ vào công qũy và trước vào sổ thâu chi. Nếu buổi mai ấy bàn định và phân xử chưa xong, đến 11 giờ trống bãi. Đến 1 giờ rưỡi chiều ngày ấy, nghe tiếng trống, đều phải tề tựu lại để nghị định lại cho xong việc, đến 4 giờ rưỡi, trống bãi, nếu bất thường việc quan khẩn cấp, hay là việc làng, thì lý hương có thể thông báo, đều phải tới nhóm. Nếu người nào không duyên cớ gì, không cáo trước, mà khiếm diện và những người tới nhóm đến giờ mà không tới nhà hương hội và tới nhóm, chưa tới giờ bãi, mà đi chơi, một lần đầu phạt bạc 0$20, lần thứ nhì phạt 0$40, lần thứ ba sẽ trình quan xin trích ra đặt người khác thế.

 

Tộng cộng hương ước 37 điều khoản

Bổn thôn đồng ký

 Duyệt y

Quảng Ngãi ngày 07 / 01/ 1938

 

Công sứ                                                 Tuần vũ

Ký tên: Gey                              Ký tên: Hồng Quang Địch

 

Khán và chứng thực sao y bản chánh

Bình sơn ngày 22 / 10 / 1942

Tri phủ

 

——————–

(*): Làng Nam An nay là thôn Nam An, xã Bình Hoà, huyện Bình Sơn.

 

LÀNG DIÊN TRƯỜNG

HƯƠNG  ƯỚC  LÀNG  DIÊN  TRƯỜNG

TỔNG  PHỔ  VÂN,  HUYỆN  ĐỨC  PHỔ

 

Ngày  23  tháng  7  năm  Bảo Đại thứ 12

                (Ngày 30 tháng 8 năm 1937)

 

Chúng tôi là viên hào, lý hương làng Diên Trường, tổng Phổ Vân, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

Hội đồng nghị định chiếu theo tục lệ lưu truyền trong làng xưa nay tham chước trình độ hiện thời mà lập chánh hương ước có các điều khoản kể ra sau này:

 

 

TIẾT THỨ 1:  TOẠ THỨ

 

Tọa thứ thời có sổ hương ẩm để giữ trật tự và chính phong hoá, người nào có phẩm hàm và niên xỉ ngồi trên trước, người nào nhỏ theo vị thứ ngồi sau, không được tiện đẳng, người nào muốn tỏ bày ý kiến gì thời phải thưa trình cho có lễ phép, không được lớn tiếng giữa đình trung, hội sở, nếu ai không tuân hương ước thời phạt một bàn trầu, cau, rượu.

 

TIẾT THỨ 2:  TẾ TỰ

 

1)  Trong làng có chung với làng Diên Khánh một sở đình, hai sở miếu (miểu Chưởng Sinh, miểu Cao Các), một sở Nghĩa Chỉ và một sở Thần Đàng mỗi năm hiệp tế một lệ; lấy ngày 15 tháng ba là ngày tảo lăng ông làm kỳ. Trước ngày tế phải hội định với làng Diên Khánh phân phái, phân hành cho ấp và trần thiết, rước sắc, tảo lăng, tảo mộ, đặt người dự tế: tối ngày 15 tế Nghĩa Chỉ trước, sáng ngày 16 rước sắc về đình, miếu và các sở đều tế một lần. Mỗi làng chi nhu các lễ tế ấy độ hai chục đồng (20$00), tế rồi thưa thân huệ kỉnh chánh tế phần đầu, bởi tế một phần nọng tạo miễu và các người dự tế đều kỉnh tộ thiệt một sườn, còn bao nhiêu đem ra hương ẩm khoản đãi nhứt luật.

 

2)  Trong làng có một sở chùa chung với làng Diên Khánh lâu nay trích trí ruộng công điền của hai làng là tám sào, và năm sào tư chủ cúng cho chùa, đều biệt giao cho người tăng thủ tự canh tác, cúng tế, sám hối trong sở chùa tam nguyên, tứ quý, và lập tranh đều về phần người tăng chủ từ chịu cả.

 

3)  Trong làng lại chung với làng diên Khánh một sở Đạo đường, hai làng có cúng ruộng công điền một mẫu ba sào thời cũng biệt giao cho người ra ở kiểm thủ nha Đạo đường canh quả để tu bổ lợp nhà thờ ấy.

 

TIẾT THỨ  3:   KHÁNH ĐIẾU,  KHAO VỌNG,  HÔN LỄ

 

1)  Khánh điếu:  Phàm trong làng đi phúng điếu, khánh hạ cho một người nào có đánh giá công lao với làng như đám chết đi ba quan tiền, và một bàn trầu, cau, rượu; đám mừng hay làm nhà đi ba quan, ngoài ra không đi cho ai nữa.

 

Phàm trong làng có người chết thời hạn trong 24 giờ phải trình với hương bộ trước vào bộ tử, còn về việc tống táng nếu là quan viên, kỳ hào thời cho để được ba ngày, còn thường dân thời phải chôn trong hạn 48 giờ.

 

Bất cầu người nào lâm tang thời người bà con tộc thuộc và người lân cận phải đến giúp tức thời, còn dân phu đưa tang và nghi tiết tống táng thời tùy phẩm vọng của người và tuỳ tang chủ xin; nhưng phải tùy người có phẩm giáhay không mà đưa đón cho có phân biệt, không được phô trương quá phép. Chôn rồi chờ khi nào làng có công hội sẽ đem một bàn trầu, cau, rượu đến nhà hội mà báo đáp ơn làng xóm để trọng sự thể của làng.

 

Về việc khoản đãi thời tùy tang chủ liệu biện, cấm không được làm heo, bò, không được phù phép. Nếu người nào quá cố vì bệnh truyền nhiễm thời cấm không được khoản đãi mà làng cũng không được bức sách.

 

Những người dân nào mà làng phái sức đến giúp tang gia, có duyên cớ gì thời phải trình cáo trước, nếu không trình cáo mà thiện hiện khoán khiếm thời phạt bạc hoặc phạt hành dịch một ngày rưỡi.

 

2)  Khao vọng:  Phàm trong làng người nào làm khao vọng gì, thời tuỳ sức hoặc chừng nào mà làm chừng nấy, không được trang sức mà làm cho […] như có số đông người thời phải đến quan xin phép mới được làm, nếu trái phép thì trình quan nghĩ phạt.

 

3)  Hôn lễ:  Việc hôn lễ thời tùy hai nhà trai gái thuận định với nhau cho giản tiện thì tốt, không được yêu sách. Nhưng lúc thành hôn rồi, hạn trong tám ngày phải trình với hương bộ trước vào trong sổ giá thú, người nào muốn mua trích lục thời phải nạp bạc 0$20.

 

TIẾT THỨ  4:  CẦM PHÒNG VIỆC ĐỘNG TỊNH, TRỘM CƯỚP, VIỆC CANH BA LỢI NGOÀI ĐỒNG

 

1)  Việc động tịnh:  Phàm trong làng cấm không được la lớn tiếng làm ồn ào mất sự yên tịnh và tụ tập nhiều người bày cờ bạc rượu chè làm điều phi vi; nếu không tuân hương ước mà hương chức bắt được thời phạt mỗi tên sáu giác 0$60 hoặc phạc hành dịch ba ngày.

 

Phàm có nơi nào tụ tập chơi bời trái phép, mà sự tụ tập dung thường thời làng phạt những người tụ tập mỗi người 0$60 hoặc hành dịch ba ngày; nếu sự tụ tập mà có tình trạng đáng nghi thời phải lập tức báo quan; như người nào thấy mà tư tình ẩn nặc thời cũng phạt 0$60 hoặc phạt hành dịch ba ngày.

 

Trong làng phần chánh phó xã đoàn, đoàn thập, đoàn phu, đêm ngày canh phòng địa diện, kiểm xét gian phi, thấy người nào lạ mặt, lạ tiếng, hay nhà nào tụ tập đông người, thời phải xét hỏi, nếu các người lạ mặt không có căn cước, bài chỉ, hoặc các người tụ tập không có mục đích gì chánh đáng thời phải lập tức báo quan, nếu tư tình ẩn nặc mà có phát xuất ra việc gì lạ, thời những người có trách nhiệm đều có lỗi. Và đêm ngày chánh, phó xã đoàn phải đốc sức dân đoàn, dân phu canh tuần theo dọc đường hoả xa và đường thiên lý, cấm trâu bò không được thả ăn rong trên đường và bỏ cây, đá trong đường rầy xe lửa, hoặc quăng dây […] trên dây thép, nếu bắt được giải quan nghiêm nghị; còn người đương sự mà dụng tìmdụng ẩn thời tội chẳng khác phàm dân ấy.

 

Phàm trong làng người nào có bà con quen biết phương xa đến thăm mà ở đêm, hoặc có người khác làng khác tổng đến trú ngụ làm việc gì (tuy chánh đáng mặc dầu) gia chủ cũng phải trình với lý hương xét ghi căn cước, bài chỉ; nếu không tuân gia chủ phải phạt 0$30; còn xét ra mà có tình trạng quan ngại thời giải cả gia chủ trình quan địa phương.

 

Trong làng có lập một số điếm canh, có đặt năm tên tuần trưởng, thường ngày đêm phải đốc sức dân phu canh tuần, có phân phiên thứ, trong một tháng mỗi tên dân canh ba kỳ, mỗi một kỳ ba ngày đêm, dân canh đều có tên viết trên bản canh tại sở vọng lâu, trong dêm canh nếu có công văn, công khẩn phải tức thời cắt dân hộ vệ chuyển đệ, và các xã lân cận lâm thời có xảy thủy họa tai, đạo tặc phải đem dân ứng tiếp, nếu thị thường bỏ qua thì hương kiểm có lỗi, còn tên dân canh nào bỏ phiên canh thời phạt bạc 0$30 hoặc phạt dịch một ngày rưỡi (trừ ra tên dân nào có duyên cớ, có xin phép với lý hương ngoại).

 

2)  Việc trộm cướp:  Phàm trong làng có việc trộm cướp xảy ra dân canh đánh mõ báo hiệu lên, thời dân trong làng bắt cầu người nào cũng phải cầm dây, dùi chạy đến ứng tiếp, phòng triệt các nẻo đường mà bắt kẻ trộm, người nào bắt được thời làng xuất tiền công quỹ thưởng 1$00 (một đồng), nếu người nào bị gian đạo kháng cự lại có thương tích, thời làng cũng xuất tiền công quỹ cấp cho đi nhà thương, còn người nào bắt gian đạo mà tự tiện dung ẩn, xét đồng tình giải quan tra tra xét.

 

Phàm trong làng bắt được người đốn trộm một cây bị phạt 0$60, hoặc phạt hành dịch ba ngày, bẻ trộm một mụt măng phạt 1$20 hoặc phạt hành dịch 6 ngày và chặt cây lâm cấm của làng thời phạt 1$20 hoặc phạt hành dịch 6 ngày. Nếu người nào không

tuân trình quan nghĩ trị.

 

3)  Việc canh ba lợi ngoài đồng:  Trong làng có lập khoản ước đặt 5 người tuần trưởng, 5 người tuần đinh để giữ ba lợi ruộng đất trong bộ, cứ chiếu theo ruộng đất mỗi năm mỗi mẫu người điền chủ phải chịu 1 ang lúa, lúa ấy tuần trưởng và tuần đinh thâu giữ. Nhưng lúa tuần trưởng đã thâu được phải chia làm ba phần, một phần sung công qũy ghi vào sổ thâu, còn hai phần giao cho tuần trưởng, tuần đinh chia nhau mà ăn. Nếu tuần trưởng, tuần đinh không làm hết bổn phận để cho ba lợi của điền chủ bị mất trộm thì bọn ấy phải bồi thường.

 

Phàm trong làng trừ khi nông vụ cày cấy ngoại, cấm những người có trâu bò không được thả ăn trên bờ ruộng đất có ba lợi, ăn phá lúa, mạ, đạp lở bờ ruộng, nếu không tuân hương ước, bắt được phạt 0$30 hoặc phạt hành dịch một ngày rưỡi và bắt bồi thường tổn hại ba lợi cho người điền chủ (bạc phạt ấy cho người bắt được 0$20, còn 0$10 sung vào công quỹ ghi vào sổ thâu chi).

 

TIẾT THỨ  5:  CÔNG ÍCH CÔNG LỢI

 

VỆ SINH CÔNG CỘNG, ĐƯỜNG SÁ CẦU CỐNG, CÔNG VIỆC VỆ NÔNG, CỨU TAI TRUẤT NẠN, HỌC HÀNH GIÁO DỤC

 

1)  Công ích công lợi:  Trong làng cứ mỗi ba tháng thời chiêu tập một lần, hào mục lý hương và tộc biểu nhóm họp nơi công hội làng để trù định việc ích lợi trong làng, có làm biên bản trình quan địa phương xét, các người có trách nhiệm dự hội, không có duyên cớ gì mà bất tuân hương ước thời phạt bạc 0$30, hoặc phạt truất ngôi thứ.

 

2)  Hiệu lịnh chiêu tập trong làng như sau này:  Nhóm thường trong mỗi tháng lấy ngày mồng một làm kỳ khởi, mới có tiếng chiêng thì những người đương sự phải đến ngay ấy phải tới nhà hội mà nhóm, lâm thời có việc quan khẩn thời phải dùng tiếng chiêng và tiếng trống để cho người đương sự phải tới gấp; còn về phần thủy hoả, đạo tặc, tai nạn thì phải dùng tiếng thanh la mà làm hiệu lịnh, việc thôi châu quan thuế thời có tiếng mõ và tiếng trống dân canh tuần thời có tiếng mõ và còi, nếu người nào không tuân theo lịnh hiệu thì phạt một bàn trầu, cau, rượu và bạc 0$30, hoặc phạt hành dịch một ngày rưỡi.

 

3)  Trong làng có một cái đầm (đầm An Khê) chung với làng Diên Khánh lựa một người có tư bản để cử làm đầm trưởng (Diên Trường ba năm, Diên Khánh ba năm).

 

Đầm trưởng kiểm cố ngư nghệ thâu thuế nạp cho lý trưởng, mỗi năm chiếu theo quan thuế thâu nạp, còn bao nhiêu cúng tế, tu bổ các sở miếu chung quanh đầm và cấm không cho người nào làm lưới chài, lưới quét đánh cá trong đầm ấy. Nếu người đầm trưởng nào không tuân hương ước cho làm lén bắt được phạt 3$00 và một bàn trầu, cau rượu sung vào công quỹ của làng, nếu ngang trình quan địa phương nghĩ trị.

 

4)  Vệ sinh công cộng:  Phàm trong làng cấm không được ném bỏ những thú vật chết và những dồ dơ uế trên các con đường cái, thủy đạo, gò mả, đất hoang. Những loại vật chất như mèo, heo, gà, chuột và những đồ nhơ uế thời phải đào lỗ chôn sâu, xa nhà và giếng, các giếng uống, ao hồ, vũng, lý hương phải sức vét cho sạch sẽ, nếu giếng không có thành thời phải làm sơn ly bao bọc bốn phía, nói tóm lại là không được làm việc gì phòng ngại đến vệ sinh công chúng trong làng, nếu người nào không tuân hương ước thời phạt bạc 0430 hoặc phạt hành dịch một ngày rưỡi.

 

Phàm trong làng nhà nào có trâu bò rủi bị bịnh chết thời phải trình với làng xét cho xẻ lấy da và sừng, còn thịt thời phải đào lỗ chôn sâu, xa nơi nhà ở, giếng uống nước; cấm không được ăn thịt và đem bán; nếu người nào bất tuân hương ước phạt bạc 0$60 hoặc phạt dịch ba ngày.

 

5)  Đường sá cầu cống:  Phàm trong làng mỗi năm hương mục phải bắt dân tư ích tu bổ đường sá cầu cống cho vững vàng chỉnh đốn, hết bao nhiêu công dân phải kê làm hai bản, một bản trình quan địa phương, một bản lưu chiếu tại làng. Những con đường gần ruộng đất người nào, mà người ấy có ý xâm lấn hoặc tự tiện cuốc mặt đường làm mương rãnh tháo nước thì phạt bạc 0$60 và bắt bồi trúc con đường ấy lại như củ. Người nào muốn đem nước qua tháo vào ruộng thời phải đặt lù làm cống v.v… phải thưa với làng cho phép mới được.

 

6)  Công việc vệ nông:  Trong làng có năm cái đập chung làng Diên Khánh, tục kêu đập Làng, đập Đá bạc, đập Bồ Đề, Đập Co, đập Ông Thìn, xưa nay làng Diên Trường, Diên Khánh mỗi đập mỗi làng có đặt một người tri yển để coi sóc đập, tùy theo mỗi năm đập lở nhiều ít mà quy điền phân bổ, mỗi mẫu ruộng phải chịu bao nhiêư  độn, bao nhiêu nọc, bao nhiêu bò cào cát, bao nhiêu nhân công, tri yển phải biên tên họ điền chủ rõ ràng trình cho đại hào mục xem xét rồi mới đánh thanh la cho mọi người biết, và đốc sức điền chủ chánh xã, phụ canh dọn mương cho rộng rãi, cùng bồi đắp các đập ấy cho chắc chắn, để dẫn nước vào ruộng. Nếu người nào có ruộng mà không đi đắp đập, trách thâu nhơn công mỗi 0$20, bạc thâu ấy chia làm ba phần, một phần bỏ vào công quy,̃ hai phần cho tri yển trưng dụng, nếu tri yển dụng tình dung ẩn theo thói bán chế gian tham, trách phạt trầu, cau, rượu một bàn và bạc 0$30 đến 0$60 hoặc phạt hành dịch từ một ngày rưỡi đến ba ngày, bỏ người ấy không cho làm tri yển nữa.

 

Trong làng có chỗ thủy khẩu thường hay mưa to, cát lấp chỗ thủy khẩu ấy, thời nước không chảy được phải ngập thúi rửa ba lợi hơn 20 mẫu ruộng, làng Diên Trường, Diên Khánh mỗi làng có cử một người tri cửa để gặp khi lụt ngập phải đốc sức điền hộ, đến đào chỗ thủy khẩu ấy nước chảy ra biển, cứ một người có ruộng bị ngập từ một sào đến sáu sào phải đi làm một người, từ sáu sào đến một mẫu, phải đi một người và phụ một đôi bò cào cát một buổi, từ một mẫu trở lên phải đi hai người, người nào không đi cứ một người một ngày thâu thiếu 0$30; bạc ấy chia làm ba phần, một phần sung vào công quỹ của hai làng, còn phần cho người tri cửa ăn lo. Nếu người tri cửa dụng tình dung ẩn, theo thói bán chế gian tham xét quả xét trách phạt trầu, cau, rượu một bàn, bạc 0$30 bỏ vào công quỹ, bỏ người ấy không cho làm tri cửa nữa.

 

7)  Cứu tai truất nạn:  Phàm trong làng người nào gặp phải tai nạn, như hoả tai, nịch thuỷ v.v.. và các tai nạn bất thường, nghe hô hoán thời bất cầu người nào cũng phải chạy đến tiếp cứu, tùy theo các tai nạn ấy mà dụng đồ tiếp cứu, trừ ra người nào có duyên cớ chánh đáng, hoặc ở xa cách không nghe ngoại. Nếu người nào nằm yên ở nhà không đến cứu nạn, thời phạt bạc 0$30 hoặc phạt dịch một ngày rưỡi.

 

8)  Học hành giáo dục:  Trong làng, người nào có con em từ bảy tuổi trở lên, thời tùy gia tư và bản năng của chúng nó mà cho đi học, trừ những con nhà nghèo không thể đi học được thì phụ huynh và tộc biểu phải dạy bảo cách ăn ỡ cho khỏi trái tình tục luật lệ, phàm những con em ngỗ nghịch, hành vi trái phép thì phải răn dạy, nếu không nghe trích trinh ngữ nghị, tộc biểu nào bất tuân thì phạt bạc 0$30 hoặc phạt truất ngôi thứ.

 

TIẾT THỨ  6:  QUÂN PHÂN ĐIỀN THỔ

 

Nguyên làng Diên Trường và làng Diên Khánh có thờ ông tổ ngưỡng linh Nguyễn Quận công, khi trưng ruộng đất để lại cho hai làng đồng dân chia nhau mà ăn; lệ cứ ba năm quân cấp một lần; hiệp cùng hai làng, chiếu tính số ruộng đất, trích ruộng tế điền. Hương dụng trước phải xin phép đấu giá được bao nhiêu giao hương bản nhận thủ ghi vào sổ chi thâu của làng, và trừ trích ruộng lương điền để cấp cho lính, còn bao nhiêu thì định cấp cho lão nhiệu, cô quả, hương chức, tráng dân mỗi phần bao nhiêu phân tính rõ ràng rồi lập đồng quyền có đủ hào lý, viên kỳ, tộc biểu hai làng ký chỉ minh bạch, rồi đến quan địa phương xin phép. Khi được phép quan trên cho rồi thì hai làng nhóm họp lại để phân ruộng chia đất tốt xấu (cốt để cho đều khỏi phải hơn thua) […] cứ mỗi phần mấy sào, mấy thước, xứ thì viết một hàng có ghi số hiệu và chừa quãng trống để cho người nào nhận phần nào phải ký nạn vào bộ cấp ấy, lý trưởng phải biên lai cho người chấp chiếu, khi lập bộ cấp xong rồi thì hào mục, lý hương, tộc biểu phải nhóm họp lại mà sắp sổ phân theo thứ, để khi cấp ruộng cứ chiếu theo vị thứ ấy mà […] nhận […] nhửng người nào đã có làm nhà ở vào ruộng đất công thì phải nhận phần thực của mình, không được nhận ra nơi khác. Nhưng từ nay về sau cấm không ai được làm nhà vào nơi ruộng đất công, nếu không tuân hương ước phải phạt 0$30 va phải dở nhà lập tức, nếu ngạnh trình quan nghĩ trị.

 

TIẾT THỨ 7:  PHÂN BỔ SƯU THUẾ

 

Phàm đến vụ thuế sau khi nhận bài chỉ đinh điền về, lý trưởng phải trình với hội đồng xã thôn đại hào mục chiếu tính, người điền chủ nào ruộng đất bao nhiêu, hạng gì, phải nạp bạc thuế bao nhiêu, phải suất đinh, phải nạp bao nhiêu, kê biên niêm yết rõ ràng, rồi lý trưởng cứ chiếu theo đó mà thâu, nếu phù thâu trình quan nghĩ trị.

 

TIẾT THỨ  8:  THƯỞNG PHẠT TRONG LÀNG

 

1)  Thưởng:  Trong làng người nào có công đức với làng, làm nhiều điều ích lợi chung cho công chúng trong làng, hương chức tận tâm làm việc, người nhiệt thành cứu giúp tai nạn thời làng đem cao toạ thứ lên hạng người có công lao, khi tế tự cũng trích kỉnh một phần biếu, hoặc làm một bản danh dự yết tên các người ấy vào chỗ hội quán, hoặc tùy trường hợp mà thưởng bạc từ một đồng (1$00) trở xuống.

 

2)  Phạt:  Các hương chức không lo tròn bổn phận, thiếu sự công tâm, những người trong gia đình cư xử với nhau không được hoà thuận, không lo làm ăn, những kẻ thấy tai nạn không cứu vớt v.v… chỉ làm phạt truất toạ thứ, truất phần biếu và tuỳ trường hợp mà phạt bạc từ 0$30 đến 1$50, hoặc phạt dịch từ một ngày rưỡi đến bảy ngày rưỡi.

Những số tiền phạt nói trên các tiết đều trước vào sổ chi thâu cùa làng, nếu người nào không có bạc nạp thì phạt dịch do hương kiểm, hoặc hương dịch đưa đi làm các đường liên hương hoặc quét dọn các công sở trong làng, hoặc làm những công việc lợi ích đồng hương

Ngày  20  tháng  7  năm Bảo Đại thứ 12

Khán

Quảng Ngãi, ngày  10.12.1937

Công sứ                                    Tuần vũ

Ký tên: Gey                      Cung Quang Địch

(đóng dấu)                               (đóng dấu)

 

 

Phụng sao y                                        Khán

Thạch By ngày 2010.1942            Tri huyện

Lý trưởng            Chứng thực        Ký tên: không rõ

                              Tri huyện             (đóng dấu)

 

Cựu lý trưởng

Hào mục cựu lý trưởng

Hương ước sách

Hương ước bổn kỳ hào

Cựu đại hào mục

Lý trưởng

Phó lý trưởng

Miễn điêu

Hương bộ

Hương kiểm

Hương mục

 

Hương mục

Hương bộ

Hương bổn

Cựu hương mục

Cựu tri hương

Tộc biểu

Tộc biểu

Tộc biểu

Tộc biểu

Tộc biều

Tộc biểu

Tộc biểu

Nguyễn Bá Đệ tự ký

Nguyễn Đạo tự ký

Nguyễn Bá Sửu tự ký

Nguyễn Bút tự ký

Trần Trự tự ký

Nguyễn Bá Hạnh ký (do hữu đồng triện)

Huỳnh Lãng tự ký

Lê Dụ áp chỉ

Võ Phương ký

Trần Tùng tự ký

Nguyễn Sở thủ ký

Nguyễn Giáo tự ký

Nguyễn tự ký

Nguyễn Tiên tự ký

Trần Nhữ tự ký

Trấn Xu áp chỉ

Nguyễn Thời thủ ký

Nguyễn Sở thủ ký

Nguyễn Lân tự ký

Võ Sung tự ký

Võ Đạo tự ký

Nguyễn Thuận tự ký

Lê Sàng tự ký

Lê Đố thủ ký

 

 

Làng Chánh Lộ

TỰA

Vâng theo lời chỉ bảo của quan trên và ý muốn chung của làng, xin gom góp những tục lệ cũ lưu truyền trong làng, chọn lọc, sửa đổi lại cho thích hợp với trình độ tiến hoá của nhân dân lại xin thêm vào đây những lệ mà làng ta mới đặt ra để đối phó với  những sự trạng phức tạp của cuộc đời mới rồi biên thành quyển Hương ước này, cọng tất cả mười ba tiết và 181 khoản.

 

HƯƠNG ƯỚC xem như quyển Luật của làng, nhắc nhở nhân dân làm trọn những bổn phận của kẻ công dân trong làng cả chỉ bảo làm điều hay, tránh điều lỗi.

 

HƯƠNG ƯỚC lại còn là cái lợi khí cho nhân dân dùng để bảo vệ danh dự và quyền lợi chính đáng của mình nữa.

 

Bởi thế cho nên, trong làng người nào cũng phải tôn trọng HƯƠNG ƯỚC và thường ngày đem ra đọc để tìm lấy những điều lợi ích cho mình.

 

 

ƠNG ƯỚC LÀNG CHÁNH LỘ, TỔNG NGHĨA ĐIỀN

 

 

TỈNH QUÃNG NGÃI, TỔNG NGHĨA ĐIỀN

PHỦ TƯ NGHĨA, LÀNG CHÁNH LỘ

 

HƯƠNG   ƯỚC

TIẾT THỨ NHẤT:  

HỘI ĐỒNG  ĐẠI  HÀO MỤC

 

Mục 1 Thiết lập

 

Khoản 1. Trong làng sẽ thiết lập một Hội đồng mịnh danh là Hội đồng đại hào mục hay là Hội đồng Hương chính đặt dưới quyền kiểm soát, bảo vệ và hướng dẫn của Quan trên (Tòa, Tỉnh, Phủ).

Hội đồng gồm có những người kỳ hào tộc biểu, làm Hội viên, lý hương và chánh, phó xã đoàn đương thứ tham dự. Sẽ lựa trong bốn xóm, mỗi xóm một người có tuổi tác, phẩm hàm hay có lịch duyệt để làm cố vấn cho Hội đồng.

 

Khoản 2. Người chủ tịch của Hội đồng ấy gọi là Đại hào mục, sẽ chọn trong những người phẩm hàm, danh vọng hay trong những người kỳ hào, tộc biểu và cựu lý hương.

Đại hào mục có thể ủy quyền cho một người kỳ hào hay tộc biểu đủ tư cách thay mình, nhân gặp việc trở ngại không thể làm phận sự được.

 

Khoản 3. Hội đồng sẽ có một người thư ký chuyên tiếp nhận thư văn gởi đến cho Hội đồng hay đệ giao thư văn của Hội đồng gởi đi và chuyên làm sổ sách về kế toán; ngoài những sổ sách giao cho Hương bổn và những Hương chức khác.

Người thư ký ấy sẽ chọn trong những người có học lực khá trong làng. Tiền phụ cấp hay tiền lương sẽ do Hội đồng định cấp, nhưng phải có Toà, Tỉnh duyệt y mới được. Nhưng bây giờ thì nên lựa một kỳ hào hay tộc biểu để kiêm luôn chức ấy, nhưng không lãnh phụ cấp hay lương hướng gì cả.

 

Khoản 4. Hội đồng sẽ làm một con dấu tròn do Đại hào mục giữ, đường kính rộng không qua 4 phân, ở trong khắc chữ “Hội đồng đại hào mục” và vòng ngoài khắc chữ “Làng Chánh lộ, tổng Nghĩa điền, phủ Tư nghĩa, tỉnh Quãng ngãi”. In dấu bằng mực đen hay mực xanh.

 

Mục 2 Tuyển trạch

 

Khoản 5. Những người Đại hào mục, Kỳ hào, Tộc biểu, Cố vấn đầu tiên đều do tất cả viên nhân trong làng lựa cử rồi đệ bẩm Toà, Tỉnh duyệt y. Sau khi Hội đồng Đại hào mục thành lập, những người làm chức ấy sẽ do Hội đồng này tuyển trạch.

Nếu có hai người hay nhiều người ứng cử làm một chức, thì sự tuyển trạch sẽ làm theo cách đầu phiếu. Người nào hơn người tranh cử một phiếu cũng đủ được chính thức trúng cử. Người trúng cử không được Toà, Tỉnh công nhận sẽ bị loại bỏ, và sự tuyển cử sẽ phải làm lại theo những điều kiện nói trên nầy.

 

Khoản 6.  Trừ thôi trước hay được tái cử, những người có chân trong Hội đồng phải làm việc trong một hạn là 3 năm. Song người nào làm việc biếng trễ, làm điều gì có phương hại đến danh dự và quyền lợi của làng, hay phạm đến những tội lỗi điếm nhục. Hội đồng có thể đồng thanh xin phép quan trên buộc người ấy phải từ chức ngay không cần phải đợi mãn hạn.

 

Mục 3 Quyền hạn

 

Khoản 7.  Hội đồng có những quyền hạn định rõ sau này :

1) Chăm nom thi hành những điều khoản trong Hương ước này.

2) Chăm nom gìn giữ cuộc trị an, trật tự và phong tục tốt trong làng. Kiểm cố việc làm của lý hương, chỉ vẽ giúp đỡ họ trong lúc thừa hành công vụ, tố giác những điều lỗi của họ và xin quan trên ban thưởng cho họ mỗi khi họ đã làm những việc lợi ích cho làng.

3) Báo trình những việc quan hệ xảy ra trong làng về mọi phương diện.

4) Trù liệu những việc lợi ích cho làng, bênh vực lợi quyền của làng và của dân làng trong vòng luật pháp, phạt những người có lỗi và thưởng những kẻ có công, theo lệ thưởng phạt ở khoản 158 sau này.

5) Chăm nom việc giáo hoá dân làng, giảng giải luật lệ, đạo đức, luân lý và tất cả những điều lợi ích khác cho họ nghe theo. Yên ủi họ trong cơn tai nạn, phân giải những việc rắc rối xảy đến cho họ và nhất là người có chân trong Hội đồng phải làm gương tốt cho họ noi theo.

6) Sắp đặt ngân sách của làng và trù hoạch các khoản chi thu. Duyệt lại những lời phân xử và sự phạt vạ của Ủy ban phân giải nói ở khoản 164 sau này và của lý hương khác mỗi khi có người đương sự kêu nài. Ngoài những quyền hạn định rõ trên này, Hội đồng không nên can thiệp vào công vụ của lý hương thường làm lâu nay, nhưng phải xem xét nếu lý trưởng, phó lý, ngũ hương, trong khi làm chức vụ có điều gì nhũng lạm, lầm lỗi làm thiệt hại đến nhân dân, có bằng cớ rõ ràng, thì bổn phận của Hội đồng là phải trình lên quan trên xét, để trừ các thói tệ ấy.

 

 Khoản 8. Mỗi năm trừ những phiên nhóm bất thường, Hội đồng Đại hào Mục phải nhóm bốn kỳ vào ngày rằm tháng ba, tháng sáu, tháng chín, tháng chạp. Trừ phiên nhóm sau cùng riêng để kiết tính sổ, sách, công việc làm trong năm, và dự trù ngân sách về năm sau, trong tất cả những phiên nhóm khác, buổi mai Hội đồng bàn định việc làng, buổi chiều duyệt xử những việc thưa kiện, nếu có những việc ấy. Phiên nhóm cũng có thể kéo dài ra nhiều ngày nếu gặp những việc khó khăn phiền phức.

 

Mục 4 Học tập

 

Khoản 9.  Hội đồng  xã thôn do Đại hào mục chiêu tập. Trước kỳ hội năm ngày ông này làm giấy mời những người có chân trong Hội đồng và tường cho viên quan trong làng biết. Trong giấy phải ghi rõ ngày, giờ và đề mục nghị sự. Người nào gặp việc trở ngại không thể đến dự được, phải làm giấy xin cáo trước hay viết lời xin cáo vào giấy mời rồi trả lại cũng được.

Hội đồng sẽ đặt dưới quyền chủ tịch của Đại hào mục hay người ủy quyền, Kỳ hào, Tộc biểu, bốn viên Cố vấn làm Hội viên, Lý, Hương, Chánh, Phó xã đoàn đương thứ tham dự.

Viên quan không có chân trong Hội đồng, cựu lý trưởng và thường dân cũng được đến dự, nhưng không có quyền bỏ thăm tán thành hay phản đối, song vẫn có quyền chất vấn định ở khoản 15 sau này.

 

Khoản 10.  Muốn được chính thức và hợp lệ. Hội đồng phải nhóm cho được hơn nữa số người có chân trong Hội, gồm cả lý hương, chánh, phó xã đòan đương thứ.

Trong những phiên nhóm Hội đồng, Đại hào mục hay người ủy quyền có trách nhiệm gìn giữ trật tự và không cho bàn bạc những vấn đề không ghi ở chương trình nghị sự. Mỗi khi quyết định những điều gì, có nhiều người chủ trì những ý kiến sai biệt thì sẽ dùng cách bỏ thăm, ý kiến nào được nhiều người bỏ thăm tán thành (hơn một phiếu cũng được) sẽ được công nhận. Nếu số thăm đồng nhau thì là của Đại hào mục hay người ủy quyền bỏ cho bên nào thì bên ấy được thắng lợi.

Những Hội viên vắng mặt đều phải công nhận những điều quyết định của Hội đồng.

 

Khoản 11.  Mỗi khi nhóm Hội đồng phải làm biên bản ghi rõ ngày, giờ, tên người hiện diện, chương trình nghị sự và tất cả những điều bàn bạc và quyết định của Hội đồng. Biên bản phải làm hai bổn có chữ ký của tất cả những người có mặt trong phiên nhóm. Một bản sẽ để trong tủ văn thơ của làng và một bản sẽ trình quan địa phương.

Phỏng như số người đến nhóm đông đủ, nên không có thì giờ lấy hết chữ ký, thì cũng có thể làm một bổn và một bổn trình quan địa phương. Bổn sao ấy phải có chữ ký và con dấu của Đại hào mục và lý trưởng chứng thiệt là đúng với bản chính.

 

Khoản 12.  Tất cả những điều quyết định của Hội đồng về những việc quan hệ hay đề cập đến quyền lợi và công bản của làng đều phải nhờ quan Địa phương đệ bẩm lên Toà, Tỉnh duyệt y rồi mới đem ra thi hành. Ở trường hợp này, tờ biên bản chính của phiên nhóm Hội đồng sẽ đệ bẩm lên quan trên chớ không được đệ bản sao.

 

Khoản 13. Mỗi năm, nhân phiên nhóm Hội đồng sau cùng về lúc tháng chạp, Hội đồng Đại hào mục định ngày nhóm Đại hội đồng sau lễ Tết Nguyên Đán, nhưng không khi nào để trể đến tháng ba.

Đại khái cách chiêu tập Đại hội đồng cũng giống như Hội đồng Đại hào mục, song ngoài những người có chân trong Hội đồng này tất cả các viên quan và tráng dân trong làng đều được đến dự.

Làng sẽ xin phép mời hai vị Thủ hiến trong Tỉnh và quan Địa phương đến chứng kiến.

Nếu qúy vị hay quan chức đại diện đến dự thì Đại hội đồng sẽ đặt dưới quyền chủ tịch danh dự của quí ngài.

Trong phiên nhóm nầy Đại hào mục đọc tờ trình nói về tình hình trong làng, các khoản chi thu tất cả các viện Hội đồng đã làm trong năm vừa qua, trình sổ dự toán về năm mới đến và những việc sẽ làm trong năm này.

Nếu không có ai khởi nghị, bác khước điều gì, Đại hào mục xin Đại hội đồng chấp thuận.

 

Khoản 14. Biên bản về phiên nhóm Đại hội đồng, phải có chữ ký của Đại hào mục, kỳ hào, tộc biểu, lý trưởng, bốn viên quan và bốn cựu hương chức, hay lão nhiêu (mỗi xóm một người) không có chân trong Hội đồng Đại hào mục. Biên bản này cũng như biên bản các kỳ hội đồng khác, sẽ trình quan địa phương duyệt chiếu.

 

Khoản 15.  Người trong làng không hạn là ai đều có quyền chất vấn Hội đồng Đại hào mục về tất cả các công việc xảy ra trong làng hay can cập đến quyền lợi của làng nhưng năm ngày trước phiên nhóm, phải trình cho Đại hào mục hay người ủy quyền biết trước những việc đem ra chất vấn để Hội đồng có đủ thì giờ soạn lời giải đáp.

 

Khoản 16.  Tất cả những việc bất bình hay xô xác giữa những người có chân hay tham dự Hội đồng trong khi làm việc làng, trước hết sẽ do Hội đồng Đại hào mục thu xếp, nếu thu xếp không được ổn thỏa thì Hội đồng sẽ trình việc ấy lên quan địa phương phân giải.

 

 

TIẾT THỨ HAI: TỔ  CHỨC  VỀ  TÀI  CHÁNH

 

Mục 1 Ngân sách

 

Khoản 17.  Muốn biết rõ các khoản chi thu của làng và muốn giữ cho các khoản ấy đúng mực thăng bằng nên làng ta ưng lập ngân sách. Các khoản chi thu từ đây đều bằng tiền chứ không bằng sản vật như trước nữa. Nếu có một vài khoản thu đặc biệt bằng lúa như các chủ xe nước nộp lúa biếu chẳng hạn, thì sẽ theo thời giá bán lúa ấy ngay lấy tiền nộp vào qũy làng.

 

Khoản 18.  Chỉ có Hội đồng Đại hào mục trong những phiên nhóm hợp lệ mới có quyền sắp đặt ngân sách của làng và trù định các khoản chi thu. Tất cả những nghị định của Hội đồng về việc chi chuẩn tiền bạc đều phải đệ bẩm Toà, Tỉnh duyệt y rồi mới được thi hành.

Trong khi làm việc cho làng Đại hào mục hiệp với lý trưởng có thể chi những món tiền nhỏ nhưng cộng lại không khi nào được quá 20đ00 trong một tháng. Nhưng sự tiêu phí ấy phải kê biên rành mạch rồi trình Hội đồng Đại hào mục duyệt y.

 

Khoản 19.  Mỗi năm trong phiên nhóm sau cùng vào lúc tháng chạp, Hội đồng Đại hào mục làm sổ dự toán trù định trước các khoản chi thu về năm sau.

Sổ dự toán sẽ đệ trình Đại hội đồng chấp thuận và Toà, Tỉnh duyệt y rồi mới đem ra thi hành. Nếu có hai vị Thủ Hiến thân đến dự Đại hội đồng nói ở khoản 13 trên nầy và đã phê duyệt trong biên bản phiên nhóm rồi thì khỏi phải đệ bẩm sổ dự toán xin duyệt y nữa.

Đại để sổ chi cần phải tương đương với sổ thu, nhưng nếu làng có làm những việc công ích công lợi to tát mà thiếu hụt tiền thì Hội đồng Đại hào mục trong những phiên nhóm hợp lệ có thể quyết định sự vay mượn. Nhưng mà sự vay mượn ấy phải có quan Địa phương và Toà, Tỉnh cho phép mới được. Trong ngân sách nên dự trù một khoản tiền để trả tiền vay mượn ấy cả vốn lẫn lãi.

Tiền dư của làng sẽ dành để làm những việc lợi ích công cộng, bổ vào các sự thiếu hụt và quân cấp cho dân.

 

Mục 2 Qũy làng

 

Khoản 20. Khi chưa sắm được một cái tủ sắt và đặt một người thủ qũy có đảm bảo chắc chắn, muốn được gìn giữ cẩn thận và sinh lợi ra nữa, tiền quỹ làng sẽ đem gởi cho nhà Nông phố ngân hàng Tỉnh Quãng Ngãi.

Sẽ xin Ngân hàng mở một sổ ký trử (Compte de Dépôt) cho làng ta và các việc gởi tiền, rút tiền đều làm theo sổ ấy.

 

Khoản 21.  Mỗi khi Hội đồng Đại hào mục nhóm để quyết định chi một món tiền gì, ngoài số biên bản phải làm, nên làm thêm một bản nữa đưa cho nhà Ngân Hàng.

Khi đã được Toà, Tỉnh duyệt y, sự chuẩn tiền ấy, Đại hào mục hay lý trưởng; hoặc hai người hiệp lại đem tờ biên bản làm thêm nói trên này có chữ ký và ấn của quan Địa phương và Tỉnh Toà đến Ngân hàng xin rút số tiền định trong biên bản. Chỉ hai người ấy mới có tư cách ký nhận tiền ở Ngân Hàng.

 

Khoản 22.  Nếu làng có làm những việc công ích cần phải chi một món tiền to lớn để trả cho người lãnh hàng hay thầu khoán, làng có thể làm “BÔNG” giao cho những người này đến Ngân Hàng rút tiền ở sổ ký trử của làng, “BÔNG” ấy phải có chữ ký của lý trưởng hay Đại hào mục hoặc  người ũy quyền của Đại hào mục.

Nhưng trước khi rút tiền làng cũng phải gởi cho Ngân Hàng một tờ biên bản có chữ ký và ấn của quan Địa phương và Tỉnh Toà về phiên nhóm của kỳ Hội đồng Đại hào mục đã quyết định chuẩn số tiền làm việc công ích ấy. Khi nào tất cã số tiền ghi trong “BÔNG” bằng tiền ghi trong biên bản, thì việc rút tiền phải đình lại, chờ có nghị định khác của Hội đồng.

 

Khoản 23.  Không cần phải có nghị định của Hội đồng, Đại hào mục hay lý trưởng, cũng có thể rút ở Ngân Hàng những số tiền nhỏ, để tiêu về việc làng như đã nói ở khoản 18 trên này. Nhưng trong một tháng, những số tiền ấy cộng lại không bao giờ được qúa 20đ00.

Khi hương ước được quan trên duyệt y rồi, làng sẽ sao các điều khoản về mục 2 này nhờ quan trên chuyển giao cho quan chánh Ngân Hàng biết. Làng sẽ xin Ngân Hàng nếu tiện được, mỗi khi có người rút tiền ở sổ ký trử của làng đều báo cho Đại hào mục biết để báo lại hương bổn hay thư ký của làng ghi vào sổ sách.

 

Mục 3 Kế Toán

 Khoản 24.  Việc kế toán của làng sẽ giao cho hương bổn và thư ký của Hội đồng Đại hào mục chuyên làm. Ngoài những quyển sổ chi thu của nhà nước phát cho làng, người thư ký có thể mở thêm những quyển sổ kế toán khác. Sổ sách của hương bổn và của thư ký đem so sánh với nhau, tuy có khác về sự sắp đặt và cách biên chép, nhưng về số mục chi thu nhất thiết phải cho phù hợp với nhau.

 

Khoản 25.  Theo nguyên tắc, người thư ký phải giữ những sổ sách như sau đây :

Kế toán về tiền bạc

1) Một quyển  Kết “ gồm có hai phần : thu và chi, để biên tất cả những khoản tiền thu, xuất

2) Một quyển sổ cái có hai phần thu và chi. Dưới mỗi phần tờ giấy sẽ chia ra thành nhiều cột, trong mỗi cột sẽ ghi một số thu hay chi.

Ví dụ như  Sổ công điền “,  Sổ cứu tai truất nạn “,  Sổ phạt vạ v.v.. “

Sổ nào gồm có nhiều khoản thu xuất thì nên làm một quyển sách riêng, cũng có hai phần thu, chi; để ghi từng việc và từng số tiền với tất cả những điều chi tiết để tiện việc tính toán và kiểm soát.

 

Kế toán về vật liệu

Khoản 26.  Loại kế toán này gồm có những quyển sổ kể sau này :

1) Một quyển sổ biên nhân công tư ích.

2) Quyển sổ biên số nhân công trợ dịch và phạt dịch.

3) Quyển sổ biên nhà cửa và khí mịnh của làng trị giá mỗi vật (mỗi năm sẽ chi trong ngân hàng món tiền để bù vào sự giảm giá của các vật

4) Một quyển sổ biên công điền công thổ của làng. Về nhân công tư ích và phạt dịch nếu có người xin chuộc bạc thì số tiền sẽ ghi nhập trong sổ  Kết “ và nhân công đã chuộc rồi sẽ biên xuất ở sổ nhân công.

 

Khoản 27. Sẽ dùng những quyển sổ biên lai tồn căn có ghi số hiệu để biên nhận những số tiền trả cho làng và để người ta ký nhận những món tiền của làng trả. Những số tiền trong biên lai phải viết bằng chữ số và chữ thiệt không được gôm tẩy hay dồ bỏ. Nếu viết lầm thì nên viết lại ở biên lai khác tiếp liền theo sau, nhưng cái biên lai viết quấy phải để dính y như củ, không nên xé bỏ đi. Trong biên lai đều có đóng dấu Đại hào mục.

Tất cả những biên lai lưu chiếu với những đơn hàng hay giấy kê biên, tờ biên nhận v..v về tiền bạc, đều sắp theo thứ tự, số hiệu, hay ngày tháng, giữ gìn cẩn thận trong tủ văn thơ của làng để chứng minh những việc thu chi.

Tùy theo từng việc giản dị hay phiền phức, Hội đồng Đại hào mục sắp đặt việc kế toán cho minh bạch, cốt để kiểm soát cho dể, và có thể làm thêm những quyển sổ cầu ích khác, với những quyển sổ kể ở trên này.

 

Khoản 28.  Chỉ một mình lý trưởng có quyền nhận tiền của người ta trả cho làng, giao tiền của làng trả cho người ta và chịu lấy hết cả trách nhiệm. Lý trưởng ký tên và áp triện vào biên lai, người trả ký tên hay điểm chỉ vào phần biên lai lưu chiếu.

Người trả tiền nên nài cho được biên lai có dấu Đại hào mục đóng trước. Nếu lý trưởng viết biên lai bằng giấy thường thì đừng nên đưa tiền trả, nếu không theo lời chỉ bảo này mà rũi lý trưởng lạm tiêu tiền ấy đi, nhất định làng không chịu trách nhiệm.

 

Khoản 29.  Người nào thiếu tiền của làng mà để quá kỳ hạn không chịu trả, Đại hào mục hay lý trưởng bảo thư ký hay thủ bổn làm giấy sai người đi đòi. Sẽ làm một thức giấy gọi là “ Giấy đòi tiền “ có ghi số hiệu, tên người thiếu và số tiền phải trả. Đại hào mục hay lý trưởng ký áp vào giấy ấy. Khi tiền đã nộp xong rồi thì Đại hào mục hay lý trưởng làm biên lai chính thức gởi cho người trả tiền để đổi hay hủy bỏ giấy đòi tiền kia.

Người nào lãnh giấy thâu tiền cho làng, phải ký vào một quyển sổ riêng, ghi rõ tên người thiếu nợ, số giấy đòi, và số tiền phải đi đòi. Người đi đòi hễ nhận được tiền rồi thì đưa giấy đòi cho người trả. Nếu đánh rơi giấy đòi đi mà người thiếu tiền lượm được và lại nói rằng đã giao tiền rồi, thì người đi đòi phải chịu trách nhiệm.

Người nào để quá hạn ba tháng mà chưa trả tiền thiếu cho làng thì phải chịu thêm tiền phí tổn một phần trăm về việc đòi hỏi. Người đi thu tiền đắc lực cũng có thề lĩnh một món tiền thưởng, nhưng không khi nào qúa một phần trăm về số tiền mình đã thu được. Lệ thưởng tiền này không phải là nhất định, Hội đồng Đại hào mục lâm thời tùy theo từng trường hợp nghỉ định nên hay không nên cấp thưởng.

 

Khoản 30.  Trước khi làng đủ sức mua sắm sổ sách in, thì người thư ký có thể làm sổ sách bằng giấy thường và giữ gìn cho sạch sẽ, như có chữ quấy sót nên viết lại lên trên bằng mực đỏ rồi xin Đại hào mục hay lý trưởng duyệt ký. Trước khi làng có phòng giấy ở nhà Hội, Hương bổn hay người thư ký được phép để sổ sách ở nhà mình, song người làng bất kỳ là ai hay quan trên có đến xem xét sổ sách ấy và hỏi han điều gì thì phải đem trình và giảng giải. Sổ sách nào viết hết rồi thì nên đem thưa với Đại hào mục và lý trưởng ký vào rồi đem để tủ văn thơ của làng.

 

Mục 4 Kiểm soát

 

Khoản 31.  Sẽ thiết lập một ủy ban kiểm soát gồm có Đại hào mục, một kỳ hào và một viên quan, mỗi tháng nhóm một kỳ vào một ngày nhất định, về cuối tháng ở nhà Hội của làng, để kiểm xét, kiết tính sổ sách tất cả công việc chi thu trong tháng ấy. Những người giữ sổ sách về kế toán và thu tiền cho làng, đến ngày ấy đem sổ sách, sổ biên lai, giấy tờ khác và tiền bạc đến giao cho ủy ban kiểm xét. Buộc người nào gặp việc trở ngại không đến được, phải giao sổ sách và tiền bạc cho người nhà đến nộp, không được viện một cớ gì để hoãn lại.

 

Khoản 32.  Ủy ban kiểm soát sổ sách nhận tiền bạc, làm giấy mực xong rồi phải đem tiền gởi vào Nông Phố Ngân Hàng, lấy biên lai đem giao cho thủ bổn hay thư ký nhận giữ.

Những người thu tiền cho làng không nên để nhiều tiền trong mình. Nếu thu được từ 5đ00 trở lên, thì liền đem đến nhà Ngân Hàng nộp vào sổ ký trử của làng lấy biên lai rồi đến cuối tháng đem trình ủy ban kiểm soát. Người nào lạm tiêu tiền của làng sẽ bị truy vấn trước Tòa án phủ Tư Nghĩa. Ngoài những sự trừng phạt mà Toà án sẽ chiếu luật thi hành làng sẽ xem người ấy như kẻ thiết đạo và đối đãi với họ cũng như đối đãi với kẻ thiết đạo.

 

TIẾT THỨ BA

 

TOẠ  THỨ

 

Mục 1 Đình gian giữa

 

Khoản 33.  Trong làng người nào thi đậu thạc sĩ, tấn sĩ, hoặc làm quan tới Chánh Khanh, ngồi ngay đình gian giữa biệt tịch.

 

Mục 2 Nhà đông gian giữa

 Khoản 34. Trong làng người nào làm quan văn hay võ đến ấn quan, ngồi nơi gian giữa biệt tịch trước các quan văn võ thuộc viên.

 

Khoản 35. Các quan văn võ thuộc viên và tân cựu học cử nhân tú tài các bằng cấp tân học có giá trị tương đương và cao đẳng tiểu học văn bằng thọ dân đều tùy theo phẩm thứ (văn tả võ hữu) ngồi gian giữa ghế thứ.

 

Mục 3 Gian tả

 

Khoản 36. Miễn sai, miễn điêu, sơ học văn bằng, đương thứ kỳ hào Tộc biểu, Lý hương, Chánh, Phó xã đoàn chiếu theo vị thứ mà ngồi.

 

Mục 4 Gian hữu

 

Khoản 37.  Biền binh và cựu hỳ hào, Tộc biểu, Lý hương, Chánh, Phó xã đoàn, chiếu theo vị thứ mà ngồi.

 

Khoản 38.  Về năm khỏan tọa thứ kể trên, đã có định lệ rồi, song trừ khoản thứ nhứt ra, viên nhân nào hoặc vị tình bà con, thày trò hay vị tuổi tác thuận nhượng ngồi cũng được.

 

Mục 5 Nhà tây ba gian

 

Khoản 39.  Lão nhiêu, Ấp dịch, Thập đoàn, Tuần đinh, Thủ khoán ngồi ngoài gian giữa, dân tráng ngồi gian tả, dân mới nhập và dân ngụ ngồi gian hữu, đều tùy tuổi mà phân trước sau.

 

TIẾT THỨ TƯ

 

TẾ  LỄ

 

Mục 1 Thần sắc

 

Khoản 40. Thần sắc là hữu vật của làng nên để tại đình và đặt một người thủ sắc để giữ. Mỗi năm, bốn kỳ, (rằm tháng ba, tháng sáu, tháng chín, tháng chạp) Chủ bái và Lý, Hương đều đến đình họp với thủ sắc đem thần sắc ra phơi rồi niêm phong lại.

 

Mục 2 Nguyên đán

 

Khoản 41. Thường năm đến tiết nguyên đán, trước một ngày Lý, Hương sức dân đem cờ, đem đèn để trần thiết trước đình.

Đúng ngay nguyên đán, Quan Viên, Chủ bái, Hào Biểu, Lý hương, Chánh, Phó xã đoàn đều phải đến tại đình làm lễ.

Đồ trần thiết giao cho đình phu giữ, Hương kiểm, Chánh phó, xã đoàn cũng phải sức dân canh phòng cho đến khi hết tết.

Lễ dùng hương, đèn trấm, trà, trầu, cau, rượu.

 

Mục 3 Xuân thủ

 Khoản 42.  Thường năm đến ngày rằm tháng giêng có làm lễ xuân thủ. Đến ngày ấy Quan viên, Chủ bái, Hào biểu, Lý, Hương, Chánh, Phó xã đoàn đều đến đình làm lễ.

Lễ dùng hương ,đèn, trầm, trà, trầu, cau, rượu.

 

Mục 4 Khai thác

 Khoản 43.  Thường năm đầu tháng giêng tục làng có làm lễ khởi mỏ. Giao Lý, Hương chọn ngày tốt cử hành lễ ấy.

Lễ dùng hương, đèn, trầm, trà, trầu, cau, rượu.

 

Mục 5 Xuân tế, Thu tế

Khoản 44. Thường năm ngày rằm tháng hai tại đình có làm lễ tế xuân. Trước một ngày, Quan Viên, Chủ bái (Ông Tiên chỉ sung hành, hoặc Ông Tiên chỉ chọn người cần ủy) Hào Biểu Lý Hương, Chánh, Phó xã đoàn. Lễ sanh đều nhóm tại đình để chọn người dự lễ. Chọn xong, người nào chuyên việc gì phải kê biên yết tại nhà Hội cho biết. Sức dân đem cờ trống đến trần thiết trước đình cho long trọng. Đoạn làm lễ.

Lễ dùng hương, đèn, trầm, trà, trầu, cau, rượu, quả phẩm, sanh tư.

 

Khoản 45. Lúc tế ai nấy lo phần việc mình mà làm lễ. Chánh, Phó xã đoàn ở ngoài giữ gìn trật tự không được cho người ngòai vào. Lý trưởng hay Hương hộ đứng hầu lễ. Tế xong rồi thì dùng cái dầu con sanh chinh tế cẩn Ông Tiên chỉ (phần hành của Hương bộ) còn bao nhiêu dùng để khoản đãi những người đến dự lễ, chớ không có đặt phần kính biếu nữa.

 

Khoản 46.  Thường năm hễ đến ngày rằm tháng tám thì làm lễ tế Thu. Đại để việc cử hành lễ ấy cũng giống như lễ tế xuân.

 

Mục 6 Chạp đình

 Khoản 47. Thường năm hễ đến ngày 25 tháng chạp thì làng làm lễ chạp đình. Sáng ngày ấy, Chủ bái và Lý, Hương đều đến tại đình sức bác dân phu quét dọn sạch sẽ và trần thiết cho long trọng rồi cử hành lễ ấy.

Lễ dùng hương, đèn, trà. Trầu, cau, rượu, qủa phẩm, sanh tư

 

Mục 7 Phật tự

 Khoản 48. Trong làng có một sở chùa hiệu là chùa Long tiên. Đồng ưng đặt một người thầy chùa làm trù trì để giữ chùa ấy. Theo lệ chùa có làm lễ tam nguyên (rằm tháng giêng, tháng bảy, tháng mười) lễ nguyên đán (ngày mồng một tháng giêng). Đến mỗi ngày lễ ấy Chủ bái, Lý, hương đều đến chùa làm lễ. Lễ cúng giao cho trù trì chùa ấy chuyên biện.

Lễ dùng hương, đèn, trầm, trà, trai, bàn, quả phẩm.

 

Mục 8 Tôn thần Từ úy nhật

 Khoản 49.  Thường năm đến ngày kỵ tôn thần, trước một ngày. Lý, Hương bắt dân đem cờ trần thiết tại tôn thần từ. Đến này kỵ, Chủ bái, Lý Hương đến thần từ làm lễ.

Lễ dùng hương, đèn, trầm, trà, trầu, cau, rưự«u, quả phẩm. Còn thần sắc ưng rước cùng không, tùy nơi người tự trưởng tôn thần. Như ưng rước thì người tự trưởng ấy phải làm tờ thưa trước ba ngày, xin như dân phu và đồ nghi lễ rước thần sắc là bao nhiêu. Lý trưởng phải sức bác dân phi sửa soạn những đồ nghi lễ ấy rồi đến ngày cùng với chủ bái, tôn thần tự trưởng và lễ nhạc đều đến đình rước thần sắc về tôn thần từ. Tế xong, đem thần sắc về đình trở lại nhà thờ tôn thần dự cuộc khoản đãi.

 

Mục 9 Hưng quốc khánh niệm

Khoản 50.  Thường năm đến ngày mùng hai tháng năm chính là tiết Hưng quốc khánh niệm. Ngày ấy thật sớm Quan Viên, Hào Biểu, Lý, Hương, Chánh, Phó xã đoàn, đều đến đình sở trần thiết cho long trọng để cung hạ khánh lễ

 

Mục 10 Quốc khánh

Khoản 51.  Thường năm mỗi đến ngày Quốc khánh, Quan viên, Hào biểu, Lý, Hương, Chánh, Phó xã đoàn đều đến tại đình sở cho thật sớm để trần thiết, cung hạ khánh lễ.

 

Khoản 52.  Trong làng viên nhơn nào quá cố mà lúc sanh thời có công đức với làng, mỗi đến ngày kỵ, như người tự chủ có mời, thì Lý hương đem lễ đến cúng. Lễ dùng trầu, cau, rượu.

 

Khoản 53.  Tất cả những khoản chi phí về các việc tế lễ hay đi lễ đều trích lấy trong công quỉ của làng và sẽ định rõ trong sổ dự toán mà cuối năm Hội đồng Đại hào mục phải làm như nói ở khoản 19 trên nầy.

 

TIẾT THỨ NĂM

 Mục 1 Khánh hạ

 

Khoản 54. Trong làng Quan viên nào văn tự thất phẩm, võ lục phẩm trở lên được thăng thưởng (trừ những người tại chức) và thi đỗ Thạc sĩ, Tấn sĩ, Cử nhơn, Tú tài và tất cả những bằng cấp khác có giá trị tương đương. Lý, Hương bác sức dân phu đem đồ nghi lễ rước về đình yết thần đoạn dùng trầu, cau, rượu, pháo (hai phong) làm lễ mừng tại đấy. Tiền chi phí về cuộc rước ấy do công quỉ làng chịu. Trái lại Quan viên nào văn từ bát phẩm, võ từ thất phẩm trở xuống, nếu có xin thì làng mới rước theo nghi lễ như trên, song phí tổn quan viên ấy phải chịu.

 

Khoản 55.  Trong làng viên nhơn nào được thăng thưởng từ cấu quan và thi đổ Tú tài trở lên làng sẽ dùng lễ đi mừng. Lễ mừng gôm có một bàn trầu, cau, rượu và một câu liễn. Còn viên nhơn nào sơ bổ thuộc quan thi đổ Cao đẳng tiểu học văn bằng và được biển ngạch thì lễ mừng sẽ là một bàn trầu, cau, rượu mà thôi. Phí tổn sẽ do quỉ làng chịu.

 

Khoản 56.  Người nào được sắc tứ thọ quan, thọ dân, tứ ngũ đại đồng đường, nghĩa phụ, tiết phụ, hiếu tử, thuận tôn, các biển ngạch, muốn rước về nhà làm lễ mừng thì ba ngày trước phải xin dân phu và đồ nghi lễ. Lý hương phải cung nhu cho đủ theo lời người ấy xin đề cử hành cuộc rước. Sẽ dùng một bàn trầu, cau, rượu, hai phong pháo để làm lể mừng. Tiền chi phí sẽ do công qủi làng chịu. Xã thôn nào có việc khánh hỉ đến mời làng mình, lâm thời sẽ liệu định

 

Mục 2 Tang lễ

 

Khoản 57.  Trong làng viên nhơn nào tệ thế, hạn trong 24 giờ, tang chủ phải đến Hương bộ xin giấy chứng chỉ. Nếu người chết là quan chức thì hạn từ một ngày cho đến một tháng, nếu là thứ dân thì từ một ngày đến tám ngày, người tang chủ phải lo tống táng cho xong, trừ những người chết về bệnh truyền nhiễm như : dịch tả, dịch hạch, đậu mùa thì phải chôn liền.

Lễ điện tế và lễ táng cần phải làm kiệm ước. Đối với người làng họ bạn bè, đến thăm, điếu, người ở gần thì tang chủ chỉ dùng trầu nước, xa thì dùng cơm thường khoãn đãi, không được đặt rượu thịt ăn uống như những tiệc vui. Nếu người qúa cố chết về bệnh truyền nhiễm thì tang chủ không được đãi đằng, dầu là cơm thường cũng vậy.

Trước khi làm lễ táng người chết, tang chủ phải trình cho Lý Hương biết ngày giờ chôn và chôn tại chỗ nào.

 

Khoản 58.  Trong làng người nào có công đức với làng, hay vợ người ấy quá cố, thì nên chiếu tùy phẩm vọng mà đi điếu (dùng tiền bạc hay phẩm lể) và đưa đám (dùng cờ trống). Người nào xuất ngụ, nên tùy theo ngụ quán tục lệ, còn đối với người tha xã mà làng ta niệm tình tống điếu thì lâm thời sẽ liệu định.

 

Mục 3 Khao vọng

 

Khoản 59.  Trong làng nhà nào có làm những lễ như là tế xuân, tế thu, kỵ lạp, khao thổ, làm chay, hoàn nguyện, tùy theo nhà giàu nghèo mà làm không nên xa xỉ thái quá, chí như những việc đồng bóng, phù pháp, để lợi dụng lòng mê tín của người thì nhất thiết cấm chỉ.

 

Mục 4 Hôn lễ

 Khoản 60.  Việc hôn nhơn rất hệ trọng cho đời người con trai con gái. Cha mẹ hay anh trưởng vẫn có quyền định đoạt gia thất cho con em mình, tuy nhiên cũng nên tùy lòng ưng muốn của chúng nó, không nên ép uổng, làm hỏng cuộc đời và hạnh phúc của đôi vợ chồng vì không thương yêu nhau.

 

Khoản 61. Người làm con em không nên vượt quyền cha mẹ hay anh trưởng mình mà tự tiện kết hôn. Làm như thế là phạm luật nhà nước, trái lệ làng, mà cũng là một điều không phải đối với gia đình của mình nữa. Phương chi cuộc hôn phối không hợp pháp không được gia đình công nhận là một cuộc hôn phối thiếu hạnh phúc mà lại còn có khi sinh tủi hổ cho mình nữa.

 

Khoản 62.  Hôn lễ nên làm đơn giản. Sự đơn giản vẫn không làm mất vẻ long trọng của một cuộc hôn thú hợp pháp. Nhà gái không nên xem việc gả con lấy chồng như việc buôn hàng hoá cần phải đặt gía cho cao, mong thu lợi cho nhiều. Người nào làm như thế không những không biết làm trọn cái thiên chức của mình đối với con em mà lại còn làm giảm nhân phẩm của chúng nó nữa.

 

Khoản 63.  Việc hôn thú để dây dưa ra nhiều ngày thường sinh tệ mà không có lợi gì cho hai họ kết hôn với nhau. Bởi vậy cho nên trừ khi có duyên cớ chính đáng, từ một tháng đến sáu tháng việc giao ước kết hôn nên làm cho thành.

Trong làng về trước có lệ nộp tiền giai lang, nay ưng bãi bỏ.

 

Mục 5 Nhân thế bộ

Khoản 64.  Nhà nước đặt ra nhân thế bộ để kiểm điểm những việc sinh tử, giá thú trong nước. Hương bộ trong làng nhận giữ sổ ấy nên cẩn thận trong việc biên chép, xát sát những lời khai bao giờ cũng phải làm cho đúng lệ.

 

Khoản 65.  Người trong làng nên biết rằng việc ấy rất có quan hệ mật thiết đến tình trạng và sự sinh hoạt của làng và của cá nhân trong làng. Mỗi khi gặp một việc trong những việc ấy, nên đến Hương bộ khai báo ngay, lời khai phải làm cho chân thật và cũng không nên để chậm trể.

Nhờ nhân thế bộ mà ta có thể tránh những sự bất công trong việc trước tịch, chính thức hưởng quyền lợi của kẻ có công dân và cũng nhờ nhân thế bộ mà việc học hành của con em ta được dễ dàng, những việc cưới hỏi được hợp pháp. Ta cũng thường thấy vì không có tờ khai sinh chính thức mà những người được bổ làm việc hay xin vào trường học phải gặp những sự khó khăn, vì không có  một tờ khai hôn thú chính thức mà một người vợ mất địa vị và quyền lợi của mình trong gia đình.

 

TIẾT THỨ SÁU: CẦM  PHÒNG

 

Mục 1 Động tịnh

 

Khoản 66.  Cầm phòng về việc động tịnh là một vấn đề tối ư quan trọng để gìn giữ cuộc trị an trong làng. Có hai trường hợp :

1- Phòng ngừa những việc biến động có thể xảy ra.

2- Đối phó với việc biến động đương xảy đến.

 

Khoản 67.  Về trường hợp thứ nhất. Cùng với chánh, phó xã đoàn có chức trách đặc biệt trong việc ấy, tất cả nhân dân trong làng đều liên lạc chịu trách nhiệm chung, đối với việc cầm phòng, trong lúc yên tịnh, cũng như đương khi biến loạn. Bởi thế cho nên bất cứ người trong làng hễ trông thấy kẻ lạ mặt hay có vẽ khả nghi vào làng mình, tức thì phải báo cho người hương chức ở gần mình biết. Người hương chức bèn dò hỏi cho biết căn cước và sở hành của người ấy. Nếu quả có điều đáng nghi, như là xét không có bài chỉ, căn cước, hay là người ấy có mang theo những đồ quốc cấm, thì nên giữ lại, rồi báo cho Đại hào mục hay Lý trưởng biết để giải đến Quan Địa phương cứu xét. Nên hết sức thận trọng và nhã nhặn trong việc ấy để khỏi xâm phạm danh dự và tự do của người lương thiện. Nhà nào chứa kẻ xa đến trọ, muốn tránh những việc lôi thôi cho mình nên đến báo cho nhà chuyên trách trong làng biết trước.

 

Khoản 68.  Hết thảy những việc tụ họp được Quan trên cho phép cần phải có một người đại diện của làng đến dự. Bởi thế cho nên nhà nào có tổ chức những cuộc tụ

họp nói trên, nên trình giấy phép cho Đại hào mục biết, để chọn phái người đại diện đến dự. Người đại diện ấy có thể là Đại hào mục, một người kỳ hào, Lý trưởng hay là một hương chức khác. Người đại diện có chức trách coi chừng trong lúc nhóm họp có kẻ nào lợi dụng cơ hội để diễn thuyết, hay tuyên truyền, về những việc phi pháp trái với mục đích của cuộc hội họp được quan trên cho phép ấy.

 

Khoản 69.  Theo luật lệ hiện hành của Nhà nước, ta vẫn được tự do làm những lễ như là Quan, Hôn, Tang, Tế; nhưng muốn phòng ngừa những việc tư hiềm, đâm điểm có thể xảy ra được và nhất là muốn được lòng tín nhiệm của quan trên, nhà nào có cử hành một trong bốn lễ kể trên mà cần phải tiếp đãi trên hai mươi người ở trong làng hay ở làng khác đến, thì trước 15 ngày phải báo cho tộc biểu biết nhất định ngày giờ nào sẽ cử hành lễ ấy. Tộc biểu tức thì chuyển đệ lời báo ấy lên Đại hào mục để ông nầy hiệp với lý trưởng làm tờ báo trình quan Địa phương tri chiếu. Người có việc muốn thân hành đến báo thẳng với Đại hào mục hay lý trưởng cũng được.

Đến ngày, trừ gặp việc trở ngại, tộc biểu cũng nên đến nơi để quan sát tình hình trong lúc hành lễ.

 

Khoản 70.  Về trường hợp thứ nhì. Chẳng may gặp cơn biến động, tất cả những người chuyên trách và nhân dân trong làng phải đoàn kết lại thành một sức mạnh để đối phó. Nếu có phải đối đầu với bọn phiến động đến làng mình, trong lúc chờ đợi sự tiếp cứu của quan trên, ta nên giữ thái độ cương quyết và can đảm. Nếu phải hy sinh tính mệnh để bảo vệ cuộc trị an cho làng v tỏ lòng trung thành với Nhà nước, thì cũng là cái nghĩa vụ nên làm.

 

Khoản 71.  Về việc cầm phòng động tịnh, làng ta đã sẵn có 200 dân đoàn. Đội dân đoàn ấy xem như đội lính dũng của làng cần nên tổ chức lại cho chỉnh đốn hơn trước.

Đương khi biến động có thể chia dân đoàn ra từng nhóm, để việc đốc xuất cho được thuận tiện và nhất là cho có kỷ luật.

1) Quản đoàn gồm có 200 dân đoàn, kể cả cai đoàn trưởng và thập đoàn trưởng đặt dưới sự cai quản và mệnh lệnh của Chánh xã đoàn hay Phó xã đoàn khi người kia vắng mặt.

2) Đội đoàn gồm có 100 dân đòan kể cả cai đoàn trưởng và thập đoàn trưởng đặt dưới sự cai quản và mệnh lệnh của Phó xã đoàn.

3) Cai đoàn gồm có 50 người kể cả cai đoàn trưởng và thập đoàn trưởng đặt dưới sự cai quản và mệnh lệnh của Cai đoàn trưởng.

4) Thập đoàn gồm có 10 người kể cả thập đoàn trưởng đặt dưới sự cai quản và mệnh lệnh của người nầy

Trong lúc yên tịnh nên lựa một cai đoàn gồm có 50 người thường trực để làm việc cầm phòng mỗi khi có sức lệnh của quan trên. Còn 150 kia, thì tạm cho xuất đoàn và sẽ trước vào hạn trừ bị, đợi khi nào có xảy ra những việc biến động thì làng mới gọi vào Đoàn lại.

 

Khoản 72.  Trong khi thừa hành chức vụ, dân đoàn nhứt thiết phải tuân mệnh lệnh của Đoàn trưởng. Những sự trái lệnh, vô lễ và hành hung đối với kẻ bề trên trong đoàn sẽ bị trừng phạt hết sức nghiêm nghị theo điều khoản 158. Mỗi khi có xảy ra một việc phạm lỗi trên này, người đoàn trưởng phải trình đến Chánh hay Phó xã đoàn phân xử. Hai người này được phép phạt vạ đến 0đ20. Tiền phạt sẽ nộp vào quĩ làng. Nếu muốn phạt nặng hơn nữa, thì Chánh Phó xã đoàn phải trình lên Đại hào mục để ông này nhòm Hội đồng phân xử.

Những việc xô xát giữa dân đoàn đương khi làm chức vụ, đều giao  Chánh, Phó xã đoàn phân giải và phạt vạ người có lỗi đến 0đ20 là cùng.

 

Khoản 73.  Dân đoàn sẽ chọn trong những người tráng dân khoẻ mạnh của làng, từ tuổi thành dinh đến 45 tuổi. Bắt đầu từ ngày nhập đoàn, người dân đoàn làm việc từng thời kỳ một là 3 năm, trừ thôi trước hay đăng lại.

Người nào chu hạng đã xuất đoàn mà sức lực còn cường tráng sẽ cũng có thể gọi vào đoàn lại, nhưng khi đã làm việc đúng năm thời kỳ nghĩa là 15 năm, thì người ấy được hưởng sự yên nghĩ hoàn toàn, khỏi bị gọi vào đoàn nữa.

 

Khoản 74. Tất cả Chánh, Phó xã đoàn, cai đoàn, thập đòan và dân doàn đương khi làm chức vụ, đều được miễn trừ tư ích. Nhưng người dân đoàn trù bị không được hưởng sự miễn trừ ấy, nhưng ban đêm được miễn đi canh.

Những người dân đoàn thường trực, tuy không có sức lịnh của quan trên mặc dầu thường ban đêm cũng phải đi canh tuần và nếu gặp khi có kẻ cướp đến làng quấy rối, hay phải tiếp cứu một làng lân cận nào, thì phải hiệp với hương kiểm và dân canh tiếp ứng.

 

Khoản 75. Người dân đoàn thường trực nào chu hạng hay có duyên cớ chính đáng xin xuất đoàn, thì chánh, phó xã đoàn liền chọn trong những người trù bị, một người để điền thế. Nếu gặp những sự khó khăn trong việc lựa chọn thì chánh, phó xã đoàn

phải trình lên Đại hào mục để ông này nhóm hội đồng nghĩ định.

 

Khỏan 76. Người nào nỗi khi chu hạng mà thuận đăng liên tiếp :

Bốn thời kỳ (12 năm) sẽ được xem như miễn điêu

Năm thời kỳ (15 năm) sẽ được xem như miễn sai.

 

Khoản 77. Những người ở trong đoàn kể được 15 năm làm việc một cách gián đoạn mà không có phạm lỗi gì nặng, sẽ cũng được xem như miễn điêu.

Người nào nhờ trí thông minh và lòng dũng cảm lập được nhiều công đặc sắc, tuy không gồm đủ điều kiện về niên hạn kể trên cũng có thể đặc cách hưởng những sự vinh dự ấy.

 

Khoản 78. Những người được hưởng những sự vinh dự kể trên sẽ được Hội đồng Đại hào mục ban cấp chứng chỉ và tùy theo mỗi hạng cũng được hưởng những quyền lợi và sự đối đãi của làng cũng như những người thiệt chức, nhưng phải sau những người này.

 

Khoản 79. Chánh, phó đoàn nên làm một quyển sổ, ghi họ tên tuổi mỗi người dân đoàn, ngày nhập đoàn và ngày xuất đoàn và biên chu tất cả nhửng công trạng hay sự phạm lỗi của người dân đoàn ấy. Sẽ có thể lập những điếm canh riêng cho dân đoàn.

 

Mục 2 Đạo kiếp

 

Khoản 80. Cầm phòng để ngừa sự trộm cướp và nhân thế để giữ gìn tài sản cho nhân dân quan hệ cỹng không phải ít. Bởi vậy cần phải tổ chức việc canh tuần, cho chu đáo hơn.

 

Tổ chức canh tuần

 Khoản 81. Trừ Chức  sắc, miễn sai, miễn  nhiêu, lão nhiêu, phế tật, người trong làng bất câu chánh ngụ đều có phận sự đi canh. Hương kiểm hay Phó lý đốc suất việc canh tuần cho khỏi sơ suất.

Nên sửa sang những điếm canh củ và nếu có cần thì phải đặt thêm điếm canh mới ở những nơi hiểm yếu. Định địa phận của mỗi một điếm canh và chia phiên canh, ghi rõ ngày giờ cho minh bạch để người dân canh biết ứng hành cho tiện.

Giờ canh định từ 7 giờ đêm đến 6 giờ sáng. Mỗi điếm canh ít nhất cũng phải có mười người dân canh (hai dân đoàn tám dân tráng và dân bất kham)

Một đêm gồm có hai phiên canh, mỗi phiên , 5 dân canh. Phiên thứ nhất bắt đầu từ 7 giờ tối và mãn khi 12 giờ đêm. Phiên thứ nhì bắt đầu từ cuối 12 giờ đêm và mãn khi 6 giờ sáng.

 

Khoản 82.  – Người dân canh nào gặp việc gì ngăn trở không đi canh được (đau ốm hay có duyên cớ gì chánh đáng khác) phải xin phép nơi Hương kiểm và nói rõ duyên cớ. Hương kiểm ghi tên người khiếm diện vào sổ rồi lựa người dân canh đêm sau điền thế. Đến phiên canh đêm sau người khiếm diện phải đi canh trả lại cho người kia.

Không xin phép mà tự tiện ở nhà nếu trong đêm có xảy ra vụ trộm cướp nào trong làng, người khiếm diện xem như có dính dự vào vụ trộm cướp ấy, sẽ bị giải trình cứu xét. Nếu được xét ra là vô tội đi nữa, người khiếm diện không xin phép cũng phải bị phạt theo điều khoản 158 sau này.

 

Khoản 83. Người tình nghi thiết đạo, tối đến 7 giờ, phải đến điếm canh trong ấp mình để cho dân canh giữ, đến 6 giờ sáng mới được về. Nếu gặp việc trở ngại muốn ở nhà, thì phải làm tờ xin phép nơi Hương kiểm mới được. Trong giấy xin phép phải có phụ huynh đứng bảo lãnh và tộc biểu ký chứng.

Người tình nghi bị phạt đến điếm canh trong một hạn là hai tháng song trước hạn ấy, Hội đồng Đại hào mục xét quả người ấy đã  ăn năn bỏ tánh xấu sẽ được di tên trong sổ tình nghi.

Nếu lại làm cho người ta tình nghi nữa, thì kỳ hạn đến điếm canh sẽ kéo dài đến gấp hai gấp ba lần tùy theo từng trường hợp, và sẽ do Hội đồng Đại hào mục xét định.

 

Khoản 84.  – Những người bị án thiết đạo mà trong án có định rõ sự quản thúc thì khi được tha về, chiếu theo kỳ hạn trong bản án, tối nào khi bảy giờ cũng phải đến điếm canh sở tại, cũng như những người bị tình nghi, cho đến khi nào hết hạn mới thôi. Sau khi hết hạn quản thúc mà người ấy lại làm cho người ta tình nghi, thì sẽ bị bắt đi canh lại như nói ở điều khoản 83 trên nầy.

 

Khoản 85. – Tuy có việc tuần phòng chắc chắn của làng tổ chức mặc lòng, người trong làng có của phải giữ. Nếu rủi bị mất trộm cướp, liền báo cho Lý trưởng hau Hương kiểm biết, hai người nầy liền đến nơi, mở cuộc điều tra và làm biên bản kể những vật đã mất. Nếu là đồ dùng hay thú vật, nên tả rõ hình dạng, nếu là văn khế hay trích lục, thì nên ghi rõ số hiệu, giới cận, sào mẫu va giá tiền ruộng đất vân vân… Tờ biên bản sẽ trình lên Quan Địa phương xin thông tư tầm nã. Nhà chuyên trách về việc cầm phòng cũng phải gắng sức tìm kiếm những của đã mất cho người sự chủ.

Nếu người sự chủ vì mất cũa mà phải bị nghèo nàn cực khổ, Hội đồng Đại hào mục có thể chiếu theo các khoản cứu tai truất nạn sau nầy, trích công qũy trợ cấp cho một khoản tiền, ít nhiều tùy theo từng trường hợp.

 

Khoản 86. Nều vì việc canh tuần biếng trễ mà trong làng liên tiếp xảy ra nhiều vụ mất trộm, thì sau một cuộc điều tra kỹ lưỡng, Hội dồng Đại hào mục sẽ có thể trình lên quan Địa phương xin trách phạt người hương chức chuyên việc tuần phòng. Còn dân tuần sẽ bị phạt theo điều khoản 158.

 

Khoản 87. Nếu có xảy ra những vụ trộm cướp to lớn, tất cả nhân dân trong làng phải hiệp với nhà chuyên trách và dân canh để kháng cự và tìm bắt. Không được ỷ lại nơi mấy người nầy mà nhản bỏ nghĩa vụ của mình.

 

Khoản 88. Về việc tuần phòng đạo kiếp cũng như động tịnh, đối với những làng lân cận, ta có bổn phận cứu giúp. Bởi vậy lâm thời có làng nào xin ta giúp sức để truy nả một tay phiến loạn hay một tên đạo kiếp, trong hay ngoài địa phận của làng ta cũng vậy, tức thì những người chuyên trách về cầm phòng đốc sức dân phu để tiếp viện.

Dẫu không có lời xin tiếp cứu đi nữa, hễ nghe ở làng lân cận có tiếng mõ ống kêu la náo nhiệt, khiến cho ta đoán biết có sự biến động hay đạo kiếp gì xảy ra trong làng ấy, tức thì nhà chuyên trách và dân canh ở các điếm canh cùng với nhân dân trong làng, bất kỳ ở trường hợp nào hay lúc nào, đều phải ra chận các ngã đường chờ kẻ phạm pháp chạy qua làng mình thì bắt giữ lại để giao cho làng lân cận.

 

Khoản 89. Trong việc tuần phòng người nào trong làng không kể là nhà chuyên trách hay kẻ thường dân mà có công tố giác hay bắt được kẻ gian, thì sẽ được thưởng theo điều khoản 158. Điều khoản 115 cũng có thể thi hành cho những người nhân việc tuần phòng bị thương tích hay mệnh vong.

Trái lại người nào dung túng hay dấu giếm kẻ gian, xét ra có đủ bằng cớ, sẽ bị phạt theo điều khoản 158.

 

Mục  3:  Núi Thiên Bút – Mộ địa của người Âu châu

 Khoản 90. Sau khi thành trưng Núi Thiên Bút rồi sẽ đặt hai người thủ khoán để canh giữ.

Sẽ cấm người trong làng và ở làng khác chôn người chết ở trong núi ấy. Sự cấm này sẽ không thi hành cho những người Pháp hay người  Âu Châu chôn người chết ở mộ địa riêng trong núi.

Làng ta dành đất ở xứ thông viên cho khách ngụ trong làng ta rồi, nhà nào có người chết đem đến đấy mà chôn.

Làng ta sẽ làm những bản yết đó  CẤM CHÔN NGƯỜI CHẾT TRONG NÚI NÀY “ để cảnh cáo cho người ta biết. Nếu không tuân lệnh cấm ấy, đám tang sẽ bị triệt. Nếu tang chủ đem người chết chôn ở chỗ khác thì thôi, bằng cường ngạnh sanh sự lôi thôi, nội vụ sẽ trình lên Quan Địa phương phân xử.

Sẽ cấm người làng và người ngoài đêm hôm vào trong núi. Sẽ cấm hái củi và đốn cây trong ấy.

Khi núi đã khai phá có hoa lợi rồi, bất kỳ là lúc nào, người làng và người ngoài không được vào trong núi mà không xin phép với thủ khoán. Sự cấm này sẽ không thi hành với Quan quân đến bắn tập nơi trường tập đã lập sẵn trong núi và cũng không thi hành đối với Lý hương, kỳ hào và đại hào đương thứ.

Người làng phạm vào điều khoản nầy sẽ bị phạt theo điều khoản 158. Người ngoài sẽ bị giải trình quan Địa phương phân xử, nếu không chịu phạt vạ theo điều khoản ấy.

Người nào bắt được kẻ phạm vào điều khoản nầy đem trình làng sẽ dược thưởng theo điều khoản 158 còn thủ khoán sẽ bị phạt về lỗi phóng phế chức vụ.

 

Mộ địa của người Âu châu

 Khoản 91. Trừ những người Âu Châu và Quan Chức đến viếng mộ địa, nhất thiết cấm những người khác vô cớ vào trong ấy.

Người nào lén vào trong mộ địa lấy cắp hay phá hủy những đồ đạc hay vòng hoa để trên mộ.

1) Nếu là trẻ con ở trong làng thì cha mẹ chúng nó sẽ bị phạt vạ hết sức nặng theo khoản 158, và đền bồi những vật lấy cắp hay phá hư.

2) Nếu là trẻ chăn trâu thì người chủ chúng nó cũng phải phạt vạ và đền bồi như đã nói ở đoạn trên.

3) Nếu người lớn ở trong làng thì người ấy sẽ tự chịu lấy những trách nhiệm kể trên.

4) Nếu là người ngoài thì sẽ bị giải trình quan Địa Phương nghĩ phạt.

Về ba trường hợp 1,2,3 nếu vì tình tội nặng mà người phạm lỗi bị giải lên quan trên cứu nghĩ, thì khỏi bị làng phạt nữa.

Những thủ khoán làng đặt ra để canh giữ núi cũng phải trông nom mộ địa ấy. Nếu thấy người nào phạm những điều khoản trong mục này, nên bắt giữ lại rồi báo cho Lý trưởng hay Đại hào mục xử trí.

Tất cả những sự cấm trên nầy sẽ có bản yết cho người ta biết.

 

Khoản 92. Chỉ Hội đồng Đại hào mục mới có quyền định đoạt việc bán ba lợi và đất (rãi đường và đắp nền nhà) trong núi. Tuy nhiên, gặp khi gấp rút, Đại hào mục hiệp với Lý trưởng và Hương bổn hợp thành một ủy ban, có thể thương lượng với người mua, định đoạt giá cả và các điều giao ước khác rồi đem ra thi hành ngay. Đến phiên nhóm Hội đồng sắp tới, ủy ban sẽ đệ trình việc ấy để Hội đồng chấp thuận.

 

Mục  4   Chôn người Chết trong làng

Khoản 93. Người tha xã muốn chôn người chết trong địa phận của làng ta, phải làm giấy báo tường cho Lý trưởng biết mới chôn được.

Mỗi khi Lý trưởng nhận được tờ báo tường, phải tiếp ký và đóng triện vào rồi giao cho tang chủ giữ, phòng những nhà chuyên trách cầm phòng hỏi thì trình cho họ xem.

 

Khoản 94. Nếu làm trái với điều khoản trên nầy :

Đám táng tự tiện đem chôn trong địa phận làng ta sẽ bị triệt.

Ở trường hợp ấy, nều đám táng không có điều khả nghi, mà tang chủ muốn được miễn sự trở triệt, thì phải nộp cho làng ta một bàn trầu, cau, rượu và một đồng bạc vạ. Trầu cau rượu sẽ giao cho Lý hương nhận hưởng, còn đồng bạc vạ sẽ nộp vào công quĩ của làng.

Sau khi Hương ước được quan trên duyệt y rồi, làng ta sẽ sao những điều khoản này nhờ quan Địa phương chuyển sức cho các làng lân cận ta biết.

 

Mục  5   Canh thủ hoa lợi

Khoản 95.  – Hoa lợi ngoài đồng như lúa, mía, bắp, đậu, mè, khoai, vân vân … làng ta vẫn có lệ đặt tuần đinh canh thủ và thâu thuế.

Vì không có sổ sách về kế toán minh bạch, nên không thể nào kiểm xét số tiền thuê ấy được. Gia dĩ không định lệ gì rành mạch để khu xử những việc kêu kiện giữa người chủ đất, ruộng, và làng mỗi khi có việc mất trộm hay hũy phá ba lợi. Nên từ đây về sau đồng ưng đem việc canh thủ hoa lợi ra đấu giá.

 

Khoản 96. Sẽ lập một ủy ban chuyên việc đấu giá gồm có Đại hào mục hay người đại diện chủ toạ, lý trưởng hương bản và hai người tộc biểu tham dự. Ủy ban sẽ có quyền tài định thể lệ, điều kiện và tất cả những điều giao ước về việc đấu giá.

 

Việc đấu giá sẽ dựa theo những nguyên tắc sau này :

1) Người đấu giá phải là dân của làng và là người vật lực hay được người vật lực đảm bảo.

2) Kỳ hạn đấu giá định trong một năm, bắt đầu từ tháng giêng đến tháng chạp.

3) Sự đấu giá có thể làm chung cả làng hay làm riêng từng xóm một.

4) Sau khi đấu giá ba ngày, người đấu được phải nộp đủ hay ít là một phần ba số tiền đấu giá. Còn lai bao nhiêu cứ mỗi sáu tháng nộp một lần.

5) Người nào cố ý tranh đấu cho cao giá mà không có tiền nộp đúng như kỳ hạn đã định, sẽ bị phạt theo điểu khoản 158, mà lại còn phải đền bồi phí tổn là khác nữa. Tiền phí tổn ấy định là mưởi phần trăm về số tiền người ấy đã đấu. Việc đấu giá sẽ phài làm lại.

6) Tiền thuế định cư mỗi mẫu thổ một mùa hoa lợi phải đóng hai giác (0đ20).

Mỗi mẫu ruộng một mùa hoa lợi cũng phải đóng hai giác (0đ20).

7) Người đấu được phải tự mướn lấy tuần đinh, trả tiền công cho họ, và phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về công việc của họ.

8)  Tờ giao ước về việc đấu giá sẽ làm ba bản (một bản cho làng, một bản cho người đấu giá và một bản để trình cho quan Địa phương.

 

Khoản 97. Nếu hoa lợi bị mất hay hủy phá (trừ khi nào do tai nạn thiên nhiên như bảo gây nên không kể) người đấu giá được không kể là ở trường hợp nào hay vì duyên cớ gì đều phải bồi thường cho người chủ có hoa lợi bị thiệt hại. Song người đấu giá vẫn được quyền hoặc tự thoả thuận hay nhờ làng, hay nhờ quan bắt kẻ trộm, kẻ phá hủy, hay chịu trách nhiệm về việc phá hủy, bồi thường tổn hại cho mình. Số bồi thường nầy không được quá số bồi thường cho chủ hoa lợi. Khi nào kẻ trộm hay phá hủy bồi thường cho chủ có hoa lợi rồi, thì người đấu giá khỏi phải bồi gì nữa.

 

Khoản 98. Tất cả những vụ kiện thưa do việc canh thủ hoa lợi sanh ra, trước hết phải do ủy ban phân giải nói ở khoản 161 rồi đến Hội đồng Đại hào mục phân xử. Nếu không xong nội vụ sẽ đệ lên quan Địa phương.

Về tất cả những việc mất trộm hay phá hủy ba lợi hễ có người đến báo, Lý trưởng hiệp với Hương kiểm đến nơi xảy ra những việc ấy, mở cuộc điều tra và làm biên bản.

Kẻ trộm và người vô cớ, cố ý phá hủy ba lợi của người ta, ngoài sự bồi thường, tùy theo sự trạng nặng nhẹ sẽ bị phạt theo điều khỏan 158 trừ khi nào toà án đã xử phạt rồi thì thôi.

 

Khoản 99. Người nào ăn trộm hay phá hoa lợi trong vườn như cây, trái, rau v . v … ngoài sự bồi thường cũng sẽ bị phạt theo điều khoản 158.

Việc canh thủ hoa lợi ngoài đồng do người đấu giá được chuyên hành không dính dáng gì với hoa lợi trong vườn.

 

TIẾT THỨ BẢY: CÔNG  ÍCH  CÔNG  LỢI

 Mục 1   Vệ sinh chung

 

Khoản 100. Trong làng có giếng uống chung, nên đắp nền, làm thành giữ cho sạch sẽ. Người làng không được đặt địa, tắm rửa, và bỏ đồ dơ bẩn chung quanh giếng. Cấm để cho trẻ nít đến gần giếng. Chung quanh các giếng đều phải xây thành làm rào bằng tre chắc chắn để con nít khỏi bổ xuống giếng.

 

Khoản 101. Đường sá trong làng Hương mục thường thường sức bác cắt giẩy cỏ rác cho sạch sẽ. Hai bên đường nên đào mương để cho nước chảy. Thường phải vét mương để luôn luôn nước chảy thông dòng. Khúc mương đào ở gần nhà hay gần ruộng một người dân làng thì người ấy phải trông nom phải vét.

Cấm bỏ cỏ rác đồ đạc và thú vật chết trên đường cái, dưới mương, dưới ao va trong ruộng đất có hoa lợi hay trong vườn người ta. Cấm phóng uế hai bên lề đường, để bò ăn trên đường và thả heo ủi đường cái. Chuồng heo, chuồng trâu, chuồng bò, phải quét dọn sạch sẽ, không để mùi hôi thúi bay sang nhà người lân cận, có phương hại đến vệ sinh chung.

 

Khoản 102. Cấm ăn hay bán thịt súc vật bịnh chết, bất kỳ là về duyên cớ gì. Nếu có dịch trâu, bò thì người chủ có súc vật hay người chuyên trách trong làng liền báo trình quan Thú y xin  điều trị và thi hành những phương pháp ngăn ngừa sự truyền nhiễm. Súc vật chết phải chôn cho sâu, xa nhà ở và giếng.

 

Khoản 103. Nhà nào có người mắc những chứng bịnh thiên thời, dịch tả, dịch hạch, đậu mùa v.v…. người chủ nhà hay người chuyên trách lập tức báo trình xin quan trên phái quan thầy thuốc về điều trị và ngăn ngừa sự truyền nhiễm. Chẳng may người bịnh chết, tức thì tang chủ phải thưa với Hương bộ, hạn trong 24 giờ phải chôn theo phép vệ sinh.

 

Mục  2   Tu trúc đạo lộ

Khoản 104. Trông nom cầu, cống, đường sá ở trong làng là chức trách của Hương mục. Nếu đường có chỗ khuy khuyết, nên sức bác dân phu tu bổ (nhân công tư ích). Cấm cuốc lấn đường cái. Như ai muốn đem nước từ bên nầy sang bên kia đường, phải xin phép Hương mục làm một cống nhỏ (dùng ống đá hay ống tre) trên mặt đắp đất lại y như củ, chớ không được đào mương trên mặt đường.

 

Khoản 105. Thường năm hai kỳ, hương mục sức các hạng dân trong làng (không kể chánh, ngụ) sửa đắp các đường cái nhỏ trong xóm. Cấm các chủ có vườn và có ruộng lấn cuốc hai bên đường.

Tùy theo tài chánh và nhân công tư ích của làng sẽ mở rộng hay đắp thêm những đường ở trong làng. Rải đá cho vững chắc và trồng cây có bóng mát hai bên lề đường.

Xóm nào có nhiều trâu, bò, sẽ làm một con đường riêng để tránh cái hại trâu, bò đi dẫm trên con đường chung lâu ngày sinh ra lầy lội.

 

Mục  3   Vệ nông

 Khoản 106. Các chủ làm nông không được lấn cuốc bờ ruộng của người khác. Không được tháo trộm nước  ở ruộng của người để tưới ruộng mình. Cấm phá bờ ruộng của người để đơm cá và cấm thả nò, lội bắt cá cạn trong ruộng đương có hoa lợi của người ta. Cấm thả trâu, bò ăn trên bờ ruộng đất có hoa lợi. Người nào phạm vào các điều cấm nầy, nếu có sinh tổn hại gì, thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại và cũng sẽ bị phạt theo điều khoản 158.

 

Khoản 107. Các chủ có bờ sa, từ rằm tháng mười trở đi đều phải triệt giở, không nên ngăn nước đơm cá, làm ngập ruộng hư hoa lợi hay trở ngại công việc cày cấy của ngưới ta.

 

Đến kỳ thu hoạch, kẻ đi mót phải chờ người ta gặt xong rồi mới được mót. Cấm thả trâu, bò tắm lội trên mương xe và cấm người leo trèo trên giàn máng.

 

Khoản 108. Trong việc chi thu Hội đồng Đại hào mục sẽ thi hành các phương sách tiết kiệm, dành mỗi năm một món tiền, phụ với nhân  công tư  ích hay phạt  dịch làm những việc công ích như sau này. Từ bây giờ Hội đồng nên thảo một bản chương trình hành động, dự trù sự chi phí và kỳ hạn mỗi việc công ích sẽ làm:

1)  Trưng khẩn những đất hoang nhân trong làng (gò núi, bãi cát) ở gò núi sẽ trồng các giống cây trái có ích như mít, chè, tiêu, dương liễu, thơm v.v.. Ở bãi cát sẽ trồng hơn trồng tre.

Từ bây giờ xem có nơi nào (gò, núi, bãi) có thể khai thác kiếm lợi được ngay, thì ta nên trưng liền, phòng kẻ khác thấy có lợi chiếm những nơi ấy trước ta.

2)  Lập những đồng cỏ công cộng để bán cho những người nuôi trâu, bò, ngựa, trong

  làng, ngoài làng.

3) Đấp đập hay đào mương đem nước vào ruộng thường bị khô hạn.

4)  Mua giống và những nông cụ kiểu mới truyền bá trong làng.

  Mua súc vật tốt gầy giống. Lập những chỗ thí nghiệm phân, thí nghiệm trồng các

  thứ  cây trái hay những thứ khác để dân làng thấy sự ích lợi mà làm theo.

5)   Trợ cấp hay khuyến miễng các nhà tiểu công nghệ trong làng. Đem cho dân làng

  những tiểu công nghệ mới để cho họ, nhất là đàn bà, có nghề nghiệp làm thêm 

  trong lúc đợi chờ mùa màng

 

Mục  4   Cứu tai truất nạn

 Khoản 109. Đối với tất cả nhân dân trong làng, làng phải cứu giúp họ trong những cơn tai nạn. Đồng niên sẽ dự trù trong ngân sách làng một khoản tiền trợ cấp cho những người chẳng may gặp những tai nạn hay những sự khốn nạn sau này :

1) Hoả hoạn.

2) Thủy tai.

3) Mất mùa màng

4) Nạn đói khát.

5) Tật bịnh nguy kịch (đối với người nghèo).

6) Mất trộm cướp.

7) Cô nhi quả phụ

8) Tử táng.

Tùy theo từng trường hợp, Hội đồng Đại hào mục trong những phiên nhóm chính thức và hợp lệ sẽ định số tiền trợ cấp.

 

Khoản 110. Làng có thể giúp đỡ những người dân nghèo để họ có phương làm ăn, bằng cách cho vay không lấy lời hay lấy rất ít lời. Và trước khi đủ sức làm những công việc xã hội trọng đại như lập nhà thương, nhà hộ sinh, ấu trí viện v. .v . . làng có thể mua thuốc để ngừa hay trừ bịnh cho dân làng như thuốc ký ninh, thuốc nhỏ mắt v.v..

Trong làng sẽ tổ chức một ban cứu tế gồm có các nhà hảo tâm, các bà, các cô, thay mặt hay hiệp sức với làng về phương diện vật chất hay về tinh thần để làm việc phúc thiện.

 

Khoản 111. Sự cứu tai truất nạn tùy theo sức làng sẽ có thể lan rộng đến dân kiều ngụ trong làng, làng lân cận và cũng có thể lan rộng ra nữa.

Làng có thể dùng nhân công tư ích hay phạt dịch để sửa sang cho dân những sự tàn phá do tai nạn thiên nhiên sinh ra.

 

Khoản 112. Dân làng đối với nhau đều có bổn phận phò nguy cứu nạn.

Nếu có xảy ra một trận hỏa hoạn cho nhà nào, dân trong làng bất cứ là ai, tùy theo sức mình, đều phải đến cứu chữa. Chẳng may nhà cửa đồ đạc, của khổ chủ đều bị tàn phá hết, mỗi ngừoi tùy theo phương tiện, kẻ có công người có của, (tiền bạc hay vật liệu) hiệp sức với làng, hoặc làm lại một cái nhà tạm, hoặc cho tiền vật thực để giúp khổ chủ trong khi đợi chờ gầy dựng lại cơ nghiệp.

Gặp cơn bão lụt ghê gớm, ta nên tận tâm cứu vớt tính mạng và tài sản của người bị nạn. Người dược bình yên giàu có nên giúp kẻ mắc nạn bằng tiền bạc hay y phục để tỏ tình đồng hương đồng loại.

 

Khoản 113. Trong làng nếu có người chết, thì bổn phận những người trong làng, không kể đàn ông hay là đàn bà là phải đến giùm giúp tang chủ. Người nào biềt việc gì thì giùm giúp việc ấy; không được ăn uống và lấy tiền công, trừ khi nào tang chủ tự thuê mướn thì không kể.

 

Khoản 114. Mỗi khi có người chết, tùy theo tình cảnh của tang gia làng sẽ cấp :

Hai tên dân cho nhà nghèo.

Bốn tên dân cho nhà thường thường.

Sáu tên dân cho nhà giàu có quan quyền.

để giúp việc. Sau khi khâm liệm rồi, những người ấy về nhà không được đòi tiền công.

Tang chủ nào cần dùng bao nhiêu âm công nên đến lý hương xin cấp.

Tiền công của âm công không khi nào được quá 0đ20 một người, trừ khi nào vì đường xa hay vì sự khó nhọc gì khác, tang chủ có lòng tốt thưởng thêm thì không kể. Âm công không được tự mình viện một lẽ gì để yêu sách hay phàn nàn tang chủ.

Nếu làng có đưa đám thì dân khiêng trống, cầm cờ, mỗi người chỉ được lãnh công 0đ10. Tiền công này sẽ do công qủi làng chịu.

 

Khoản 115. Trong việc cứu tai truất nạn, người nào rủi bị thương tích sẽ được làng điều dưỡng tử tế cho đến khi lành mạnh, nếu bị tật nguyền không thể làm lụng được, thì sẽ được lĩnh một số tiền truất cấp suốt đời. Rủi bị mệnh vong thì người vợ goá sẽ lĩnh được một số tiền truất cấp trọn đời (đến khi lấy chồng khác thì thôi) và những con  bồ côi sẽ được hưởng một số tiền truất cấp cho đến tuổi trưởng thành.

Tiền truất cấp ấy có thể định từng tháng, từng qúi, từng sáu tháng hay từng năm sẽ do Hội đồng Đại hào mục chuẩn cấp ít nhiều tùy theo trường hợp và phải có Toà, Tỉnh duyệt y mới được..

Lệ truất cấp ấy cũng có thể thi hành cho những người nhân làm việc cầm phòng hay những việc lợi ích hệ trọng khác cho làng mà gặp phải những tai nạn tương tự như những tai nạn kể trên.

 

Mục  5   Học hành   giáo dục

Khoản 116. Dân số làng ta đông, mà người có học lại rất ít. Vậy cần phải mở mang và khuyến khích sự học. Trong làng có người nào học giỏi, hạnh kiểm tốt mà chẳng may gặp cảnh nghèo, làng có thể cấp học cụ hay học phí để cho người theo đuổi sự học đến nơi đến chốn.

Sẽ bày những cách khuyến khích khác như tỏ lời khen ngợi trước công chúng, ban giấy khen, đặt những giải thưởng bằng sách vở hay tiền bạc.

 

Khoản 117. Khi nào công quỉ làng được dồi dào, làng sẽ xin phép lập trường ở những xóm xa thành phố, dạy theo chương trình tiểu học. Làng sẽ xin quan bổ thầy giáo hay tự chọn lấy và trả lương nếu có thể làm được.

Làng có thể xin phép mở những lớp dạy tối ở nhà Hội của làng hay ở những nơi khác để đón lấy những người lớn tuổi trong làng, không kể đàn ông hay đàn bà, muốn học cho biết. Thầy giáo sẽ là những người có ở trong làng, bài vở sẽ trình quan trên kiểm duyệt.

Sẽ cấm dạy những bài vở nói về chính trị và tôn giáo. Nhà chuyên trách trong làng, mỗi khi có dạy, phải đến nơi kiểm cố. Làng có thể lập một thư viện trong nhà Hội của làng, mua những luật lệ và những sách báo có ích để cho người làng đến xem đọc. Những sách báo ấy sẽ do ban hội đồng chịu trách nhiệm lựa kỹ càng và không được mua những sách báo bị cấm và có tư tưởng quá khích. Lại cũng nên chăm nom việc thể dục cho con em trong làng như lập trường đá bóng, quần vợt và mở những lớp dạy các môn thể thao.

 

Khoản 118. Cho con em đến trường học là một điều cần ích nhưng chưa đủ, cần phải khuyên răn, dạy bảo chúng nó nữa. Trong làng từ gia trưởng, tộc trưởng cho đến những kẻ tai mắt và có thế lực, bất kỳ là ở đâu hay lúc nào, nên dạy bảo cho con em hay những người dưới quyền mình biết rằng làng ta mặc dầu có chịu ảnh hưởng những trào lưu mới, vẫn còn tiến hoá theo chế độ cũ, trong phạm vi đạo đức, luân lý của ông bà ta lưu truyền lại. Ta vẫn có những bổn phận trên đối với Vua, với Quan chức vâng mệnh lệnh Vua cai trị ta, dưới đối với kẻ tôn trưởng trong làng, trong họ và trong nhà. Ta cũng còn có những bổn phận đối với nước Bảo hộ và quan chức bảo hộ mà ta phải kính nể và biết ơn.

Ta phải biết tuân luật pháp của Vua, vâng mệnh lệnh và những lời hiển thị của quan trên, những người thay mặt cho làng cho họ và cho gia đình. Những người quyến rũ ta

làm sai những bổn phận ấy, ta sẽ xem họ như kẻ thù. Ta nên xua đuổi những lý tưởng

có thể làm cho ta quên những bổn phận ấy.

 

Khoản 119. Trong gia đình trách nhiệm giáo dục con em thì ủy thác cho những bực phụ huynh. Như nghiệm thấy người nào có tính nết không tốt hay ý nghĩ sai lầm nên sửa đổi răn dạy ngay. Người có học phải trông nom việc học của con em, ngoài những bài vở ở nhà trường và những sách có ích, không nên cho đọc những sách nhảm nhí sai lầm có ảnh hưởng không tốt đến tính tình và tư tưởng của chúng nó.

Người không biết chữ sẽ nhờ người láng giềng, bà con hay tộc biểu thường thường coi ngó việc học cho con em giúp mình. Phụ huynh nên thường thăm viếng thầy giáo ở trường hiệp tác với họ để mưu sự ích lợi cho con em đi học.

Những người nghèo thất học cũng có thể dạy bảo con em, những sự lễ nghĩa, những bổn phận theo nền luân lý của ông bà ta để lại.

 

Khoản 120. Trong tộc phái, tộc biểu phải gánh lấy phận sự dạy bảo trông nom người trong họ. Bất kỳ lúc nào hay nơi nào cũng có thể làm phận sự ấy được.

Cách một vài tháng, tộc biểu phải nhóm họp những người trong tộc phái đến nhà thờ hay nhà mình đem hương ước ra đọc giảng giải cho họ nghe và khuyên họ tuân theo. Mỗi khi Đại hào mục hay lý trưởng chuyển giao những sức lịnh hay lời biểu thị của quan trên về việc cai trị, kinh tế hay về tất cả những việc có lợi ích cho dân, tộc biểu nên nhóm họp người trong tộc phái tuyên đọc cho họ nghe biết mà tuân theo.

 

Khoản 121. Nhân có lời thưa trình của người gia trưởng hay nhờ sự dò xét của mình mà tộc biểu biết được trong họ có người không tôn trọng khuôn phép, trật tự và luân lý trong nhà, hay ngang ngạnh không vâng lời nhủ bảo của kẻ tôn trửong thì phải nên răn dạy. Đã nhiều phen răn dạy mà kẻ có lỗi không biết sửa đổi tính hạnh, thì tộc biểu làm tờ trình lên Hội đồng Đại hào mục chiếu theo điều khoản 158 mà nghĩ phạt.

 

Khoản 122. đối với những người can án về chính trị, hay về tội lỗi thường được tha về, người gia trưởng hay tộc biểu phải hết lòng khuyên răn khiến cho những người ấy ăn năn tội lỗi và trở lại đi trên con đường lương thiện.

Tộc biểu phải thường thường coi chừng những người trong nhà, trong họ. Nếu người nào có những thái độ đáng ngờ vực hay có ý muốn làm những điều phi pháp thì phải trình lên Đại hào mục ngay để ông nầy liệu cách ngăn ngừa hay trình báo quan trên.

Trong làng có những kẻ mồ côi, không nơi nương dựa, người chú bác hay anh em cận phòng, nếu có sức làm được, nên đem về nuôi dạy, nhưng cấm không được hành hạ và ngược đãi.

 

Khoản 123. Người trong làng không kể đàn ông hay đàn bà muốn đi xa làm ăn, hay có việc gì khác cần phải ở lâu mới về, thì trước khi đi phải thưa cho tộc biểu biết. Mỗi tháng ít là một lần phải gởi thơ về nhà hay về tộc biểu nói rõ sự trạng và địa chỉ.

Người đàn ông đã trước tịch đến kỳ thu thuế, nên gởi tiền thuế thân về cho lý trưởng xin bài chỉ. Nếu không tuân làng sẽ xin quan trên thông tư tầm nã giải hồi và sự phạt vạ nặng hơn hết ở khoản 158 sẽ thi hành cho người ấy. Người nào đã xin nhập tịch nạp thuế ở nơi xứ sở đến làm ăn thì sẽ không được giữ những quyền lợi ở nguyên quán mình nữa.

 

Chỉnh  đốn phong tục

Khoản 124.  Trong nhà trong họ có xảy ra những việc bất bình giữa vợ chồng hai người hay nhiều người thì những người ấy phải đến thưa với tộc biểu, lý hương hay Hội đồng  Đại hào mục phân xử chớ không được  cãi cọ, chưởi bới hay đánh lộn nằm vạ. Nếu không tuân lịnh cấm này những người đương sự không kể là phải hay quấy đếu phải bị phạt mỗi người 0đ10 hay hai ngày phạt dịch. Đôi vợ chồng chỉ phạt 0đ20 mà thôi. Còn về việc bất bình, nếu người nào muốn phân giải cho ra phải chăng thì phải đến thưa với những nhà chức trách kể trên.

Nhân dân trong làng người nào có những tệ như nghiện nha phiến, say rượu, cờ bạc và điều thoa nhất định làng sẽ không cử làm hương chức hay hào biểu.

 

Khoản 125. cấm nhân dân trong làng chứa đĩ, chứa cờ bạc. Ban đêm cấm tụ họp đông người để hò, hố, đánh bạc, hay lêu lỏng la hát ngoài đường. Những kẻ phạm vào lịnh cấm này gặp nhà chuyên trách canh tuần bắt được sẽ bị phạt theo điều khoản 158. Những kẻ phụ huynh không răn cấm con em cũng phải bị phạt như vậy, nhưng nhẹ hơn.

 

Khoản 126. Ban đêm từ 12 giờ trở đi, con trai con gái trong làng không được sánh đôi đi trong những chỗ tối tăm và các nẽo đường cùng ngõ hẽm. Nhà chuyên trách canh tuần nếu bắt gặp những đôi trai gái như vậy giữ lại để hỏi. Nếu không phải thật là đôi vợ chồng hay không phải vì những điều cần cấp như mời mụ, rước thầy thuốc … nên phải đi như vậy, thì nhà chuyên trách giữ những người ấy lại ở điếm canh. Sáng ngày sức cha mẹ hay tộc thuộc những kẻ ấy làm tờ nhận về răn bảo. Như về sau bọn ấy còn làm lại thói củ, không những một mình chúng mà thôi, phụ huynh của chúng cũng bị trách phạt.

 

Mục  7   kỷ  luật

 

Khoản 127.  Nếu làng có giấy mời một người ở trong làng đến nhà Hội của làng hay đến nơi khác có việc, đã tiếp ký giấy mời rồi, đúng nhựt ký người ấy phải đến nơi đã định. Nếu gặp việc gì trở ngại không đến được phải có giấy cáo từ.

Người hương chức hay người dân được phái cầm giấy đi mời một nhân viên nào trong làng, phải đến tận nơi lấy chữ ký của nhân viên hay người nhà của nhân viên ấy. Nếu  trong giấy mời có ghi ngày giờ nhất định thì người được mời, trừ gặp việc trở ngại có bằng cớ, phải đến cho đúng giờ.

 

Khoản 128. Trong những phiên nhóm Hội đồng Đại hào mục, những viên nhân không có chân trong Hội đồng muốn nói hay hỏi han Hội đồng nên xin phép trước. Không được la lối cười giỡn, buông những lời nói hoặc có những cử chỉ có thể xúc phạm đến nhân viên trong Hội đồng. Người nào phạm những điều khoản trên nầy sẽ bị phạt vạ theo khoản 158.

 

TIẾT THỨ TÁM: QUÂN  CẤP  CÔNG  ĐIỀN  CÔNG  THỔ

 

Mục  1   Đấu giá

 

Khoản 129. Công điền thổ làng ta cũng khá nhiều, nhưng mà dân số lại rất đông.  Nếu đem ruộng đất công ra quân cấp như trước, phần mỗi người chỉ có mấy thước, không đủ cày dùng được. Bởi thế nên chúng ta đồng ưng từ nay trở đi đem công điền thổ ấy ra đấu giá cho mướn.

 

Khoản 130.  – Mỗi đến kỳ quân cấp trước một tháng. Đại hào mục chiêu tập một kỳ Hội đồng bất thường để trù định cách thức và ngày giờ đấu giá. Sẽ cử một tiểu ban nghiên cứu và kê biên công điền công thổ của làng ta cho biết là bao nhiêu.  – Tùy theo hình thế và xứ số ruộng đất, sẽ chia thành nhiều lô, ghi diện tích và số hiệu để sự đấu giá cho được dễ dàng và tiện lợi. Tờ kê biên ấy dính vào đơn của làng sẽ đệ trình quan Địa phương xin phép và xin quan phái đến chứng kiến cuộc  đấu giá.

Ít nhất là 15 ngày trước khi đấu giá, làng sẽ dùng những cách rao truyền (niêm yết hay sai người đi rao) cầu cho được nhiều người đến tranh đấu.

 

Khoản 131. Thể lệ đấu giá. Có hai cách đấu giá :

1)Kêu giá bằng miệng trước công chúng.

2)Đấu giá bằng cách bỏ thăm.

Làng sẽ dùng cách nào có phần lợi hơn.

Chỉ có dân làng mới có quyền đấu giá. Kỳ hạn cho mướn định là ba năm. Người nào đấu giá mướn được phải chịu lấy tiền thuế.

Tiền mướn về năm đầu phải nộp ngay hay chậm lắm là một tháng sau.

Về hai năm sau cứ đến tháng ba, hễ tiếp được giấy đòi của làng thì người mướn ruộng đất phải trả ngay. Quá hạn ba tháng mà chưa trả đủ số tiền thiếu, người đấu giá được sẽ bị làng truy vấn trước Toà Án sở quan và sẽ phải trả thêm tiền phí tổn về việc đòi hỏi là 1 o/o.

Trước khi đấu giá, sẽ đọc điều khoản này và tất cả những điều khoản khác mình định thể lệ đấu giá, cho công chúng biết mà tuân theo.

 

Khoản 132. Đến ngày đã định, một ủy ban gồm có Đại hào mục, hai tộc biểu và lý trưởng đương thứ chuyên hành việc đấu giá. Ủy ban sẽ đặt dưới quyền kiểm soát của quan phái đến dự. Người trong làng tùy ý ai muốn đến dự cũng được.

Tên người và số tiền đấu giá sẽ biên chép rõ ràng vào một quyển sổ sẽ giao Đại hào mục hay lý trưởng giữ để đến kỳ bảo thủ bổn hay thư ký làm giấy đòi.

 

Mục  2   Quân  cấp

Khoản 133. Khi đấu giá xong rồi, Đại hào mục chiêu tập một kỳ Hội đồng bất thường để định việc trích tri và quân cấp.  –

Sẽ lấy số tiền đấu giá chia đồng cho số sào mẫu không kể ruộng đất tốt xấu, d9ể cho biết giá mướn mỗi mẫu đổ đ62ng là bao nhiêu.

Trước khi quân cấp sẽ trích lấy những món tiền để cúng như các khoản chi phí như lương điền, tế điền, hương dụng, cứu tai truất nạn v.v… Sự trích tri sẽ làm bằng tiền và chiết tính theo mỗi phần ruộng đất đã tri đặt. Ví dụ giá đấu mỗi mẫu ruộng đất cộng lại là 10đ00, phần lương điền của một người lính tập (lính cấp) là một mẫu năm sào, thì lấy 10đ00 nhân với một mẫu năm sào thành ra 15đ00. Người lính tập ấy sẽ lĩnh : 15đ00 chia cho ba năm, mỗi năm 5đ00.  –

Trừ các khoản tiền trích tri rồi còn lại bao nhiêu sẽ đem chia đồng với số người có đóng thuế ở trong làng từ chức sắc cho đến tráng dân. Cách phân chia này công bằng hơn và đúng với ý nghĩa hai chữ  QUÂN CẤP “.

 

Khoản 134. Làm những công việc ấy xong rồi, tờ biên bản về phiên nhóm Hợp đồng và tờ kê biên các khoản trích tri và quân cấp sẽ đệ trình quan Địa phương nhờ chuyển bẩm Tỉnh Toà duyệt y rồi mới đem ra thi hành. –

Sau khi được lệnh sức duyệt y, Đại hào mục thông báo cho các tộc biểu biết nói quả quyết phần tiền cấp cho mỗi người dân là bao nhiêu để ông ấy truyền lại cho người trong tộc phải biết.  –

Tất cả những phần tiền quân cấp đều lưu trử trong công quĩ làng và  biên vào sổ sách minh bạch, để trử vào tiền trợ thuế hay thuế đinh của mỗi người viên quan hay dân tráng. – Ví dụ : một viên quan trong làng phải đóng 2đ70 tiền trợ thuế, phần tiền quân cấp chia cho ba năm, mỗi năm là 0đ50 thì người ấy chỉ đóng thêm cho lý trưởng 2đ20 nữa mà thôi.

 

Khoàn 135. Khi nào có việc công ích công lợi hệ trọng mà đồng hương muốn làm và được phép quan trên cho làm, thì sẽ cũng có thề đặt cách trích hết hay một phần tiền quân cấp để làm việc ấy. Nếu có sinh lời được bao nhiêu cũng sẽ chia đồng cho nhân dân trong làng theo lệ quân cấp tiền cho mướn đấu giá công điền công thổ. 

 

Mục  3   Dân ở đất công của làng

Khoản 136. Những người dân đã được làng cho đất công để làm vườn ở trước khi hương ước này ra đời, thì vẫn được ở đấy như củ. Đất ấy sẽ không đem ra cho thuê đấu giá, nhưng mà người ở đất làng cũng phải trả tiền mướn và chịu thuế đất. Tiền mướn này sẽ tính theo giá tiền cho mướn đấu giá công điền công thổ khác của làng. Ví dụ : Tên Xoài ở trong một mẫu đất công của làng, trong kỳ quân cấp năm 1939, số tiền cho mướn đấu giá một mẫu công điền công thổ khác là 25đ00, thì người ấy sẽ phải trả tiền mướn cho làng theo giá 25đ00 như vậy.

 

Khoản 137. Người dân làng thật nghèo không có ruộng đất và cũng không làm nghề nghiệp gì khá giả để tậu một cái vườn, có quyền xin đất làng để ở, phần mỗi người chỉ có một sào mà thôi. Tiền mướn cũng tính theo như đã định ở khoản 136 trên nầy. Những người giàu hoặc có ruộng đất hay làm nghề nghiệp gì có khá tiền, thì không được hưởng quyền lợi ấy.

Trong một nhà có nhiều người mà một người đã được ở đất công của làng rồi, nên nhường chỗ cho một nhà khác chưa được hưởng ân huệ ấy.

Từ nay về sau làng nhất định không cho người kiều ngụ ở đất công của làng. Người nào trước kia đã được làng cho ở, thì từ nay phải đến thương lượng với Hội đồng Đại hào mục để định giá mướn riêng.

 

Khoản 138. Sẽ dành một phần công điền ở xóm Phú mỹ dọc theo hai bên đường thiên lý, biệt hạn cho dân làng, bất kỳ là ở xóm nào, muốn xin đất làm nhà ở. Ngoài chỗ ấy ra làng không thể cho đất ở nơi khác.

Về sau nếu có nhiều tiền dự trữ, làng sẽ có thể làm một giấy nhà hợp theo phép vệ sinh ở đấy để cho dân nghèo ở không, lấy tiền hoặc cho thuê. Trong trường hợp sau này, khi nào số tiền thuê bằng số tiền làng đã chi ra làm nhà, thì bấy giờ nhà ấy sẽ khỏi phải trả tiền thuê nữa, nếu người nào không muốn ở nữa hoặc tuyệt hộ, thì nhà ấy sẽ lại cho làng.

 

TIẾT  THỨ  CHÍN: PHÂN  BỔ  SƯU  THUẾ

 

Mục 1   Phân bổ

 

Khoản 139.   Thường năm gần đến kỳ thu thuế, sau khi nhận được bài chỉ định điền rồi, Hội đồng Đại hào mục nhóm để làm việc phân bổ sưu thuế.  – Sẽ làm một bản kê biên rõ ràng những điều sau này :

1) Về thuế đinh. Ghi tên họ người phải đóng thuế ở trong làng và số tiền thuế phải đóng.

2) Về thuế điền.Ghi tên họ làng người phải đóng thuế, diện tích ruộng đất, hạn thuế và số tiền thuế về mỗi hạng.

Bản kê biên ấy có lý trưởng và những người trong ủy ban nói ở khoản 140 ký vào, sẽ đệ trình quan Địa phương dể xin bằng và sẽ niêm yết tạ nhà hội làng.

 

Khoản 140. Làng ta có bốn xóm, nên mỗi xóm sẽ đặt một ủy ban gồm có :

Một Kỳ hào hay Phó lý đốc thân.

Một Tộc biểu giữ bạc.

Một người thư ký (Hương chức hay thường dân) viết biên lai.

Ấp dịch thôi sức

Ủy ban của xóm nào sẽ tiếp những người đóng thuế thuộc về xóm ấy.

Lý trưởng chăm nom công việc làm của ủy ban, ký tên và nhận triện vào biên lai.

 

Mục  2   Cách thức thu thuế

Khoản 141. Sẽ dùng những cuốn biên lai tồn căn, để thu thuế, Biên lai có hai phần ghi số hiệu từ một đến trăm, một phần giao cho người đóng thuế, một phần để dính lại lưu chiếu. Số tiền ghi trong hai phần biên lai đều cho thật giống nhau và không nên gạch bỏ hay gom tẩy.Số tiền phải viết bằng chữ số và chữ thiệt.  – Như ruổi viết lộn thì bỏ tờ biên lai ấy viết sang tờ sau. Tờ biên lai viết quấy phải để dính y hai phần vào cuống biên lai chớ không nên xé bỏ. Lý trưởng ký áp vào phần biên lai đưa cho người đóng thuế, người này phải ký hay điểm chỉ vào bản biên lai lưu chiếu.

 

Khoản 142. Sẽ dùng một thức biên lai riêng để thu thuế cùa những người dân làng, lưu ngụ ở làng khác, biên lai ấy cũng có hai phần ghi số hiệu như biên lai nói ở khoản 141.

Giả sử xóm Phú yên có muời người dân tráng ở ngụ làng Phú Lâm Đông, Huyện Nghĩa Hành. ủy ban xóm ấy dùng cuống biên lai riêng viết 10 cái biên lai ghi trước họ, tên người dân tráng xuất ngụ và số tiền thuế. Lý trưởng ký áp vào 10 cái biên lai ấy rồi giao cho Hương dịch hay một người hương chức khác đi thâu. Người đi thâu sẽ ký tên vào một quyển sổ riêng trong ấy ghi số hiệu 10 cái biên lai, họ tên của mười người dân và số tiền tổng cộng sẽ phải thâu.

 

Khoản 143. Khi đã nhận biên lai rồi, người đi thâu phải chịu hết cả trách nhiệm.  Hể giao một cái biên lai cho người nào thì phải nhận đủ số tiền thuế.

Phỏng như có chín người trả còn một người đi vắng thì người đi thâu đem về nộp cho ủy ban hay lý trưởng số tiền thuế của chín người và một cái biên lai. Ủy ban hay lý trưởng viết tờ biên nhận cả tiền lẫn biên lai, đoạn lấy cuống biên lai ra xem cho biết người nào đã nộp đủ thuế rồi thì ghi vào chín phần biên lai lưu chiếu hai chữ  NỘP RỒI “, còn cái biên lai của người đi vắng kia thì giữ lại để đòi người ấy đến làng nộp hay làng lại sai người đi đòi nữa.

 

Khoản 144.  – Nếu trong 10 người ấy, có người nào chưa đủ tiền thuế, xin nộp lần một ít cũng có thể giao cho người đi thâu, nhưng phải nài người này đưa cái biên lai ghi tên của mình ra để biên ở phía sau số tiền mình đã giao, rồi ký tên hay điểm chỉ ở dưới. Đoạn trả cái biên lai ấy cho người đi thâu đem về trình làng. Sau lại, khi nào trả đủ tiền thuế rồi thì làng sẽ đưa biên lai ấy cho.

Không nên để người đi thâu viết biên lai bằng giấy thường và cũng không nên giao tiền mà không lấy biên lai chữ in, vì nếu có xảy ra những sự lạm tiêu thì làng sẽ không chịu trách nhiệm.

Mỗi đến kỳ thuế, nhân dân ở trong làng hay lưu ngụ ở làng khác cũng vậy người nào có thuế thì phải lo đến làng nộp trước kỳ hạn, không nên để cho làng sai người đòi hỏi nhiều lần. Sự phạt vạ định ở khoản 158 có thể thi hành cho những người có ý lôi thôi trong sự nộp thuế.

 

Mục  3   Kiểm soát

Khoản 145. Sẽ đặt một ủy ban kiểm soát gồm có Đại hào mục, một viên quan, một kỳ hào hay tộc biểu, suốt trong kỳ thu thuế, chẳng hạn lúc nào (thường là cuối mỗi ngày) đến trường thuế lấy những cuống biên lai giao cho các ũy ban thâu thuế, cộng những số tiền ghi ở phần biên lai lưu chiếu để cho biết số tiền thu đến chừng ấy được bao nhiêu. Những số tiền cộng lại phải đúng với số tiền của ủy ban thu thuế hiện giữ hay đã giao cho lý trưởng.

Ủy ban hay lý trưởng không nên giữ tiền nhiều trong mình, thâu được chừng nào thì nên đem lần gởi nộp Quan Địa phương.

Ủy ban hay kiểm soát có thể làm sổ sách hay biên chép giấy mực để việc kiểm soát cho được chu đáo.

 

Khoản 146. Tiền mua biên lai kể trên sẽ trích ở công quỉ của làng.  – Những cuống biên lai sẽ giao Đại hào mục giữ mà phát lần cho ủy ban thu thuế tùy theo sự cần dùng ít nhiều.Mỗi khi lấy biên lai, ủy ban phải làm giấy nhận cho Đại hào mục giữ.  – Những biên lai lưu chiếu phải giữ gìn cẩn thận cho đến mãn kỳ thuế rồi đem cất trong tủ văn thơ của làng.

Nếu việc thu thuế làm đúng theo các khoản nói trên nầy mà chẳng may thâu không kịp thanh toán trong kỳ hạn quan trên đã định (thường là thuế đinh) thì làng có thể hoặc tạm trích công quỉ hay vay mượn để trưng nộp đủ số cho Nhà Nước. Rồi làng sẽ dùng mọi cách theo pháp luật, buộc những người dân thiếu thuế trả lại số tiền ấy lại cho làng.

 

Mục  4  Tư – ích

Khoản 147. Không kể những người được miễn trừ, tất cả tráng dân có nộp thuế thân, mỗi năm, đều phải cúng cho làng năm ngày xâu gọi là Xâu Tư ích. Nhân công tư ích dùng để làm, ở trong làng, những việc sau này.

1) Sữa sang đình chùa, nhà cửa công, đường sá.

2) Giúp vào việc kiềm phòng và cứu tai truất nạn.

3) Làm những việc lợi ích công cộng, như là khai thác đất hoang, đắp đê, làm đập, trồng cây, trồng bói v.v.

 

Khoản 148. Nhân công tư ích có thể tự mình hay nhờ người khác đi làm xâu thay mình, hoặc xin nạp thục cũng được. Tiền nạp thục định mỗi ngày là 0đ20 hay dưới số tiền ấy tùy theo sức nạp thục của dân làng. Ở trường hợp sau này cần phải có nghị định của Hội đồng Đại hào mục được Tỉnh toà duyệt y.

Mỗi khi có người xin nạp thục, lý trưởng nhận tiền và phóng biên lai bằng chữ in. Người nạp thục phải ký hay điểm chỉ vào phần biên lai lưu chiếu.

Tiền nạp thục sẽ bỏ vào quỉ làng, biên vào sổ sách kế toán và chỉ dành để làm những việc mình định ở khoản 149.

 

Khoản 149. Nhân công tư ích có thể dùng để giúp vào những việc lợi ích chung trong Tổng của ta, nếu trong việc ấy quả thật làng ta được hưởng ít nhiều ích lợi về vật chất hay về tinh thần. Ngoài tổng của ta, nếu có sức lệnh của quan trên, trong những trường hợp hết sức đặc biệt, có thể dùng phụ vào những việc cứu tai truất nạn hệ trọng, hay góp sức vào những việc chế ngự đạo kiếp hung ác.

 

Khoản 150. Mỗi năm vào lúc tháng tám, Đại hào mục nhóm hội đồng bất thường để trù định việc dùng tư ích về năm sau.Nên thảo một bản chương trình hành động định trước những việc sẽ làm và trù tính mỗi việc phải cần dùng bao nhiêu nhân công tư ích.  – Bản chương trình ấy sẽ để trình quan Địa phương duyệt chiếu. Rồi sang năm sau, nên khởi sự thi hành theo thứ tự, những công việc đã định trong chương trình.

Nếu có xảy ra những sự dùng tư ích trong tổng hay ngoài tổng, lâm thời Hội đồng Đại hào mục nhóm để quyết định.  – Nếu không có nghị định của Hội đồng, không khi nào lý hương được phép ký giấy thuận nguyện hay bắt ép nạp thục.

 

Khoản 151. Muốn cho việc dùng tư ích được minh bạch và dễ kiểm xét, nên làm sổ sách, hằng năm, ghi tất cả số nhân công cung cho làng, số nhân công đã dùng và số nhân công còn lại

Khi nào làng kinh doanh những công việc to tát phải cần dùng một số nhiều nhân công tư ích, thì nên đặt một ủy ban để chăm nom sự tiến hành công việc ấy.  – Mỗi ngày những người đốc công làm giấy tờ ghi công cho đúng đắn.  – Người dân nào làm được một phần hay đủ số ngày xâu tư ích của mình rồi, nên lấy biên lai của làng để làm bằng.

Khi một công việc gì làm xong rồi thì Đại hào mục cử một hội đồng đến nơi khám nhận. Hễ Hội đồng đã nhận rồi thì những người có chân trong ủy ban hay những người đốc công hết chịu tráxh nhiệm.

 

Khoản 152. Nếu những công việc lợi ích chung do nhân công tư ích làm, có sinh lợi, thì lợi ấy sẽ chia cho tất cả nhân dân có đóng thuế trong làng. Tuy nhiên phần người dân tráng chịu xâu tư ích có thể lấn hơn phần những người được vĩnh viễn miễn trừ xâu ấy.

 

Khoản 153. Dân bất kham trong làng mỗi năm đều phải cúng cho làng ba ngày xâu gọi là  Xâu phụ Dịch “ để làm những việc sửa sang, trồng trọt vặt vãnh trong làng. Người nào nghèo cực quá sẽ được làng cấp tiền hay vật thực cho vừ a đủ dùng trong những ngày giúp việc cho làng.

 

Mục  5   Loại Khai

Khoản 154. Nhân phiên nhóm để thảo chương trình dùng tư ích, Hội dồng Đại hào mục nên bàn định luôn việc, làm loại khai về năm sau.  – Hội đồng nên hết sức chú trọng đến việc này để lần lần trừ tiệt những sự gian dối hay tây vị chỉ lợi cho một số ít người mà để cho phần đông nhân dân đã phải chịu sự bất công. Không có gì trái lẽ bằng đem người còn trẻ tuổi vào hạn lão niên và người giàu có vào hạn bần cùng vô lực.

 

Khoản 155. Nhân dân trong làng nên hiểu rằng nộp thuế thân là một cái bổn phận phải làm cho trọn vẹn.  – Cái bổn phận ấy tuy có bắt ta phải đóng góp một chút ít song lại cho ta hưởng nhiều quyền lợi trong nhà trong họ, cũng như ngoài làng ngoài nước.

 

Mục  6   Điền thổ bộ

Khoản 156. Người có chức trách giữ điền thổ bộ nên hết sức thận trọng trong việc biên chép.

Bộ ấy có thể tránh cho ta những sự phù lạm trong việc thu thuế điền, chứng minh những việc mua bán đất ruộng và tất cả nhữngsự lưu chuyển khác.

Nha Địa Chánh lại bảo vệ cho ta những quyền lợi về sản nghiệp (quyền nghiệp chủ, quyền tài chủ) ngăn cấm những sự bán huơng hỏa tự điền trái phép.

 

Khoản 157. Người trong làng mỗi khi gặp sự lưu chuyển ruộng đất, nên xin lý trưởng nhận thiệt vào khế tờ rồi liền đến Tòa sứ xin trước bộ và đến Nha Địa Chánh xin, trước sự lưu chuyển ấy vào Địa bộ và trong trích lục. Cẩu thả trong việc làm giấy tờ, quên lãng sự trước bộ có thể làm cho ta mất quyền lợi.

 

TIẾT  THỨ  MƯỜI

 

Mục 1   Thưởng, phạt

 

Khoản 158. Để đàn áp những sự vi phạm các điều khoản trong hương ước nầy và tưởng lệ những kẻ có công đối với làng, nên đặt ra lệ thưởng phạt. Những người có chức trách nên hết lòng công bình, vô tư trong việc này và đối với kẻ có lỗi trong làng nên đặt sự giáo hoá trên sự trừng phạt.

Tùy theo công trạng hay tội trạng của mỗi người sự thưởng phạt sẽ thi hành theo điều độ khinh trọng sau này.

THƯỞNG

1) Lời khen ngợi trước công chúng.

2) Giấy ban khen do Hội đồng Đại hào mục cấp.

3) Thưởng bạc hay cho hưởng những quyền lợi đặc biệt về vật chất hay về tinh thần (miễn đi canh, miễn tư ích trong một kỳ hạn) Ban thưởng các hạn vinh dự nói ở khoản 76 77 78.

4) Trình xin quan Địa phương ban thưởng.

Phạt

1) Lời khiển trách trước công chúng.

2) Phạt bạc hay phạt dịch (từ 0đ20 đến 1đ00 hay từ một ngày đến 5 ngày, mỗi ngày trị giá 0đ20)

3) Trình xin quan Địa phương trách phạt.

 

Khoản 159. Tùy theo công trạng, cũng có thể ghi tên người có công trong một quyển sổ riêng của làng, nhản đề là  SỔ KỶ̀ CÔNG “ và cũng tùy theo tội trạng ghi tên người có lỗi trong một quyển sổ nhản đề là  SỔ KỶ QUÁ “

Người có công sẽ được làng kính mến, trái lại người có lỗi bị làng đối đãi lạnh nhạt cho đến lúc đã biết thật tình ăn năn tội lỗi hay đã giúp cho làng được việc gì đáng công.

 

Khoản 160. Đối với người tại thế có công đức lớn với làng, làng sẽ khắc tên người ấy trên một tấm bản  kỹ công “ treo ở đình sở đời đời, trừ khi nào về sau có phạm những tội lỗi điếm nhục, tên người ấy sẽ bị xoá bỏ.  – Đối với người có công đức lớn đã qua đời, mỗi đến uý nhật người ấy, làng sẽ trích công quỉ sắm lễ và phái hương chức đến cúng, gọi là để tỏ lòng kỷ niệm.  – Sự kỷ niệm cũng có thể phát biểu bằng những lễ nghi long trọng khác.

 

Mục  2   Quyền thưởng phạt

 Khoản 161. THƯỞNG.  – Chỉ có Hội đồng Đại hào mục trong những phiên nhóm họp lệ mới được quyền ban thưởng kẻ có công trạng với làng mà thôi.

PHẠT. Ủy ban phân xử nói ở khoản 167 và nhửng người hương chức sau này có quyền phạt vạ những người phạm vào các khoản trong hương ước :

Lý trưởng

Hương kiểm

Phó lý trưởng

Chánh Phó xã đoàn  (riêng đối với dân mình)

Trừ định tệ ở khoản 124, không khi nào những người hương chủ trên nầy được phạt vạ quá 0đ20.Ủy ban phân xử được quyền phạt  từ 0đ20 đến 1đ00.

Tiền phạt không nạp được sẽ đổi ra sự phạt dịch. Một ngày phạt dịch khấu trừ 0đ20.

 

Khoản 162. Khi những nhà chuyên trách nói ở khoản 161 bắt được người nào trong làng đương trường phạm vào những điều khoản trong Hương ước đều được quyền bắt vạ.  –Nếu người có lỗi không chịu nhận lỗi hay không chịu phạt thì nhà chuyên trách tức thì lập biên bản ghi rõ ngày giờ, tên họ kẻ có lỗi và sự trạng phạm lỗi, nếu có thì nên lấy chữ ký một vài người chứng đã mục kích sự phạm lỗi ấy như mình. Tờ biên bản sẽ đệ lên lý trưởng để nhóm ủy ban phân xử.

 

Khoản 163. Sẽ giao cho những người hương chức có quyền phạt vạ mỗi người một quyển sổ biên lai tồn cán. Mỗi khi nhận tiền phạt vạ đều phải viết biên lai cho người bị phạt.  – Người nầy phải ký tên hay điểm chỉ vào phần biên lai lưu chiếu.  – Tiền phạt vạ phải nạp vào quỉ làng.

Nếu người hương chức nào nhận tiền phạt mà không chịu phát biên lai hay lạm tiêu tiền ấy đi bị phạt hết sức nặng theo điều khoản 158.

Tất cả những sự phạt vạ đều biên vào một quyển sổ riêng về việc ấy. Người thư ký của Hội đồng Đại hào mục chuyên làm sổ ấy.

 

Mục  3   Quyền Phân Xử

Khoản 164. Trong làng sẽ thiết lập một ủy ban phân xử những việc kiện thưa giữa người làng, gồm có lý trưởng làm chủ tịch, Đại hào mục hay một kỳ hào làm cố vấn, một hay hai tộc biểu (tùy theo hai bên nguyên bị thuộc một hay hai tộc phái) tham dự. – Tộc biểu được phép biện hộ cho người thuộc về tộc phái mình.

Ủy ban phân xử có thể ủy quyền cho Phó lý trưởng phải xử những việc thưa kiện nhỏ mọn ở trong xóm.

 

Khoản 165. Người trong làng mỗi khi có việc bất bình, xô xát muốn được phân giải cho ra lẽ phải trái, nên đến thưa với lý trưởng (làm đơn hay thưa miệng cũng được). – Lý trưởng tiếp được đơn thưa hay lời thưa, liền biên việc ấy vào sổ rồi định ngày nhóm Ủy ban phân xử ngay, trừ gặp việc trở ngại không nên để trể quá 10 ngày.Nên đòi cho đủ hai bên nguyên bị và nếu có người làm chứng thì cũng nên đòi luôn một lượt. Trong giấy đòi nên ghi rõ ngày giờ và chỗ xử kiện thường là ở nhà hội của làng hay của xóm. Người ngoài cũng được phép đến xem xử kiện nhưng không được làm rối trật tự và can thiệp vào việc của ủy ban.

 

Khoản 166. Mỗi khi xử một việc gì, ủy ban phải làm biên bản (hai bản) ghi rõ ngày giờ, tên họ người có mặt ở ủy ban tên tuổi và nghề nghiệp người đương sự, sự trạng việc kiện thưa, nhưng lời biện hộ và dối nại của hai bên và sau rốt những lời phán đoán của ủy ban. – Nên lấy ký chỉ vào biên bản phân xử.  – Một bản để trong tủ văn thơ của làng, một bản đệ trình quan Địa phương tri chiếu.

Nhân khi phân xử một việc kiện thưa thường mà xem ra kẻ đương sự có phạm vào các khỏan trong Hương ước, Ủy ban có thể xử phạt vạ luôn và cũng ghi sự phạt vạ ấy vào biên bản.

 

Khoản 167. Theo lệ làng từ xưa đến nay mỗi khi xử kiện lý hương được quyền thu tụng phí gọi là tiền nghi của hai bên nguyên bị phải trả, một bên là hai quan năm.  – Người thua kiện phải trả tiền nghi cho kẻ được kiện. Lệ ấy nay vẫn giữ nhưng số tiền hai quan năm giảm xuống 0đ30 ở làng và 0đ20 ở xóm, nhưng chỉ người thua kiện mới phải trả tiền ấy mà thôi. Trừ khi nào hai bên xin hoà giải thì phải chia đồng nhau chịu tiền nghi ấy. Người nào đã thua kiện mà lại còn bị phạt vạ nữa, thì phải chịu vừa tiền nghi vừa tiền phạt. Tiên nghi cũng như tiền phạt sẽ nộp vào qủi làng, rồi sau sẽ lấy ra giao cho người hương chức xử kiện nhận hưởng.

 

Khoản 168, Người đương sự không phục tình lời phân xử của phó lý trưởng có thể kêu nài ở Ủy ban phân xử. Ủy ban có quyền đem việc kiện ra xử lại công nhận hay bác khước lời phân xử của Phó lý trưởng.  – Nếu lại không phục tình nữa, người đương sự có thể kêu nài ở Hội đồng Đại hào mục. Đơn kêu nài sẽ đưa cho Đại hào mục. Nếu lại không phục tình nữa thì nội vụ sẽ đệ trình quan Địa phương thẩm định.

 

TIẾT  THỨ  MƯỜI  MỘT

 

Mục  1   Văn thư

 

Khoản 169. Làng ta có hai loại văn thư : một loại về hành chánh, một loại về  Hội đồng Đại hào mục. Loài thứ nhất gồm có tất cả những công văn hay sức lệnh của quan trên gửi đến cho làng đều giao cho lý trưởng nhận giữ.

Những tờ khai, trình, báo biên bản, đều giao lý trưởng làm gởi đi.

Loài thứ nhì gồm có tất cả công văn thư từ gởi đến cho Hội đồng Đại hào mục đều giao Đại hào mục nhận giaothư ký giữ.

Những tờ trình báo, thư từ trả lời đều giao Đại hào mục làm rồi giao thư ký gởi.

Lý trưởng cũng như thư ký nên làm hai quyển sồ một quyển nhận thư văn và một quyển phát thư văn. Những thư văn nhận được hay gởi đi đều sắp theo thứ tự số hiệu hay ngày tháng vào những cặp bìa phải gìn giữ tử tế không được xé bỏ hay làm mất đi. Nếu có tiếp nhận một thông sức hay một sức lệnh gì gởi cho nhiểu làng thì nên sao một bản đúng nguyên văn để cho làng mình.

 

Khoản 170. Lý trưởng và Đại hào mục nên trao đổi thư văn nhận được cho nhau xem. Như có việc gì lợi ích cần phải cho tất cả nhân dân trong làng đều biết thì nên nhóm họp họ lại để tuyên hiểu, hoặc sao tờ công văn gởi cho các tộc biểu để hiểu lại cho người trong họ biết.

 

Mục  2   Sổ  Sách

 

Khoản 171. Trừ những sổ bộ nên để luôn trong tủ văn thơ của làng, những sổ họ hay giấy tờ khác có thể giao cho mỗi người chuyên trách nhận giữ. Nên làm một bản thống kê tất cả những sổ sách của làng. – Người nào nhận giữ quyển nào phải ký tên vào đó để nhận lấy trách nhiệm.

Người chuyên trách nhận sổ sách phải gìn giữ cẩn thận, không được xé bỏ, sửa đổi hay thêm bớt những điều đã viết xong rồi.  – Nếu cần phải sữa đổi những điều viết lầm hay thêm những điều viết sót thì nên viết mực đỏ lên trên, rồi xin lý trưởng hay Đại Hào mục duyệt chứng.  – Nhưng sổ sách quan hệ mỗi trang đều phải có chữ ký của lý trưởng và Đại Hào Mục.

Người nào thôi làm việc, nên bàn giao sổ sách lại cho ngừoi thế chân mình. Phải làm biên bản bàn giao trước mặt lý trưởng và Đại hào mục. Hai người này đều ký áp vào biên bản. Nếu là việc bàn giao của lý trưởng, thì biên bản phải làm trước mặt Đại Hào Mục và một người hương chức khác như hương bộ chẳng hạn.

 

Khoản 172. Phòng giấy của làng sẽ bài trí ở nhà Hội. Sẽ để ở đó một cái tủ có khóa chắc chắn, chứa tất cả những hộ tịch, sổ sách, công văn, thư từ và giấy tờ khác hết thảy gọi là tủ văn thơ của làng. Tủ khoá kỷ và niêm lại … Đại Hào Mục và Lý trưởng mỗi người ký tên và đóng dấu vào giấy niêm. Chìa khoá tủ giao Hương bãn giữ.

Mỗi khi cần tìm kiếm sổ sách hay giấy má gì thì Đại Hào Mục, Lý trưởng và Hương bản hội lại mở tủ và khi đóng tủ lại phải làm giấy niêm lại như trước.

 

TIẾT  THỨ  MƯỜI  HAI

 Dân  kiều – ngụ

 

Mục  1   Sự đối đãi

 

Khoản 173. Người làng khác kiều ngụ trong làng ta vẫn được đối đãi, bảo vệ tử tế. Rủi họ có gặp những điều hoạn hoạ ta nên lấy tình đồng loại cứu giúp.

Nếu người kiểu ngụ có mời thì lý hương làng ta cũng có thể đến dự những lễ như là Quan Hôn Tang Tế. Sẽ chuẫn trong công quỉ làng một số tiền không khi nào quá 2đ00 để mua sắm lễ vật đi cho mỗi người kiều ngụ. Cũng có thể, tùy theo danh giá, phẩm vọng của mỗi người, dùng những đồ nghi lễ rước đưa đối với họ, nhưng sự rước đưa ấy không được long trọng bằng hay qúa sự rước đưa sánh với người làng ta.

 

Khoản 174. Người kiều ngụ, nhân một lễ gì đến làng ta, ta nên theo phép lịch sự tiếp đãi họ, nhưng lẽ tất nhiên là họ phải nhường ta một bực. Ví dụ phẩm vị người ấy là Chánh lục thì sẽ mời họ ngồi ngang hàng với người có hàm tùng lục ở làng ta.

 

Mục  2   Việc đóng góp

Khoản 175. Được đối đãi và giúp đỡ tử tế, người ngụ xả nên góp sức với chúng ta giữ gìn sự yên tịnh trong làng. Bởi vậy trừ những người chức sắc, miễn sai, miễn điêu, tất cả dân ngụ cường tráng không kể nội hay ngoại tịch đều phải đi canh, và cũng như dân bất kham ở trong làng ta, sẽ phải giúp ba ngày công làm những việc công ích hay tạp dịch trong làng.

 

Khoản 176. Mỗinăm, người chức sắc, miễn điêu, miễn sai, sẽ giúp cho làng ta 0đ20 gọi là tiền đóng góp về việc  Cấm phòng “ Tiền ấy dành để thưởng người chuyên trách và những dân phu cầm phòng đắc lực sẽ nộp vào quỉ làng mỗi khi có giấy sức thu của Đại hào mục. Khi nào có nghị định của hội đồng rồi, mới lấy ra để phát cho người được thưởng.

 

Khoản 177. Tất cã những việc xô xác, bất bình, thưa kiện giữa người dân ngụ xã, hay với người chính xã của ta, đều do Phó lỳ trưởng hay ủy ban nói ở khoản 164 phân xử, trử khi nào họ đã đến Toà án thưa kiện rồi thì thôi.

 

TIẾT  THỨ  MƯỜI  BA

 

Những cuộc vui

 

Mục 1   Ngày Hội đồng dân

 

Khoản 178. Nếu nhân dân hằng năm thường đóng góp cho làng nhiều việc, thì họ cũng có quyền hưởng những cuộc vui chơi để tạm quên sự khó nhọc.

Bởi thế, từ nay về sau, cách ba năm hay năm năm, nhân lúc thái bình,  nếu có sức làm được, làng sẽ xin phép tổ chức những ngày Hội vui cho dân làng.

Trong những ngày Hội ấy tổ chức ở nhà Hội làng hay ở nhà Hội trong mỗi xóm, tất cả nhân dân và những người trong gia đình họ được làng mời đến dự tiệc ăn uống tươm tất và dự những cuộc vui (không có hại) bày cho họ xem.

Ngoài những mục đích, ăn uống vui chơi, ngày hội đồng dân còn có một mục đích khác nữa là làm cho người trong làng hiểu biết nhau, kết chặt tình thân ái. Trong cuộc vui đã biết nhau, thì trong lúc hoạn nạn ắt phải tưởng đến nhau.

 

Mục  2 Ngày Hội trẻ con

 

Khoản 179. Cuối mỗi năm nhân lễ Tết Nguyên đán, ban cứu tế của làng nói ở khoản 110 có thể tổ chức những cuộc vui cho trẻ con. Nhân những cuộc vui ấy sẽ phát phần thưởng hay sách vở cho học trrò, phát y phục hay vật thực cho trẻ con nghèo trong làng. 

NHỮNG ĐIỀU KHOẢN CHUNG

Khoản 180. Tất cả những điều khoản trong hương ước nầy về sau có thể sửa đổi cho hợp với thời nghi.

Muốn sữa đổi một khoản nào, hoặc bỏ đi, hoăc thêm vào thì Đại hào mục phải chiêu tập một kỳ Đại hội đồng bất thường mời tất cả nhân dân trong làng đến dự. Muốn cho sự bàn định của Đại hội đồng có giá trị thì phải nhóm cho đươc :

1) hai phần ba số người có chân trong Hội đồng Đại hào mục, gồm tất cả lý hương đương thứ và Chánh Phó xả Đoàn.

2) Mỗi xóm bốn viên quan và bốn cựu hương chức hay dân tráng.

Tất cả những người ấy đều ký chỉ vào biên bản của phiên nhóm Đại hội đồng quyết định sự sửa đổi. Hết thảy những sự sửa đổi đều phải bẩm Tòa Tỉnh duyệt y, rồi mới thi hành.

Tất cả những nghị định của Hội đồng Đại hào mục được Tỉnh Toà duyệt y cũng có hiệu lực như các điều khoản trong hương ước này.

 

Khoản 181. Tất cả những người có chức trách trong làng từ hào biểu cho đến lý hương, mỗi người tùy theo phận sự và sức lực của mình đều chung mưu lợi ích cho làng về mỗi phương diện. Chúng ta càng theo đuổi theo một cái lý tưởng chung là : Chấn chỉnh việc làng.

Trong sự chấn chỉnh ấy, nếu làng ta cần sự học thức mới và sự hoạt động của phái trẻ tuổi, thì làng ta cũng rất cần sự khôn ngoan, sự từng trải của những bậc lão thành. Chúng ta nên để hết lòng nhẫn nại và vị tha vào tất cả những công việc mà quan trên và làng ủy thác cho ta. Chúng ta còn phải hết lòng săn sóc dạy bảo những kẻ ở dưới ta và nhất là giúp đỡ đám dân nghèo khổ trong làng..

Ta cũng nên hiểu biết công trạng của những lý hương thừa hành việc quan và việc làng ta. Theo tình thế bây giờ, những việc ấy rất khó nhọc và rất phiền phức cần phải có khôn ngoan sốt sắng và thạo việcmới làm nổi.

Những người thừa hành cũng nên biết cái chức vụ mình là chức vụ vinh dự, và nên vứt bỏ cái thành kiến đã khiến cho bao người lý hương xem việc làm làng như một cái nghề làm ăn cần phải kiếm lợi, những mối lợi về vật chất có khi qúa lạm và trái phép nữa. Vẫn biết nếu không vì lợi thì mấy ai hết lòng làm việc, nhưng cũng có những món lợi khác qúi giá và lâu bền hơn sự biệt đãi của làng, lòng mến phục của dân,, những sự tưởng thưởng của quan trên và của làng cũng đủ đền bù công cán cho ta, một cách xứng đáng và vẻ vang hơn những mối lợi nhỏ nhen thầm vụng. Người có chức trách trong làng không nên vượt quá quyền hạn và phận sự của mình. Hương kiểm chuyên việc kiểm phòng, hương mục chăm nom đường sá. Tuy vậy, hương mục cũng có quyền bắt kẻ trôm cắp giao cho hương kiểm hay lý trưởng xử lý, nhưng không khi nào được tự tiện xử đoán, bắt phạt hay tha đi.

Những người hương chức làm việc lâu năm mà không phạm lỗi gì nặng, nếu không được quan trên ban thưởng thì hội đồng Đại hào mục cũng có thề thưởng cho những sự vinh dự tương tự như những sự vinh dự nói ở khoản 76,77,78.

Đối với những lý hương chuyên việc hành chánh thường năm làm sổ dự trù ngân sách, hội đồng Đại hào mục nên chi một khoản tiền rộng rãi để phụ cấp cho họ, cũng như những việc phí tổn trong lúc làm việc quan việc làng. Tương lai tiền phụ cấp ấy có thể đổi thành tiền lương hưởng như tiền lương của viên chức các công sở.

 

 

LÀNG DIÊN NIÊN

HƯƠNG  ƯỚC  LÀNG  DIÊN  NIÊN  (*)

PHỦ  SƠN  TỊNH

 

TIẾT THỨ 1: TOẠ THỨ

 

Tọa thứ tại nhà hội, chiếu tùy cổ tục hương ẫm phân toạ như sau:

 

MỤC I: GIAN GIỮA

 

Khoản 1:  Người nào phái khoa, tân cựu học tú tài, cử nhân trở lên và ấn quan thì ngồi riêng gian giữa trước tất cả văn võ viên chức.

 

Khoản 2:  Văn võ viên chức, tân cựu học tú tài, cử nhân, cao đẳng tiểu học, giám thủ, thích lý, giám tự, tuỳ theo phẩm thứ (tả văn hữu võ) ngồi gian giữa, ghế thứ.

 

MỤC II:  GIAN BÊN TẢ

 

Khoản 3:  Người nào đậu sơ học và lý hương đương thứ, ngồi gian bên tả.

 

MỤC III:  GIAN BÊN HỮU

 

Khoản 4: Biền binh và cựu hương chức ngồi gian bên hữu.

 

Khoản 5:  Bốn khoản toạ thứ kể trên đều đã định lệ rồi, song trừ khoản 1 ngoại viên nhân nào hoặc vì tôn thuộc, sư đệ hay niên xỉ mà công nhiên tương nhượng để sự đôn luân càng tốt.

 

MỤC IV:  NHÀ HỘI TRANH

 

Khoản 6:  Nhà hội tranh có ba gian, lão nhiêu, phó xã đoàn, dịch mục, đoàn thập, thập trưởng, ngòi gian giữa, tráng dân gian tả còn thuỷ nhập và dân ngụ gian hữu đều tùu tuổi phân trên dưới.

 

TIẾT THỨ 2:  TẾ  TỰ

 

MỤC I: TẾT NGUYÊN ĐÁN

 

Khoản 7:  Mỗi năm đến Tết nguyên đán thì trước một ngày, ngày chung trứ, lý hương sức dân đem cờ trống, trần thiết tại đình và nha thờ tiền hiền Phan Quang tôn thần. Ngày Nguyên đán viên chức chủ bái, lý hương tề tập đến hai sở (kể trên) bái lễ. Đồ trần thức thủ đình giữ, hương kiểm và xã đoàn sức dân tuần phòng. Hết ba ngày Tết dọn cất. Lễ dùng hương, đèn, trầm trà, trầu, cau, rượu trích tiền tế điền một đồng (1$00).

 

MỤC II:  MỞ MÕ

 

Khoản 8:  Thượng tuần tháng giêng có lể mở mõ, giao lý hương chọn ngày tốt hành lễ. Lễ dùng trầu, cau, rượu, trích tiền công dụng ba giác (0$30).

 

MỤC III:  SẮC THẦN

 

Khoản 9:  Sắc thần rất hệ trọng, hiện nay tại đình cửa nẽo không được chắc chắn để thờ có bất tiện, đồng ứng đem thờ tại nhà thờ tiền hiền Phan Quan tôn thần. Mỗi năm hai kỳ, chủ bái, lý hương tề tập đến coi phơi và niêm lại để thờ.

 

MỤC IV:  TẾ XUÂN KỲ AN

 

Khoản 10:  Rằm tháng hai tại đình có lễ tế xuân, tự lai thường thường thì chủ bái là tiên chỉ hay thứ chỉ, còn bồi bái thì Phan Quang tôn thần tự trưởng. Mùng một viên chức, chủ bái và lý hương tề tập lựa thừa hành dự tế: 4 phân hiên, 1 đánh chiêng, 1 đánh trống, 3 thị lập trong tẩm, 2 thị lập ngoài tiền đường, 4 lễ sinh, 8 nhạc công, 40 dân rước sắc (Diên Hoà 20, Diên Bình 12, Diên Lộc 8). Lựa xong người nào chuyên việc gì phải kê yếu tại nhà hội cho biết. Ngày 14 trần thiết tại đình, đến ngày rằm các sắc viên nhân (lễ phục hay thanh phục) sức dân đem cờ trống, tàn, lọng, long đình, y liệp và lễ nhạc, tề chỉnh, đến nhà thờ tiền hiền Phan Quang tôn thần rước sắc về đình phụng tế. Tế dùng hương đèn, trầm, trà, trầu, cau, rượu, quả phẩm, trích tiền tế điền năm đồng (5$00).

 

Khoản 11:  Tế tất phải nghiêm, khi tế ai lo phần ấy, xã đoàn và hương kiểm ở ngoài đàn áp không ai được vào, duy có một người lý hương đứng hầu kiểm nghi. Lễ thành đưa sắc thần trở lại nhà thờ thần tiền hiền an phụng. Rồi về nhà hội dùng cơm trưa, trích lúa tuần đinh hai mươi lăm ang (25 ang)

 

MỤC V:  NGÀY UÝ THẦN TIỀN HIỀN

 

Khoản 12:  Rằm tháng ba họ Phan Quang tu tảo mộ Thần tiền hiền và tế xuân tại tôn thần từ. Làng sức dân đến tảo mộ, đem cờ, trống, chiêng, lọng đến trần thiết và trợ hành. Làng đến dự tế để đáp công đức lớn đối với làng. Lễ dùng một mâm trầu, cau, rượu, trích tiền tế điền năm giác (0$50).

 

Khoản 13:  Ngày mồng một tháng năm là ngày kỵ thần tiền hiền, lý hương sức dân đem cờ đến trần thiết, tại tôn thần từ, chủ bái, viên chức và lý hương đến hành lễ. Lễ dùng hương, đèn, trầm, trà và quã phẩm, trầu cau, rượu, trích tiền tế điền một đồng rưỡi (1$50)

 

Khoản 14:  Ngày hai mươi tám tháng mười có kỵ chánh thất thần tiền hiền tại tôn thần từ. Lý hương đến hầu lễ. Lễ dùng một mâm trầu, cau, rượu, trích tiền tế điền năm giác.

 

MỤC VI:  LỄ HƯNG QUỐC KHÁNH NIỆM

 

Khoản  15:  Mùng hai tháng năm cung ngô hưng quốc khánh niệm, viên kỳ,hương chức tề tập tại đình, trần thiết, long trọng treo cờ, đốt pháo, bái hạ khánh lễ. Lễ trích tiền tế điền một dồng (1$00), lúa tuần đinh năm ang (5 ang).

 

MỤC VII:  LỄ  LỆ

 

Khoản 16:  Ngày hai mươi lăm tháng chạp tại đình có lễ lệ kỵ đông điền, hoa lợi, chạp đình, chạp mộ thần và thượng tiêu. Sáng sớm viên chức chủ bái và lý hương tề tập tại đình, trần thiết và sức dân, đến tu tảo mộ thân tiền hiền Phan Quang tôn thần cho quang phiết rồi về đình hành lễ. Lễ dùng trầu, cau, rượu, hương, đèn, trầm, trà trích tiền tế điền hai đồng rưỡi(2$50) lúa tuần đinh mười ang (10ang). Họ Phan Quang lại niệm tổ đức đem một con heo và một cỗ xôi đến phụ tế. Lễ này chủ bái vái cúng.

 

MỤC VIII:  HẦU KỴ NHỮNG NGƯỜI CÓ CÔNG

 

Khoản 17:  Trong làng viên nhân nào quá cố mà có công đức với làng, mỗi khi gặp ngày úy, nếu người chủ tự có mời, thì một người lý hương đến. Lễ dùng một mâm trầu, cau, rượu, trích tiền công dụng ba giác ( 0$30)

 

TIẾT THỨ 3:  KHÁNH ĐIẾU  –  KHAO VỌNG  –  HÔN LỄ

 

MỤC 1:  KHÁNH HẠ

 

Khoản 18:  Người nào thi đậu tân học, tú tài cử nhân (trở lên) hay văn võ viên chức được thăng thưởng thì làng tề tập sức dân đem cờ, trống long đình, tàn lọng và y liệp đi rước rất long trọng, về đình yết thần. Làng dùng một mâm trầu cau, rượu và đốt pháo để mừng, trích tiền công dụng một đồng năm giác (1$50).

 

Khoản 19:  Đậu cao đẳng tiểu học thì chĩ đi mừng thôi thăng thưởng và đăng khoa:  một câu liễn giá một đồng rưỡi (1$50), Cao đẳng tiểu học một câu liễn một đồng (1$00), còn phát khoa thì đặt cách rước mừng ngoại.

 

Khoản 20:  Người nào lâm thời mông tứ biển ngạch, thọ quan, thọ dân, tứ đại đồng đường, tiết phu, nghĩa phụ, hiếu tử, thuận tôn, thì sẽ định rước mừng còn các xã thôn có khánh, hỷ đến mời sẽ tề tập định hành.

 

MUC  II:  TANG LỄ

 

Khoản 21:  Viên nhân nào thệ thế (trừ cấp chứng ngoại), quan chức hạn một ngày đến một tháng, thứ dân một ngày đến một tuần tống táng. Diên tế và lễ phẩm cần phải kiệm ước, không được xa xí. Chí như hàng họ thân bằng đến điếu tang, người gần thì tang chủ dùng trầu, nước, còn xa thì cơm thường khoãn đãi (không được thết rươu) để được tỉnh tiết.

 

Khoản 22:  Viên nhân nào quá cố thì chiếu theo nhơn phẩm mà đi điếu (dùng tiền) và tống táng (dùng cờ trống) vản lại cốt hiệp tình lễ. Người nào có công đặc sắc, sẽ tề tập tống táng riêng. Người xuất ngụ tùy tục làng ngụ. Còn đối với người tha xã mà làng niệm tình tống điếu thì tề tập sẽ định.

 

MỤC III:  KHAO VỌNG

 

Khoản 23:  Phàm như nhương tai kỳ phước, lễ tế, thiết trai, hoàn nguyện, lạc thành, tuỗi tôi, mừng nhà mới, ăn cưới, thì được tuỳ tiện tham kiên chước cổ cho hiệp thời nghi chớ không nên quá xa xỉ thành tệ chí như đồng bóng, phù phép, thiết đàn làm nộm, vọng tín hư phí nhứt thiết cấm chỉ.

 

MỤC IV:  HÔN LỄ

 

Khoãn 24:  Việc hôn thú thì tùy gia phong kiệm, nhà gái không được yêu sách, tự phàm hai họ kết hôn, hạn một tháng đến sáu tháng thành hôn (trừ có duyên cớ ngoại). Nhà nghèo thì tiền sính ngân không quá hai đồng (2$00) một đôi hoa tai, bốn người họ, nhà hữu sản thì tiến sính ngân bốn đồng (4$00) một đôi hoa tai va sáu ngươi họ. Phải có trầu cau rượu, đủ lễ, còn nhà phú quí thì tuân theo nghi định năm Khải Định thứ tư mà làm chớ không được xa xí. Tiên gia lang thì một hạng sáu tiền, một hạng một quan hai tiền, người xã khác gấp đôi, nạp tại hương bộ (trừ mua trích lục ngoại). Hương bộ thâu nhận đến nguyệt để tính giao lý trưởng, trước vào thâu sách và chuyển giao hương bổ nhận thủ. Cưới vợ làng khác thì tùy tục lệ làng ấy.

 

TIẾT THỨ TƯ:  KIỀM PHÒNG

 

MỤC I: ĐỘNG TỊNH

 

Khoản 25:  Kiềm phòng động tịnh là phận sự trước nhất của chánh phó xã đoàn mà nhân dân cũng có một phần trách. Nều ngộ có sự động phi thường thì đương thứ lý hương phải hiệp với chánh phó xã đoàn sức dân hết sức kiềm phòng, bắt cho được giải trình, nếu hư ứng trách phạt.

 

MỤC II:  ĐẠO KIẾP

 

Khoản 26:  Muốn trừ trộm cướp tất trước phải kiềm phòng, mà kiềm phòng trộm cướp là nghĩa vụ của hương kiểm. Vậy phải sức dân thời thường tuần trấp, trinh thám. Như có ai mưu trộm cướp thì hiệp với lý hương một mặt sức dân vây bắt, một mặt báo trình, nếu dung túng cẩu liểu, hương kiểm và dân canh phải bị phạt.

 

Khoản 27:  Quần tam tụ ngũ, hát hò, hát hố (trừ hát dã nền nhà) dạo ngoài đường la giỡn, hý cuộc, đánh bạc, tìm cách trai gái cướp trộm thì đều cấm. Nếu có xảy ra lý hương và chánh phó xã đoàn bắt đến hội sở, nhẹ nghiêm trách, nặng giải trình. Người hoa gia cùng bọn ấy đồng tội. Còn huynh trưởng ngày thường không cấm giới cũng không khỏi lỗi.

 

MỤC III:  CANH TUẦN

 

Khoản 28:  Việc canh tuần tự lai đã lựa mấy chỗ yếu xứ và giới thủ thiết lập vọng canh, mỗi đêm canh mỗi vòng bốn người.

a)     Xóm Diêm Hoà một vọng canh ở địa giới tiếp giáp bộ Lộc Thọ.

b)     Xóm Diên Bình một vọng canh ở địa giới tiếp cận bộ Vĩnh Lộc và Xuân Hoà và một vọng canh ở địa giới tiếp cận bộ Vạn Lộc.

c)      Xóm Diên Lộc một vọng canh ở giữa làng gần cầu, hễ đến tối bắt cầu là ai đi qua thời dân canh phải hỏi, nếu có đưa thân thuế chỉ ra coi và quả là người lương thiện để đi. Bằng không biết tên họ, tình nghi hoặc đi xe không đèn, không thẻ thuế xe, không thẻ căn cước xe, thì phải triệt giữ lại chòi canh, đánh mõ báo lý trưởng giải trình. Nếu khoán phế canh tuần hay dung túng gian nhân đi ăn trộm bò, trâu hay tài sản của người, thì đêm ấy về phiên những người nào canh tuần, những người ấy chịu trách nhiệm, mà người quản suất là hương kiểm xã đoàn cũng không từ lỗi được. Còn như người nào bị tình nghi hay án quản thúc, bất thời lý hương đến nhà kiểm điểm, không có sẽ trách phạt, bị phạt ba lần giải trình.

 

MỤC  IV:  CANH PHÒNG HOA LỢI

 

Khoản 29:  Hoa lợi ngoài đồng như: lúa, mía, khoai, mì đậu v.v… phải đặt tuần đinh canh giữ, người nào cắt trộm, hái trộm hay thả trâu. bò, heo, dê, ngỗng v.v… phá hại hoa lợi, tuần đinh bắt được phải chiếu số bồi thường. Nếu tuần đinh phóng phế để người khác bắt được tường lý hương, thì tuần đinh bị bồi thường và phải phạt. Đến mùa thu hoạch ba lợi, thì cứ một trăm ang, tuần đinh thâu hai ang. Việc tuần đinh tự lai đã có ba xóm thuê đặng mùa thì đồng niên ba trăm ang (xóm Xuân Hoà một trăm năm chục ang, xóm Diên Bình chín chục ang; Diên Lộc sáu chục ang) mất mùa thì hai trăm ang (Diên Hoà một trăm ang, Diên Bình sáu chục ang, Diên Lộc bốn chục ang). Lúa thâu trữ tại hương bồn (có tờ nhận) và lý trưởng phải chép vào sổ thâu để dùng việc làng.

 

Khoản 30:  Nhà nào bị mất trộm vặt như gà, vịt, ngỗng, heo, dừa, mít, hành, tỏi, cau tiêu, thơm v.v… Tài chủ bắt được báo hương kiểm, hương kiểm đến khám quả thì bắt đứa kẻ trộm bồi thường và bắt phạt. Nếu tài chủ không bắt được, song có bàn cận chứng cứ, đến tường, thì hương kiểm ghi vào sổ tay, chờ lúc bắt được, hay phác giác ra, thì từ ấy về trước, ai bị mất gì đều kê ra tính bầt thường; hương kiểm trước tên vào sổ tình nghi thiết đạo và phạt nữa […]

 

Khoản 31:  Ai thấy được tài vật hoặc điền khí người khác bỏ quên hay đánh rơi thì hô hoán, hay nhặt đem giao lý trưởng, lý trưởng thông cáo khắp trong làng, ai mất đến nhìn nhận, song phải có đủ tài liệu, dấu tích chứng tỏ là của mình mới được nhận. Nếu thấy được mà giữ làm của riêng, giác xuất sẽ bọ nghiêm phạt. Như không ai nhận lý trưởng phải trình quan để thông sức cho biết đến nhận.

 

Khoản 32:  Mỗi năm khi đồng niên hoa lợi thu hoạch rồi thì từ tháng chín đến tháng chạp, điền hộ làm giấy giao kèo với nghiệp hội cho chủ vịt, giấy phải nói rõ cho vịt ăn tại đám ruộng số hiệu gì, tiền thuê là bao nhiêu (tiền thuê trả trước) có lý trưởng chứng nhận áp triện. Giao kết xong tin tuần đinh biết mới được thả vịt. Song đám ruộng nào đã cấy hoặc gieo mạ thì dù có làm giấy thuê rồi cũng không được viện hạng ấy mà thả. Còn số tiền thuê thì chia ba: điền hộ hai phần, làng một phần, lý hương nhận, ghi vào sổ thâu để sung công dụng.

 

TIẾT THỨ 5:  CÔNG ÍCH CÔNG LỢI

 

MỤC I:  VỆ SINH CÔNG CỘNG

 

Khoản 33:Ai có giếng phài giữ gìn sạch sẽ, thành giếng phải xây đá hay làm khung tre. Cấm không được tấm giặt, phóng uế bốn phía giếng và trẻ con không dược đến gần giếng rất nguy hiểm. Còn nước các suối khe, thì cấm từ tháng giêng đến tháng tám, không ai được thả vịt và tất cả làm đục nước bò trâu uống sinh bệnh.

 

Khoản 34:  Đường đi trong làng cần phải dẩy cỏ, các nhà ở gần phải thường dọn quét đường cho sạch. Cấm không được bỏ cỏ mục, phóng uế vật và thả heo ủi trên đường. Hai bên đường phải đào mương cho nước khỏi đọng sinh muỗi.

 

Khoản 35:  các súc vật chết trôi hay cỏ mục, đụn lại nơi các cầu, cống, suối, hói, làm cho nước phiên ngưng thì điền hộ gần đó phải lấy cây dọn đi cho khỏi ô uế sinh bịnh.

 

Khoản 36:  Người nào đau các chứng thiên thời, thổ tả v.v…phải báo ngay nhà thương điều trị, nếu chẳng may chết thì báo hương bộ đến khám, cho phép trong 24 giờ chôn ngay, chôn theo phép vệ sinh.

 

Còn nhà nào có súc vật chết, thì nhứt thiết không được xẻ thịt chia phần và cấm bỏ dòng nước, phải lựa chổ cao ráo xa nước, đào chôn cho sâu và bỏ vôi phòng khỏi truyền nhiễm.

 

Khoản 37:  Bất kỳ người nào bán thịt thú vật có bịnh như heo gạo v.v… Thấy được bắt giữ, báo lý hương khám quả sức chôn thịt và đuổi không cho bán nữa. Còn người nào mua lầm mà không chịu chôn hay tri tình mà không báo lý hương sẽ bị phạt.

 

Khoản 38:  Những điều vệ sinh công cộng thường thức nói trên, rất cần yếu cho sinh mạng dân làng, vậy lý hương phải nên châu hành kiểm soát, ai tuân làm hiệp thức được thưởng, ai trái sẽ phạt.

 

MỤC II:  TU TRÚC ĐƯỜNG SÁ, CẦU CỐNG.

 

Khoản 39:  Đường sá cầu cống, như có khuy khuyết, hương mục phải sức dân tư  ích tu trúc cho được bình thẳng. Điền hộ nào muốn cho mương nước ngang qua đường, phảl làm cống xây gạch hay bắt ống tre, trên mặt đắp bình thẳng như củ. Còn đường trong xóm thì mỗi năm hai kỳ thượng tuần tháng giêng và thượng tuần tháng bảy, các xóm phải sức dân (bất cầu chánh ngụ) đồng công tu trúc cho được tử tế.

 

MỤC III:  VỆ NÔNG.

 

Khoản 40:  Cấm các nhà làm ruộng không được lấn bờ ruộng, ăn cắp điền khí, phóng súc sản, phá điền hoà, lẻ bò trên bờ ruộng, tháo trộm nước ruộng của người để tưới ruộng mình, đơm cá, thả lờ và lội bắt cá cạn trong ruộng, bất cầu ruộng ai, người nào phạm các điều kể trên, điền chủ hay tuần đinh bắt được, báo lý trưởng tổn hại ít bắt bồi và phải phạt, nhiều trình quan nghĩ trị.

 

Khoản 41:  Đến mùa lúa chín như ngập lụt, thì lý hương phải gia tâm sức thu hoạch, ruộng sâu trước, ruộng cao sau, và cấm thợ gặt không được yêu sách, tìm ruộng cao, bỏ ruộng ngập, thành ra hư tổn hoa lợi của người.

 

Còn người mót muốm mót phải chờ gặt xong đám ruộng thợ gặt lên bờ, mới được xuống  mót, đương gặp nửa đám hay gần hết, cấm không được ào xuống hỗn loạn, với thợ gặt, thành níu kéo nhiễu hại nhà nông. Như có ngưới nào không tuân hương ước, ào xuống gây ra nằm vạ đánh lộn ồn ào, giải trình nghiêm phạt.

 

Khoản 42:  Hạn từ rằm tháng mười trở lên, phải triệt khử các sa sịa, không được ngăn nước đơm cá, ngập ruộng khó cày cấy được.

 

Khoản 43:  Rủi bị mía cháy, thì các chòi mía trong làng phải nghỉ cả, chòi gần đạp gìum, chòi xa giúp công trâu bò, đạp cho mau xong, thợ đường, trai mía không được nhơn đó mà yêu sách, bán đường xong chiếu tuỳ thời giá trả công.

Còn như trai hàng, trai mía, thợ đường, thợ nuồi tự  tiện lấy mía cây (mía hồi) mía ngọn đem về nhà hay đem bán thì đều cấm chỉ. Tài chủ để chúng nó làm như thế cũng bị lỗi.

 

Khoản 44:  Ruộng nương trong làng nhờ xe nước nhiều lắm, vậy nếu rũi gặp thiên tai như bão lụt, giàn xe ngã sập, các điền hộ phải ra công đến gíup cho kịp nước tưới, ruộng khỏi khô, còn như tắm thả trâu bò trên mương xe và leo trên giàn máng thì đều cấm, vì sợ mương lở nước tràn, giàn sập làm hại đến nhân mạng: ai vi ước thợ xe bắt được, trình lý trưởng trách phạt.

 

Khoản 45:  Tre rất cần cho nhân dân, hướng lai trong làng đã xuất lực trồng một hàng tre để làm công dụng “trước thuộc xứ cây Trâm, nay trước nhập Tàu voi”, bắc gần tư thổ, tây giáp bộ An Phú, đông gần tư thổ, vậy phải nên công đồng bảo vệ cấm chủ ruộng tiếp cận không được cuốc phá gốc tre, đốn tre và cắt măng, bất kỳ ai và gặp ở chỗ nào, bắt được chiếu khoản 30 hương ước này, trọng phạt. Còn tre các tư chủ trong làng cũng chiếu lệ trên.

 

MỤC IV:  CỨU TAI TRUẤT NẠN

 

Khoản 46:  Nhà nào bị hoả tai, hễ nghe hô hoán, đánh mõ thì ai cũng mang đồ cứu lửa (ống tre đựng nước, gàu, câu liêm v.v…) chạy đến hết sức cứu. Lửa cháy rồi, lý hương phải báo trình và sức dân phu, hoặc giúp tre hoặc giúp tranh, làm liền cho khổ chủ một cái nhà tạm; như cháy ít thì sức tu bổ lại, để khổ chủ có chỗ dung trú.

 

Khoản 47:  Nếu có thủy tai hay cuồng phong, ai rủi bị súc sản phiêu lưu, tài vật hao tản, lý hương phải sức dân đến giúp. Nếu bị hại nhiều, nhà trôi, người chết, phải trích tiền công dụng sáu quan giúp khổ chủ và khuyên lân bàn giàu giúp tiền, lúa, tranh, tre, nghèo giúp công làm nhà để tỏ nghĩa tương lân.

 

Khoản 48:  Gặp trộm cướp, dân trong làng phải lập tức cầm dây, gậy đến tiếp cứu, hoặc đi triệt các yếu lộ, hoặc vây bắt, song cốt yếu là phải đắc lực.

 

Khoản 49:  Gặp những trường hợp trên nếu ai điềm nhiên, không cứu giúp hoặc kiếm cớ đóa tị, trách phạt.

 

Khoản 50:  Cứu tai truất nạn vốn vì công nghĩa, công tâm, ai rủi bị thương như lính cứu lủa phỏng lửa;vây kẻ trộm bị đánh v.v… thì lý hương lập tức khám thương tích, nhẹ trích tiền công dụng giúp ba quan sức đi nhà thương điều trị, nặng sáu quan, song người nào gặp kẻ trộm mang đạo tang mà theo giựt để làm của riêng, nếu có bị đánh trọng thương cũng không viện lệ này được. Còn ai đến cứu nhà người mà đánh cắp tài sản của khổ chủ, thì sẽ bị trọng phạt và trước vào sách tình nghi thiết đạo.

 

Khoản 51:  Người nào đau chết hạn trong 24 giờ phải báo hương bộ liền đến khám, chiếu qui trình cấp giấy mai táng và tuỳ nhà cho củi để dùng đủ việc tang, sức dân ai biết nghề gì, đến giúp cho xong việc (thợ may may áo, thợ mộc đóng hòmv.v…) song không được yêu sách. Về tiền công nếu tang chu ̉có thành tâm, thì trả mỗi công không quá năm tiền, người nào vì lân tình không nhận càng tốt. Dân âm công đãi một bữa. Ấp dịch phải sức dân trợ hành tống táng và đắp mã cho chỉnh đốn. Xong việc về nhà tang chủ dùng một mâm trầu cau, rượu tạ ơn.

 

MỤC V:  HỌC HÀNH GIÁO DỤC

 

Khoản 52:  Tự lai cùng thiết với làng Vạn Lộc một trường học, rất huyền cách, trẻ em tám chín tuổi trở xuống đến học không tiền, vậy tộc nào phụ huynh, tôn trưởng phải lựa trong tộc người nào có học thức và hạnh kiểm có thể dạy dỗ trẻ em được thì cùng nhau bảo dưỡng người ấy để chỉ vẽ con em trong họ học tập, tộc nào không có người biết chữ, thì xin phép rước thày theo chương trình các hương trường mà dạy dỗ. Tộc biểu phải thưởng kiểm cố, trò nào thông minh đỉnh đạc, thì khuyến khích cho mà thành đạt, trò nào phạm lỗi cũng nên khuyến lệ cho bớt đần độn.

 

Khoản 53:  Mỗi năm đến kỳ các công trường lưu hạ, làng sẽ xin phép quan trên, lựa trong làng các học sinh tánh tạnh thuần cẩn, không can khoản màcó bằng sơ học Pháp Việt, để luân phiên dạy giúp những người trưởng thành không biết chữ. Cứ mỗi tối từ 7 giờ đến 9 giờ, lúc rãnh việc ruộng trưa, đến tại nhà hội mà học, mỗi phiên dạy từ mười người trở xuống, trong 15 ngày đủ biết đọc chữ quốc ngữ và biết viết thì thôi, mười người khác đến học; thày giáo cũng luân phiên đến dạy, dầu đèn về phần làng chịu truất tiền công dụng ra mua, dạy phải có sổ ghi tên, vở soạn bài, vở luân hoán, mãn buổi dạy thày giáo phải ký tên vào các sổ sách và vở học trò, để lâm thời quan trên kiểm cố, thày nào dạy sai chương trình phải chịu trách nhiệm.

 

Mỗi phiên dạy lý hương một người phải đến kiểm điểm và ghi tên những người đến học vào sổ kê tên. Mỗi tuần đại hào mục, hội trưởng đến kiểm duyệt một lần và khuyến lệ cho sự học mau có ích và khỏi mất thì giờ, ngày sau biết đọc Quốc ngữ và ký tên để khỏi phụ lòng huấn hoá của phụ huynh và không phải đến nỗi tự hối là quá dốt.

 

Khoản 54:  Mỗi tháng một kỳ nhóm tại đình, hội đồng đại hào mục và lý hương đem những điều phụ huynh cấm giới trong hương ước này giảng cho dân nghe.

Còn những điều quan hệ đến luân lý cang thường, đạo đức, trật tự, tôn lão, kỉnh trưởng, những cách tề gia, tu thân và những phương pháp tiếp vật, xử mình đều phải giãng hết.

 

Khoản 55:  Phụ huynh, tôn trưởng, có quyền huấn hoá tử đệ, con trai thì dạy đi học làm ruộng, làm nghề, con gái thì dạy nũ công, trai gái đều phải làm hết nghĩa vụ. Họ nào có người nhỏ tuổi, cố cùng không ai dạy dỗ thì phải giao cho cận phòng hay tộc biểu thâu dưỡng dạy dỗ, chớ không được bạc đãi, cho khỏi lưu tán, sinh hư. Người nào phóng đãng mất dạy, hành chỉ trái phép, say rượu, la rầy, đấu tụng, phải dụ về nghiêm trừng, để biết đổi lỗi làm lành. Còn người nào muốn đi chỗ khác sinh lý, phải tường các tộc biểu và phụ huynh biết, chớ không được lưu liên ở ngoài tập nên thói xấu.

 

TIẾT THỨ 6:  QUÂN PHÂN ĐIỀN THỔ.

 

Khoản 56:  Làng hướng lai không có công điền, công thổ quân phân, năm Khải Định thứ chín có trưng các núi Viên Sơn, Động Trọc, Dương Sơn, Núi Giữa va vườn chùa Linh Sơn Tự; vườn chùa này từ khi trưng đến nay đã khai thác thành thổ, ước một mẫu (xem trích lục) trong làng đã đồng ý cho thuê mỗi năm mười hai đồng (12$00), để dùng vào việc tế tự. Các núi kìa (kể trên) thì dưỡng thủ tài mộc sung vào việc tu bổ đình từ và công dụng. Từ nay trừ việc hái củi dùng việc tế tự và giúp việc tang ra, cấm nhân dân không được lén vào hái củi phá núi làm tổn hại lâm sản vi ước trách phạt. Còn tiền các núi ấy có cấy tranh, lúc cắt (song cấm đốt, đốt phải xin phép có làng ký áp) chia ba làng một phần để lợp.

 

Khoản 57:  Văn thơ trong làng và loại khai giao lý trưởng giữ bộ Gia Long và nhân thế bộ thì hương bộ giữ, còn tự khí, tự vật và tiền lúa, thì giao hương bổn giữ, ai sai chạy thì trách phạt.

 

TIẾT THỨ 7:  PHÂN BỔ SƯU THUẾ

 

Khoản 58:  Thuế ruộng có trích lục, thuế thân có bài chỉ, mỗi năm đến kỳ thu thuế, sau khi nhận bài chỉ đinh điền, thời lý hương phải trình với hội đồng xã thôn đại hào mục, chiết tính người nào ruộng đất bao nhiêu, thuộc hạng gì, phải nạp thuế, thuế bao nhiêu và mỗi suất đinh phải nạp bao nhiêu, kê biên niêm yết rõ ràng rồi giao cho lý trưởng chiếu theo đó mà thâu. Còn năm ngày tư  ích chờ sức đi làm đâu sẽ đi, song lý hương phải lựa chia chỗ gần, chỗ xa cho công đồng. Nếu phóng phú sai bần, tưụ khinh, lỵ trọng có lỗi.

Người nào muốn đi chỗ khác sinh lý, phải gởi trước đinh điền thuế và đại nạp tư ích cho lý trưởng, như không tiền phải có phụ huynh đảm bảo mới được đi. Dân ngoại tịch (chánh và ngụ) phải nên ra sức mỗi người năm ngày đi làm những công việc có ích trong làng như: trồng tre, cấy tranh, trồng cây, cấy bói, tu bổ đình từ, vọng canh v.v…

 

TIẾT THỨ 8:  THƯỞNG PHẠT

 

MỤC I: THƯỞNG

 

Khoản 59:  Thưởng phạt phải công bình không nên tư luận. Mỗi năm đến Tết Nguyên đán làng nhóm tại nhà hội, trích tiền công dụng để mua sách vở, giấy bút, xét bất cầu con ai trong làng mà học tập chuyên cần, tánh hạnh thuần cảnh, đậu bằng sơ học hay yếu lược, thời gọi đến để cấp thưởng, có viên kỳ hương chức, tộc biểu và phụ huynh học sinh đến dự.

Còn trò nào biếng nhác, lêu lổng ( có chứng chỉ thày giào cho biết) thì không được thưởng.

 

Khoản 60:  Hương chức nào mẫn cán, công bình, không có lỗi gì, lại hay húng lợi trừ hại có công trạng thì được chép vào sổ hương sách, để lưu danh về sau và yết tại nhà hội để đều nghe biết.

Dân người nào có công bắt kẻ trộm, cứu lửa đắc lực hay chức việc nào làm việc giỏi, thì lương trích tiền công dụng thưởng từ hai giác (0$20) đến năm giác (0$50) để thị khuyến.

 

MUC II. PHẠT

 

Khoản 61:  Hương chức làm việc bê trễ, không đắc lực và không tuân điều ước, người nào làm điều gì trái với luân lý (bất hiếu, bất mục, bất hữu, bất huyên) bất cầu nam, phụ, lão, ấu, lấn lướt người trên, kẻ dưới, mạng mạ, chưởi lộn, xét quả tường hội đồng đại hào mục, chiếu tùy nặng nhẹ định phạt.

 

Khoản 62:  Lệ phạt thì từ một ngày đến năm ngày, dịch mục, thập trưởng, thập đoàn gấp rưỡi, hương chức trở lên (chỉ phạt bạc thôi) gấp đôi. Mỗi ngày đại nạp hai giác (0$20) nếu không tiền phải phạt dịch. Phạt dịch thì ghi tên và số ngày phạt vào sổ phạt dịch, chờ lúc nào có việc sức đi làm. Tiền phạt nạp lý trưởng trước vào sổ thu, giao hương bổn nhận giữ để bất thời tiêu việc công.

Tên những người bị phạt (phạt dịch hay phạt bạc) đều ghi vào quyển sổ phạt tại làng để biết có tự hối không. Nếu bị phạt hai ba lần mà còn chưa chừa, thì đem nguyên ủy trình quan nghĩ trị để răn về sau.

 

TIẾT THỨ 9:  THỂ LỆ HỘI ĐỒNG

 

Khoản 63:  Tề tập viên kỳ, chức dịch tức là hội đồng (tục gọi nhóm làng) phải có định thời khắc qui trình.

Gần đến hội đồng, thì trước ba ngày, hội trưởng (đại hào mục) hay lý trưởng đặt tờ báo cáo cho người dự hội biết; phải tường kê hội tại chỗ nào, ngày tháng nào, trù định việc gì và ai dự hội, giao thập đoàn hay ấp dịch đi báo cáo hay tri thỉnh, đến nhà ai phải lấy tự tích làm bắng. Nếu viên nhân nào có duyên cớ chánh đáng không đi hội được phải có tự tích phúc lạc cho hội đồng biết. Nếu thập đoàn, ấp dịch báo cáo bất châu sẽ trách phạt.

 

Khoản 64:  Ngày hội đồng hội viên tề tập định việc gì là cốt ở việc làm. Người nào khiếm diện thời sau không được lấy lẽ gì ngăn trở việc làng đã bàn định đến. Duy tiên chỉ viên, hoặc hội trưởng viên có khiếm diện vì duyên cớ chánh đáng, thì hội đồng rồi phải đến tường các y viên tri chiếu.

 

Khoản 65:  Ngày rằm mỗi tháng có hương chức thường hội đồng, do đại hào mục hội trưởng thi hành kiểm sát, như có khiếm diện kỳ hào sung hành. Người dự hội thì viên chức và lý hương và xã đoàn.

 

Khoản 66:  Hội đồng xã thôn đại hào mục, thường hội đồng mỗi năm bốn kỳ: mùng mười tháng hai, tháng năm, tháng tám và tháng mười một, do đại hào mục hội trưởng chủ toạ. Tiên chỉ viên thi hành kuiểm sát như có khiếm diện thứ chỉ viên sung hành. Người dự hội thì đại hào mục hội trưởng, kỳ hào, các tộc biểu, lý hương chánh phó xã đoàn và viên chức làm dự đồng.

 

Khoản 67:  Hội đồng bất thường thì lâm thời đại hào mục hội trưởng chiêu tập những người có chân trong hội đồng.

 

Khoản 68:  Mỗi khi hội đồng phải trạch một người sung thư ký. Chủ toạ hội trưởng sức kê các người hiện diện và lấy chử ký để sau đính vào biên bản hội đồng trình chiếu.

 

Sáu mưới tám khoản kể trên đã vâng Quan công sứ bản tỉnh, và tỉnh đường đại thần, liệt hiến Đại thần và Phủ Đường phê duyệt. Xin bắt đầu từ ngày khai chánh sang năm (1.1 Bảo Đại thứ  13) thi hành trong địa điện làng diên Niên.

 

Những tục lệ trước trái với hương ước này thì đều đình chỉ.

 

Làm tại Diên Niên ngày rằm tháng bảy

Năm bảo Đại thứ 12

Ngày 20 tháng 8 năm 1937

 

Khán

Sơn Tịnh ngày 15.11.1937

Tri phủ

Ký tên: Phan Q. Thao

 

Phan Quang Trỉ (ký)

Phan Quang ấp

Phan Quang Bá

Phan quang Đ… (ký …)

 

Tùng cửu phẩm VõĐịch tự ký

 

Thích lý                                       Phan Quang Thí tự ký

Thích lý                                       Phan Quang Khải tự ký

Thích lý                                       Phan Quang thị áp chỉ

Thích lý                                       Phan Quang Hiệp tự ký

Thọ kỳ                                         Nguyễn Nhược (do hiện bệnh)

Cựu tượng binh                           Võ Kỉnh tự ký

Cựu tượng binh                           Nguyễn Thích áp chỉ

Cựu tượng binh                           Trương Tích áp chĩ

Hương bổn                                   Nguyễn Dung tự ký

Hương Kiềm                                Nguyễn Trị áp chỉ

Hương mục                                  Nguyễn Trà tự ký

Phó xã đoàn                                Phan Lung áp chỉ

Thủ đình                                      Xa Vảng tự ký,

Lý trưỡng                                     Nguyễn Trượng ký

Hương bộ                                     Phan dư ký

Tộc biểu                                       Phan Tình tụ ký

Tộc biểu                                       Đặng Quảng tự ký

Tộc biểu                                       Nguyễn Phòng tự kỳ

Tộc biểu                                      Nguyễn Lục tự ký

Tộc biểu                                      Võ Hanh tự ký

Tộc biều                                      Phan Soạn tự ký

Thập đòan                                  Đổ Đáo tự ký

Thập đoàn                                  Nguyễn  Kha tự ký

Dinh mục                                    Nguyễn Cùng áp chỉ

Dinh mục                                    Trương Tiết áp chỉ

Dinh mục                                    Trần An áp chỉ

Tộc phái                                     Nguyễn Khâm tự ký

Tộc phái                                     Huỳnh Phái tự ký

Tộc phái                                     Nguyễn Trị tự ký

Tộc phái                                     Nguyễn Thuần tự ký

 

Phụng sao

Lý trưởng Nguyễn Trượng

 

Khán và chứng thực sao y bản chánh

Sơn Tịnh, ngày 17.10. 1941

Tri phủ

 

Sơn Tịnh,ngày 7.9.1941

—————————–

 

Sơn Tịnh, ngà 7.9.1942

Phủ đường

 

——————————

(*):  Làng Diên Niên nay là thôn Diên Niên, xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

 

LÀNG LONG PHỤNG

HƯƠNG ƯỚC LÀNG LONG PHỤNG  (*)

TỔNG LẠI ĐỨC, PHỦ  MỘ ĐỨC

 

Ngày….. tháng ….. năm….. Bảo Đại 12

 

Chúng tôi quan viên, kỳ hào, lý hương, tộc biểu, chức dịch làng Long Phụng, tổng Lai Đức, phủ Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.

 

Xin chiếu theo tục lệ trong làng và trình độ nhân dân tấn hoá hiện thời làm thành quyển hương ước biên chép những khoản gì xin kể ra sau:

 

KHOẢN THỨ 1:  TOẠ THỨ

 

Điều thứ 1:  Phàm trong làng thường năm mỗi tháng nhóm hai lần từ ngày mùng một và ngày rằm. Trừ khi nào có việc thiết thì lý hương bắt hương dịch đi mời trước nhóm định, do có làm quyển sổ ghi ngày mời nhóm, hễ đến kỳ hội thì tảng trời buổi mai đánh ba hồi trống, lý hương chức dịch đều bận khăn đen áo đen đến nha hội, ngồi có thứ tự đển định việc làng; chớ không được uống rượu say làm ồn ào, nhỡ ai có duyên cớ gì không đi nhóm được, phải cáo trước với viên đại hào mục, nếu trái […] phạt bạc 20 hai giác, còn hội hào mục cứ một tháng tiểu hội một lần, ba tháng đại hội một lần, trừ khi bất chừng nuên tập ngoạt.

 

Diều thứ 2:  Nơi nhà hội căn giữa trải hai chiếc chiếu; chiếc thứ nhất quan viên lục phẩm trở lại mới được ngồi, chiếc thứ nhì quan viên cửu phẩm trở lên thất phẩm và kỳ lão bảy mươi tuổi trở lên đã lảm tổng lý hương chức cựu, không can án, cách dịch, bãi dịch mới được ngồi. Tả và hữu hai căn dều trải ba chiếc chiếu; chiếc thứ nhứt mục sai và kỳ lão (người có công với xã hội) sáu mươi tuổi trở lên mới được ngồi, chiếc thứ nhì miễn diêu, hương chức đương thứ chánh phó xã đoàn các tộc biểu và đoàn thập mới được ngồi, chiếc thứ ba bình dân ngồi.

 

Điều thứ 3:  Hàng quan chức, phẩm trật huy chương đồng với nhau, thì nhượng người tuổi lớn, tuổi đồng nhau thì nhượng người có công khó nhọc (có công với nhà nước và xã hội) nếu ngồi lộn xộn phạt bạc (0$20).

 

KHOẢN THỨ 2: CÚNG TẾ

 

Điều thứ 1:  Phàm đình chùa trong làng và linh miếu, nghĩa từ trong các ấp, mỗi lệ tam nguyên, ngày tết dùng chè, xôi, rượu, chuối, nhang, đèn mà cúng, ngoài ra chỉ có một lễ tế xuân (trừ nơi chùa phải cúng chay); phẩm vật tế đình dùng trâu, heo, dê, rươu, chuối và nhang đèn, cúng lễ nhạc chuông trống; còn người chủ tế và người dự tế thì hội đồng phải dự định trước (lệ cúng của làng 18 tháng 3 tế xuân, thì ngày mười hai tháng ấy hội diện) trước ngày tế những người.

 

Điều thứ 2:  Phàm khi có kỵ giỗ mà nhóm họp trên hai mươi người thì tộc trưởng hay phái trưởng trước ngày ấy phải đến tường hương lý biết, động kiểm xét cho tiện. Đến như các nhà tự lén làm chay, rước phù thủy lập đàn trù yểm bùa chú, mà đánh trống chuông nhứt thiết nghiêm cấm, nếu trái ấy phạt bạc hai giác đến hai đồng. Nếu trái đến hai lần thì trình cáo quan nghĩ trị, khỏi nhiễm dị đoan.

 

KHOẢN THỨ 3:  KHÁNH ĐIẾU – KHAO VỌNG – GIA THÚ

 

Điều thứ 1: 

A/  Phàm người nào có làm lễ mừng phải trước hai ngày dùng bàn trầu cau, rượu đến nhà hương hội tin cho biết (do tiệc nhỏ) còn như làm tiệc lớn phải xin bằng quan lớn cho mới được, hào lý xét lễ mừng có quan hệ hoặc có tính cách khuyến khích thì trích bạc công ba đồng, hai đồng hay một đồng trở xuống đi mừng để khuyến ngày sau.

 

B/ Phàm người trong làng đau bịnh chết, thì bà con người ấy trong 24 giờ đồng hồ phải đến hương bộ báo khám vàkhai trước vào bộ rồi chôn liền không được để lâu, nhưng hào lý xét ra bịnh là già cả hoặc có công với nhà nước, với xã hội thì lấy tình cho để lại 5 ngày sẽ chôn, trừ chết bịnh truyền nhiễm không được để lâu ngày, chôn ấy trích bạc hai đồng, bạc một đồng đi điếu và lấy tình đưacờ trống. Chôn xong rồi tùy tình sự chủ, làm lễ cúng hoặc dọn đãi cũng được và dụng lễ nhà nghèo một bàn trầu, cau, rượu; nhà giàu một con heo và một bàn trầu cau, rượu đem đến nhà hội mà tạ. Nếu người quá cố chết vì bịnh truyền nhiễm thì cấm khoản đãi mà phải chôn cất

liền.

 

KHAO VỌNG

 

Điều thứ  2:  Phàm trong làng có người mong được sắc mạng của triều đình, hay thưởng bằng của quan trên, thì cũng trước bảy ngày đến hương hội tin cho biết. Hội đồng làng trích bạc công hai đồng hoặc một đồng trở xuống đi mừng và hào lý hương chức bắt dân dùng nghi trượng đi rước sắc bằng về nhà người ấy cho có vẽ long trọng đặng khuyến khích, đến như việc dọn đãi theo tình và sức của người ấy mà thôi, chứ không được sách lễ cho trọng.

 

GIÁ THÚ

 

Điều thứ 3:  Phàm người trong làng con trai 18 tuổi, con gái 15 tuổi sắp lên và không co tang cớ mới được giá thú, nhưng trai và gái đều bằng lòng mới được, cha mẹ có quyền định đôi lứa nhưng cũng không được cưỡng bức, các lễ cưới hay các lễ khác thì tùy hai bên nhà trai, nhà gái định liệu, nhưng bên gái không được đòi nhiều, cũng không được đòi cầm thế ruộng đất. Trước ngày cưới phải tường với hương bộ biết, đến ngày cưới mời đến nhà gái, xin khai trước vào bộ và cấp giấy trích lục một lần cho tiện ( ngày ấy hai bên cha mẹ và hai người chứng đều có mặt ở đó ký chỉ cho tiện). Nếu đến ngày rước dâu mà bên gái trái lẽ gì thì do hội hào mục trách phạt một đồng bạc còn vi ngạnh trình xin quan xét.

 

KHOẢN THỨ 4:  ĐỘNG TỊNH

 

ĐỘNG TỊNH, TRỘM CƯỚP, CANH GIỮ HOA LỢI

 

Điều thứ 1: Địa giới trong làng đã chia gồm bảy ấp (Mỹ Khánh, Thanh Long, An Định, Thế Khương, Gia Hoà, Đại Thạnh, Tân Định). Việc kiềm phòng ấp nào đều có chuyện cả. Nhưng lý trưởng, hương kiểm và chánh phó xã đoàn thường đi xem xét nên bắt hương dịch thập đoàn của các vọng canh cho tử tế. Khi dịch canh dân đoàn ấp nào đi tuần gặp người lạ mặt trong dân hoặc ở tại nhà nào, xét ra có giấy căn cước, bài chỉ và giấy chứng lương thiện làm ăn, có người bảo lãnh mới được, nếu không thời bắt tới vọng lâu rồi giải đến quan trình xét. Như gặp người lạ mặt đi đường hay ở trong nhà nào (không hạn ngày hạn đau) xét ra mang những đồ cấm và lậu thuế, trộm cắp; tuy có giấy chứng chỉ mặc lòng cũng lập tức bắt người ấy và chủ nhà giải lên quan trình xét (khoản ấy phải tường cho hội hào mục biết). Nếu dân tuần phòng bất lực, dể người ấy đi phỉnh dỗ dân trong làng, làm điều phi vi, hễ xảy ra thì trình quan.

 

Điều thứ 2:  Nhà nào hay quần tụ cờ bạc hoặc tụ tập đông người (trừ có tế lễ khao vọng khánh điếu ngoại) nếu xét không có duyên cớ chính đáng thì trách phạt, những người tụ tập mỗi người hai giác, như có quan ngoại thì trình quan nghĩ hành.

 

ĐẠO CƯỚP

 

Điều thứ 3:  Hương kiểm bảy ấp phải bắt dân chia phiên, mỗi phiên mấy người đốc canh, mấy người tuần phu, phải kê làm ba bản danh sách, kê biên tên họ, rồi bắt chúng nó ký hay điểm chỉ cho rõ ràng, một bản đem trình quan, một bản để lại làng, còn một bản để lại ấp ấy, sao yết tại vọng canh, đặng cho rõ phiên thứ mà canh tuần trang ấp. Người nào nguyên can án trộm cướp, hễ ban đầu thì bắt nó đến vọng canh giữ đó ( trừ có duyên cớ chánh đáng thì được khỏi trong đêm ấy) tảng sáng thả nó về đi làm ăn. Nhưng trong đêm ấy xét không có đạo án ở đó, thì cứ đốc canh dân tuần trong phiên ấy mà trách phạt, giải trình quan. Đến như khi đi tuần, bắt được kẻ trộm, hiện có tang tích, giải quan trình nghĩ, còn khi có người nào bị trộm mất của, hiện có tang chứng thì lập tức làm bằng, phải có người bàn cận dự chứng cũng phải báo liền cho lý trưởng, hương kiểm đến xét, quả có hiện trạng, hiệp trình lên quan làm bằng, cho tiện chủ ấy tìm nhận đồ vật và tấm nã đạo tang.

 

CANH GIỮ BA LỢI

 

Điều thứ 4:  Trong làng bảy ấp lâu nay đều có đặt người thủ khoán, hoặc giao đoàn thập, đoàn phu tuần canh. Còn làng có mấy xứ ruộng đất công tư, ở về xứ Cam đàng, thượng hạ, trung gian và cây da Ngòi ráng và Gò nổi thượng hạ đoạn, không thuộc về địa phận ấp nào, thì làng có đặt hai người thủ khoán canh giữ những huê lợi đồng điền cho khỏi trâu bò, súc vật phá hoại, cùng kẻ gian gặt lúa trộm cùng cắt mía. Tiền khoán và lúa khoán thâu như sau này: mía một muỗng đường thâu một tiền; mỗi mẫu ruộng thâu lúa bốn ang, chớ không đòi quá lệ. Nếu trâu bò, súc vật ăn phá số ít thì đánh đứa chăn giữ 10 roi, còn nhiều thì cứ người chủ nuôi súc vật đó bắt bồi đủ số. Còn giữ bất lực để cho kẻ gian đạo cắt mía, hay gặt lúa cử người thủ khoán trách bồi đủ số cho tài chánh, tiền và lúa khoán mỗi mùa thâu được bao nhiêu chia làm ba phần: một phần để cho ấp ấy để chi nhu các việc (tức nhóm xử và giải kẻ trộm thuộc về huê lợi đồng điền) như thuộc về phần làng thì bỏ vào hương qũy, còn hai phần cho người thủ khoán nhận dùng. Nếu điền hộ người nào không chịu nạp công khoán, khoán báo với lý trưởng và tường với hội hào mục xét quả phạt gia bội. Ví dụ: mỗi mẫu ruộng nguyên thâu 4 ang lúa, phải phạt thêm lên 8 ang lúa … ai vi ngạnh trình quan xin xét.

 Điều thứ 5:  Các hạng tre là giống ích lợi thứ nhứt, hễ người trong làng thấy người nào cắt trộm măng, bất cấn măng của chủ nào, bắt được có tang chứng, dẫn tường với hội hào mục xét quả bắt phạt người trộm ấy bạc 0$20 hai giác đến một đồng 1$00 hay phạt dịch một ngày đến năm ngày, rồi thưởng cho người bắt được đó, nếu kẻ trộm ấy không tuân giải lên quan xét.

 

KHOẢN THỨ 5:  VỆ  SINH

 VỆ SINH – ĐƯỜNG SÁ – CẦU CỐNG – VỆ NÔNG – CỨU TAI – TRUẤT NẠN – HỌC HÀNH – GIÁO DỤC

 

Điều thứ 1:  Các nhà trong làng hè vách đều phải sạch sẽ. Những ao rãnh trong vườn và các hồ ở ngoài ngõ vườn, chứa nước dơ dáy là chỗ sanh loại độc trùng và độc khí thì hội hào mục mỗi kỳ hội đồng cho hương kiểm, tộc biểu và hương dịch đi biểu các nhà người lấp liền mấy chỗ lũng ấy như ao hồ cho khỏi các vi trùng sanh đẻ, người nào ở gần đàng tư ích, cấm không được ném đồ dơ dáy, hoặc xác thú vật chết hai bên đàng cái hay nơi ao hồ, phải chôn sâu cho khỏi truyền nhiễm. Nhà người nào có phát bệnh thiên thời, thổ tả, đậu trời hoặc trâu bò bị dịch, thời nhà ấy phải lập tức đến tường với hương lý, báo quan xin phái thầy thuốc điều trị. Như đã hiều mà người nào bất tuân những khoản nói trên, thì hội hào mục bắt phạt nhà ấy bạc 0$60 hay phạt dịch 3 ngày đẩy cộ và đắp đường tư ích để trừ tệ mà giữ phép vệ sinh, nếu ngang ngạnh thì trình quan nghĩ trị.

 

Điều thứ 2:  Các giếng uống nước ở trong các vườn, thời người chủ phải xây đá trên miệng giếng, hoặc trồng phên tre chung quanh cho được cao và cứng, lại cho được sạch sẽ, đó là vệ sinh và ngừa trẻ con nít và súc vật té giếng, phải chăm nom mới được, và cấm không được giặt đồ áo quần, mền chiếu ở bờ giếng. Nếu trái ấy phạt bạc 0$40 hay phạt dịch hai ngày.

 

CẦU  ĐƯỜNG

 

Điều thứ 3: 

A/ Phàm trong làng các đường tư ích, cầu cống dài và rộng đã có thước tấc kê trình và các đường yếu lộ trong bảy ấp nhiều chỗ bị hai bên tre loán ra thành hẹp lắm lại nhiều chỗ bùn lấm, nay xưng định mỗi con đường yếu lộ bề mặt rộng được 2 thước tây; mỗi năm lúc thang giêng hương mục, hương dịch đều đi khám các con đường, đường nào nên sửa đắp dọn dẹp, cầu cống nào nên sửa lại, đều kê số thước tức trường hoành và cao mấy thước tây, dùng hạng liệu gì bao nhiêu, công dân bao nhiêu, chiếu theo số công dân tư ích trong làng, nên trích mỗi ngày, làm thành biên bản cho hội đồng ký chỉ rồi lên quan xin bằng xong coi theo bản trù đó mà thi hành rồi tường với hội hào mục xét y trình chiếu, nếu làm cẩu liễu thì hội đồng trách bồi. Còn hai bên các con đường, người nào tham lấn thì sức họ đắp sửa lại cho y nguyên và phạt bạc 0$40 hay hai ngày dịch. Nếu không tuân thì trính quan nghĩ phạt. Mỗi khi đầu năm Tây, hương mục làm bản giấy trù như dân công tư ích phải tường cho hội đồng biết còn như thâu bạc tư ích phải làm quyển sổ tồn căn, cước chú ký chỉ cho rõ ràng, để biết mà kê cứu, còn khi bắt dân đi ứng dịch phải phân bổ cho công bình như tên nào ứng dịch được mấy ngày phải ghi vào sổ bắt tên ấy ký chỉ, hễ đến cuối năm đem tường cho hội đồng biết, trái ước phạt bạc 0$50.

 

B/  Cấm không được đào mương qua đường đi. Nếu cần dùng đem nước vào ruộng mà phải đi ngang qua đường, thì phải đặt ống lù, nếu trái phạt bạc 0$20 hay phạt dịch từ một ngày đến 3 ngày.

 

VỆ  NÔNG

 

Điều thứ 4: 

A/  Trong làng có các bờ xe lấy nước vào ruộng cứu huê lợi, hoặc gặp khi tại trời mưa lụt, xe bị trôi thì điền hộ và nhân dân tiếp cứu. Nếu các nhà ở gần bờ xe ấy, có người nào bất tuân thì lý hương đòi hỏi rồi phạt mỗi người bạc 0$20.

 

B/  Các đường mương đập riêng trong làng trừ có một con mương chung với làng Văn An, Bồ Đề, Kiến Khương và Văn Bân đều ký vắt thì tri yển sức điền hộ hiệp với các xã trên vắt vắt mương ấy để dẫn nước, tát nước cứu huê lợi công tư, đặ hai người tri yển để coi về việc ấy. Hội đồng làng trích ruộng công cấp cho mỗi người một sào. Thường năm đầu tháng giêng, tri yển bắt điền hộ đào mương cho sâu và rộng để lấy nước đập phải làm quyển sổ để ghi nhân công, có điền hộ nhìn ký chỉ để đổi cứu. Nếu tri yển lén bán công lấy tiền mà bỏ mương không vắt, lý hương bắt được hay điền hộ cáo giác, thì hội đồng xét quả phạt mỗi tri yển bạc 2$00 và bắt tri yền xuất của ra đào mương hoặc trích bỏ bàn người khác. Còn các đường mương và các đợt tát nước đều giao tri yển coi giữ, cấm nhân dân không được lén phá đợt tát nước lấy cây và lấp mương lại bắt cá. Nếu ai không tuân, tri yển hay điền hộ bắt được thì do hương hội bắt bồi đào mương và đóng nọc y như cựu, lại bắt phạt tên ấy bạc 1$00 một đồng, thưởng cho người bắt được hay người trích cáo đó. Nếu triyển tự phạm lấy thì bắt phạt y đào đắp lại cho y cựu, bắt phạt bạc 2$00 rồi thâu ruộng công điền lại bàn người khác.

 

Điều thứ 5:  Phàm những người chánh quán và ngụ cư ở trong làng, nhà nào cũng nên làm hồ vuông hay dùng những cái lu đề chứa nước (ba ngày thay nước một lần) mà ngừa hoả tai, hễ một nhà bị cháy thì các nhà khác phải đem theo những ống tre chứa nước, ống thụt nước, cu liêm, gàu mo, sào và chổi chạy đến chữa lữa, còn nhà nào bị trộm cướp tai nạn gì, thì các nhà ở gần phải lập tức chạy tiếp cứu và hào mục hương chức cũng đem dân tiếp bắt cho được đứa thủ phạm giải quan nghĩ trị, lại xét những nhà ở gần đó có ai không tiếp cứu, thì bắt đến nhà hội hỏi và phạt mỗi người 0$80 cấp cho nhà bị nạn đó. Nếu như nhà bị nạn đó khốn khổ lắm thì trích bạc của làng 2$00 hoặc một đồng cấp cho và hiểu quyên các nhà có trong làng mà trợ cấp cho nhà ấy rồi sẽ trình quan xin cứu tế.

 

HỌC HÀNH  –  GIÁO DỤC

 

Điều thứ 6:  Trong làng có làm ba lớp  trường học, hào mục hương chức và các tộc biểu, sức con trai con gái bảy, tám tuổi sắp lên phải đi học và đến ky ̀quân cấp xin trích đề một mẫu ruộng (tức ruộng khuyến học) chiếu lệ xin đấu giá để bạc vào hương qũy, hễ đến kỳ hạch (hạch tấn ích và yếu lược) trò nào đậu cao (thứ ba thứ tư trở lên) thì hội đồng trích bạc ấy mua giấy viết sách vở hạng tốt cấp thưởng và trích bạc ấy tu bổ trường và bàn ghế. Còn trò nào đậu bằng đại học cao đẳng đến ngày vinh quy, bà con người ấy phải trình trước hội đồng biết, thì hội đồng bắt dân đem nghi trượng rước người học sinh ấy về nhà, lại trích bạc khuyến học sắm một câu đối thêu đi mừng để khuyến cho người sau. Còn trò nào tánh hạnh xấu (như ngổ nghịch trong làng, nói chống việc quan và bất hiếu bất để) thì tộc biểu phụ huynh nó trừng trị cho nghiêm, nếu không tuân thì trình với hội hào mục xét thì phạt bạc 0$20 đến 1$00 hay phạt dịch một ngày (dẫy cỏ và đắp đường tư ích).

 

LÂM CẤM

 

Điều thứ 7:  Lâm cấm núi Đàng núi Đất tuân theo chương trình kiểm lâm, đặt hội đồng đại hào mục, lý trưởng, hương mục và đoàn thập đoàn phu giữ gìn lâm sản, làng lượng trích hai sào ruộng công điền, giao cho người giữ rừng nhận cày ăn. Nếu thấy người nào lén chặt cây và đào gốc cây bắt được phạt bạc 0$20 đến một đồng hay phạt dịch một ngày đến năm ngày, còn cây đốn ấy đem về làng để công dụng, còn lén đào gốc cây lần đầu phạt bạc 2$00 lần thứ hai phạt gia bội, tiền phạt bỏ vào hương qũy chi nhu, và thưởng cho người bắt được kẻ gian đó. Nếu người có chuyên trách giữ núi mà lơ lỏng để cho bọn gian chặt trộm cây và lén đào phá thì sự trách phạt đồng với người gian vậy, rồi trình bỏ hoặc trình lên quan xét.

 

CHỢ

 

Điều thứ 8:  Sở chợ của làng đặt một người thị trưởng để kiểm điểm hoá hạng của người buôn, tối thì kiểm xét người lạ mặt đến ở. Hễ thấy bọn du thủ du thực ở trong nhà bốn phía chợ ấy quần tụ làm bậy, thì báo liền với hào lý bắt giải, lại thường phải quét dọn và giữ gìn lều chợ, đừng để dơ dáy. Nếu thị trưởng bất lực thì phạt bạc một đồng rồi trích bỏ.

 

BẾN ĐÒ

 

Điều thứ 9:  Trong làng hiện có các con sông có ba bến đò, nr6n đặt một người vạn trưởng để kiểm điểm ghe xuồng đến đậu; về việc đưa đò chở người qua lại phải tuân theo thể lệ mới được (như chở một chuyến chỉ 25 người trở xuống, một cái gánh có hoá hạng thâu tiền ba mươi đồng kẽm, một cái báng thâu tiền mười lăm đồng kẽm, đi không thâu sáu đồng kẽm (còn học trò và hương chức trong làng trừ ngoại) thường năm tiền đưa đò là một trăm năm mươi quan, lấy một phần năm mươi quan bỏ vào hương quỹ, còn hai phần cấp cho người đưa đò và đóng ghe, và cấp cho người vạn trưởng. Nếu người vạn trưởng chứa người lạ mặt hay gian đạo phạt bạc một đồng, trái nữa thì phạt gia bội trích bỏ.

 

ĐÌNH CHÙA

 

Điều thứ 10:  Trong làng đình thờ thần có người từ phu, chùa thợ Phật có thầy chùa giữ gìn coi ghó, đều phải hàng ngày quét dọn và dẫy cỏ trồng bông. Còn ngoài vườn thì hai người ấy phải án phần trồng rau dậu và cây cối cho thẳng. Nếu trái ấy thì thầy chùa bị đuổi, từ phu bị trích bỏ, đều lựa người khác ở.

 

KHOẢN THỨ 6:  CHIA RUỘNG ĐẤT

 

Điều thứ 1:  Phàm ruộng đất công trong làng ba năm quân cấp một lần, hễ đến ngày cấp thì hội hào mục định ngày trước […] hương dịch đi mời viên nhơn các sắc nhóm lại, lập bản hội đinh (do định ruộng trích trí) còn chia khẩu phần và làm sổ toạ thứ rồi làm đơn trình quan mông sức cho thì nhóm lại mà cấp chiếu theo tờ hội định trước, nếu các hạnh ruộng hưu trí (ruộng trích trí đều xin phép đấu giá) sau nhân ruộng khẩu phần không được lẽ chỉ không thành sào mẫu. Nên chia số đất khẩu phần cho bằng nhau để quân cấp cho công bằng. Ba năm mãn hạn, giao làng cấp lại chớ không được cố tá liên trưng.

 

KHOẢN THỨ 7:  PHÂN BỔ SƯU THUẾ

 

Điều thứ 1:  Phàm dân đinh trong làng (trừ dân phụ bộ ngoại) hễ thuộc tộc phái nào thì có tộc biểu ấy kiểm cố, còn tộc phái nhỏ hiệp lại cử một người tộc trưởng hay phái trưởng mà kiểm cố; thường năm gần đến kỳ làm loại khai, phái nào có người đến đúng tuổi phải trước tịch thì lý trưởng hiệp với tộc biểu hay phái trưởng kê biên tên họ của nó làm hai bản, một bản giao lý trưởng bằng trước vô sổ đinh chịu thuế, lý trưởng không được yếu sách, còn một bản do hội hào mục, đóng thành tập để lưu chiếu. Nếu có ẩn lậu hay mục dẫn người nào, làng khác nhận làm dân tráng trong họ mình xảy ra thì trình quan nghĩ trị. Đến vụ thuế thì lý trưởng trình với viên đại hào mục để nhóm hội đồng xã thôn, để tính một suất đinh phải nạp bao nhiêu, mỗi điền chủ có bao nhiêu mẫu sào, ruộng đất hạng gì và nạp bao nhiêu thuế.

 

KHOẢN THỨ 8:  THƯỞNG PHẠT TRONG LÀNG

 

Điều thứ 1:  Các khoản hương ước mỗi khoản chiếu theo công tội mà thưởng phạt (không có tiền thì phạt dịch một ngày trừ 0$20, khi chi và khi thâu vào đều do hương bổn cùng hào mục lý hương định đó mà làm, nhưng phải có biên bản và giấy lai chỉ tồn căn, mỗi cuối tháng lý hương nhóm tính ký chỉ rõ ràng, đến cuối ba tháng cùng cuối năm có kỳ hội đồng thì hương bổn thu các hạng sổ chi thâu trình với hào mục hội đồng kiểm soát rồi do quan trình chiếu. Hoặc năm nào còn dư bao nhiêu bạc phải cho hiện số, nếu hương bổn nhũng lạm biên chú mơ hồ thì hội hào mục trách phạt 0$50 sức bồi đủ, nếu không đủ trình quan xét.

 

Suất đội

Tùng thất phẩm

Chính cửu phẩm

Bát phẩm

Tú tài đãi chiếu

Tùng cửu phẩm văn giai

Tùng cửu phẩm văn giai

Tùng cửu phẩm văn giai

Tùng cửu phẩm đội trưởng

Nhiêu

Nhiêu

Cựu

Hương bộ

Tộc biểu

Hương mục

Lý trưởng

Hương mục

Hương bổn

Hương kiểm

Hương kiểm

Phó lý

Tộc biểu

Tộc biểu

Phó lý  

Thư ký  

Giáo dưỡng

Tộc biểu

Tộc biểu

Cựu chấp sự

Chánh xã đoàn

Cựu hương bổn

Nhiêu

Hương dịch

Hương kiểm

Phó lý

Nhiêu

Hương dịch

Tộc biểu

Tộc biểu

Dịch mục

Hương dịch

Hương dịch

Phố trưởng  

Dịch mục

Nhiêu

Nhiêu  

Phó lý

Tộc biểu

Phó lý

Tộc biểu

Tộc biểu

Hương kiểm

Cựu phó lý

Tộc biểu

Nhiêu   

Phó lý

Tộc biểu

Phó lý

Tộc biểu

Tộc biểu

Hương kiểm

Cựu phó lý

Tộc biểu

Cựu hương kiểm

Dịch mục

Tộc biểu

Cựu lý

Tộc biểu

Tộc biểu

Lê văn Võ tự ký

Nguyễn Hữu Tường tự ký

Lê Tôn tự ký

Trần Thiện tự ký

Lê Kỉnh tự ký

Lê Phong tự ký

Lê Mỹ Lang tự ký

Trần Chánh tự ký

Nguyễn Phụng Chương tự ký

Nguyễn Tụ tự ký

Lương Toại tự ký

Lương tự ký

Lê Trang ký (áp)

Võ Qùy tự ký

Lê Bằng tự ký

Lê Vinh Hoàng ký (áp)

Nguyễn Hữu Cư tự ký

Nguyễn Sung tự ký

Trịnh Diêu tự ký

Đoàn Nga tự ký

Phan Ban tự ký

Phạm tự ký

Lê uyển tự ký

Phạm Chương tự ký

Phan Đạm tự ký

Đặng Cấp tự ký

Lê Cát tự ký

Nguyễn Hữu Thế tự ký

Võ Công tự ký

Nguyễn Hoè tự ký

Nguyễn Để tự ký

Đỡ Đăng Doanh tự ký

Lê Bách tự ký

Nguyễn Dương tự ký

Nguyễn Phước tự ký

Lê Trinh tự ký

Trịnh Trợ tự ký

Đặng Vỵ tự ký

Nguyễn duy tự ký

Trần Tấn Thiện tự ký

Huỳnh  Cù tự ký

Lê Hiệp tự ký

Nguyễn Toán tự ký

Nguyễn Hùng tự ký

Bùi Tế tự ký

Trần Pháp tự ký

Ngưu áp chỉ

Trần Trung tự ký

Trịnh Ngạn tự ký

Lê Hiển tự ký

Lương Mai tự ký

Nguyễn Mậu tự ký

Trần Kinh tự ký

Nguyễn Phu tự ký

Lê Quang Hành tự ký

Đỗ Bảng tự ký

Lương tự ký

Huỳnh Quang tự ký

Lê Quang Đán tự ký

Trịnh Ngạn tự ký

Lê Hiển tự ký

Lương Mai tự ký

Nguyễn Mậu tự ký

Trần Kinh tự ký

Nguyễn Phu tự ký

Lê Quang Hành tự ký

Đỗ Bảng tự ký

Lương tự ký

Hùynh Quang tự ký

Lê Quang Đán tự ký

Trịnh thị tự ký

Dương Tụy tự ký

Huỳnh Bích tự ký

Nguyễn Giám tự ký

Lê Chức tự ký

Lê Võ tự ký

 

 

Phụng tả Lê Hoà ký

Mộ Đức ngày 30.5.1938

Khán   Tri phủ

Ký tên: Nguyễn Hà Hoành

 

Duyệt y

Quảng Ngãi ngày 11.8.1938

Công sứ                                 Tuần vũ

Ký tên: (không rõ)           Ký tên: H.Q.Địch

 

——————————

(*):  Làng Long Phụng nay là thôn Long Phụng, xã Đức Thắng, huyện Mộ Đức.

 

LÀNG PHỦ LỄ

HƯƠNG  ƯỚC  LÀNG  PHỦ  LỄ

TỔNG BÌNH  THƯỢNG,  PHỦ  BÌNH  SƠN

 

Ngày 27 tháng 5 năm Bảo Đại thứ 12

Ngày 5 tháng 7 năm 1937

 

Chúng tôi là viên hào, lý hương, tộc biểu làng Phủ Lễ, tổng Bình thượng, phủ Bình sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

 

Thân tờ tỉnh sức No. 2886 ngày 3 tháng 6 năm 1937 về việc chỉnh đốn hương thôn.

 

Tuân chiếu theo tục lệ lưu truyền trong bàn cư và châm chước tình tục hiện thời. chúng tôi nghĩ định các điều khoản hương ước như sau này:

 

TIẾT THỨ 1: HƯƠNG ƯỚC TỌA THỨ

 

Khoản thứ 1:  Khi làng nhóm hội tại nhà hương hội, thì chính gian giữa văn vẻ, ấm quan dân biểu nghị viên, chức sắc, khoa mục (tú tài trở lên) lĩnh hạc hội viên, đại hào mục hội trưởng, ấm sinh, quan viên tử, tân cựu chánh phó tổng, chánh phó tổng đoàn (chưa có phẩm hàm) tân cựu thủ sắc, đại hào mục, lý trưởng cựu, xã đoàn cựu, tuổi 70 trở lên đều chiếu theo vị thứ mà ngồi (võ khoa văn 2 trậc).

Gian bên tả: tiền thứ lý trưởng, xã đoàn có quan bằng, tuổi 50 trở lên, miễn sai, miễn điêu, tân cựu hương chức có quan bằng, chưa đúng 60 tuổi đều chiếu theo vị thứ mà ngồi.

Gian bên hữu: Tân cựu hương chức không quan bằng và ấp chức tộc biểu, bao nhiêu tuyển sinh, yếu lược (đủ thành đinh) tráng dân.

 

Khoản thứ 2:  Khi làng nhóm hội thì các người dự nhóm phải chiếu theo vị thứ mà ngồi để cùng nhau bàn luận, nếu người nào say rượu, hoặc la nói ồn ào, không có trật tự thì phạt từ 0$40 tới 1$00 không tuân trình quan nghĩ trị.

 

TIẾT THỨ 2:

 

Khoản thứ 3:  Mỗi năm hiệp lễ một lệ xuân ở đình, ngày 10 tháng 2 An Nam và Nghĩa trũng tại nhà hương hội cũng trong ngày ấy, lễ tế nhu phí 50$00 trở lui còn ở chùa thờ Phật ngày rằm tháng giêng dùng huơng hoa, trầm trà sùng bái nhu phí 1$00 trở lại..

 

Khoản thứ 4:  Thường năm đến ngày hưng quốc khánh niệm (ngày 2 tháng 5) thì sớm ngày ấy, hưu quan, chức sắc, thân sĩ, hào lý, tộc biểu đều đem đồ thạnh phục tụ hiệp tại đình làng làm lễ khánh niệm, nhưng lễ ấy chỉ đốt đèn, xông trầm, hương hoa, đốt pháo, nhu phí 2$00 trở lại.

 

Khoản thứ 5:  Trong hàng quan viên chức sắc, hay lựa người lão thành có phẩm vọng, đạo đức, cử làm chủ tế phụng thủ thần sắc. Khi tế thì ông chủ tế chính bái ở gian giữa đình, gian tả lý trưởng, gian hữu hương bộ, làm bồi bái hai bên tiền hậu hiền, thì phó lý xã đoàn hầu bái, hương kiểm, hương mục, hầu chinh cổ, lựa hai người miễn sai hay miễn điêu, hầu kiểng trống, và tám người học sinh trong làng làm tỵ lập: và tư lễ, tư nhạc, nếu các người dự tế có tang (từ 9 tháng trở lên) hay bị đau, thì phải cáo trước hai tuần để lựa người quyền tế.

 

Khoản thứ 6:  Trước ngày tế ấy hương chức phái hương dịch lựa trong các ấp những người dân tráng, không tang cớ, đúng bảy giờ sớm ngày 10 tháng 2 ấy, thân dẫn đến nhà ông chủ tế (đều có khăn đen, áo đen, viên hào, hương chức, tộc biểu cũng đều đến phụng nghinh thần sắc lên đình, hầu tế xong khoản đãi rồi (đãi tại nhà hương hội) phụng nghinh thần sắc về nhà ông chủ tế mà tôn trí mới được giải tán.

 

TIẾT THỨ 3: KHÁNH HẠ

 Khoản thứ 7:  Trong làng người nào được thưởng phẩm hàm, văn: hàn – lâm – đãi – chiếu cửu phẩm văn giai và thi đậu tú tài thì lễ mừng 2$00; vo ̃cửu phẩm bá hộ, cửu phẩm đội trưởng, và thi đậu cao đẳng tiểu học bằng cấp thì lễ mừng 1$00 trở lui, tùy theo vị thứ, chức vụ lớn nhỏ mà chuẩn định, còn các khoản khánh hạ khác không thuộc về trong làng thì lâm thời hội định, nhưng không được quá số 1$00.

Các khoản khánh hạ kể trên lâm thời hoặc dùng đối trướng, pháo rượu, hay bạc tùy nghi nhưng không được quá số đã định.

 

TIẾT THỨ 4: ĐIẾU TANG

 

Khoản thứ 8:  Đám tang trong làng, quan viên, chức sắc, khoa mục, thì lễ điếu 2$00 trở lui, chiếu theo phẩm trậc mà chuẩn định, kỳ hào lễ điếu 1$00 trở lui chiếu theo vị thứ mà chuẩn định, tân cựu hương chức miễn sai và miễn điêu, tộc biểu, lễ tiến 0$80 trở lui, chiếu theo chức vụ mà chuẩn định; lão nhiêu, tuyển sinh, yếu lược lễ điếu 0$40, tráng dân 0$30. Các khoản điếu tang kể trên, lâm thời hoặc dùng đối trướng, trẩu rượu, hay bậc tùy nghi nhưng không được quá số đã định.

 

Khoản thứ 9:  Nghi tiễn đưa đám tang, quan viên chức sắc, khoa mục thì làng đưa 4 cây cờ, một cái trống lớn, một cái trống nhỏ, một cái kiểng, môt ban nhạc; xóm đưa 6 cây cờ một cái trống lớn, một cái trống nhỏ, một cái kiểng, một ban nhạc [..] ngoại, kỳ hào có công nghiệp trong làng thì làng đưa hai cây cờ, một cái trống nhỏ, một cái kiểng; xóm đưa 4 cây cờ, một cái trống lớn, một cái trống nhỏ, một cái kiểng, một ban nhạc; tân cựu hương chức có quan bằng và miễn sai, miễn điêu thì làng đưa một cái trống nhỏ,một cái kiểng; xóm đưa 4 cây cờ, một cái trống nhỏ, một cái kiểng; tân cựu hương chức không quan bằng, và tộc biểu, lão nhiêu, tuyển sinh yếu lược thì làng đưa một cái kiểng, xóm đưa một cái trống nhỏ, một cái kiểng, dân tráng thì xóm đưa một cái kiểng những cha mẹ và vợ các người nói ttrên đều chiếu theo vị thứ của con hay chồng mà tống táng, còn về phần âm công, tùy theo số tang chủ trình xin mà cấp cho (các người lai ngụ có tư cách nói trên mà lại có công với làng thì các lễ khánh điếu cũng chiếu theo khoản trên mà làm).

 

Khoản thứ 10:  Các nghi tiết tống chung đã kể trên, lâm thời hương chức dẫn tới chủ tang mà bài liệt, tống táng xong rồi, nếu nhà tang chủ tình nguyện khoản đãi cũng được, nhưng chỉ một tiệc mà thôi, lễ đáp tạ làng xóm, một bàn trầu cau là đủ, còn nhà nghèo không được khoản đãi hàng xóm. Nhưng khi nào tang chủ không dám thừa nhận các nghi tiết tống chung kể trên thì thôi.

 

TIẾT THỨ 5:  HÔN THÚ

 Khoản thứ 11:  Con trai trong làng từ 18 tuổi trở lên, con gái từ 15 tuổi trở lên, mới được gã cưới còn kỳ hạn lễ cưới sau ngày định ước rồi, chỉ trong 6 tháng phải làm lễ cưới. (trừ có duyên cớ ngoại) lễ cưới thì nên để hai nhà trai gái tùy tiện nghị định với nhau, miễn là nhà gái đừng yêu sách quá đỗi thì thôi. Cưới xong trong 8 ngày phải đến hương bộ xin khai vào sổ hôn thú và lãnh trích lục. Nhà con gái không được yêu sách, nếu không tuân trình quan nghĩ trị.

 

TIẾT THỨ 6:

 

 Khoản thứ 12:  Trong làng có 5 ấp (Mỹ Hoà đông, Mỹ Hoà tây, Mỹ Chánh, Mỹ Chánh tây và Mỹ Thanh), mỗi ấp có một điếm canh, số dân đoàn trong làng có 50 người thập đoàn 5 người và dân canh, lý hương chiếu theo số ấy đưa làm phiên thứ, kê liệt họ tên vào bản canh, mỗi đêm trong một điếm dân đoàn 4 tên, đầu canh 3 tên (trong số 3 tên ấy có một người phần đối). Khi tối 7 giờ đều tới điếm canh mà canh gác, mỗi người phải có gậy, đuốc, dây, lâm thời chánh phó xã đoàn, hương kiểm, đoàn thập dẫn đi tuần sát, thì dân canh ở canh, dân đoàn đi tuần (trừ những khi có tin tức động tịnh phải rút hết số dân đoàn đi canh tuần ngoại).

 Khoản thứ 13:  Dân canh ở các điếm canh, hay dân đoàn đi tuần nghe thấy những điều gì thiết hại (như: thủy, hoả, đạo kíp, án mạng v.v…) thì đánh mõ liên thanh, lại một dùi và hô hoán phó cứu; nghe tiếng mõ ấy các điếm canh ấp khác phải đánh mõ tiếp, các đoàn phu ấp khác, phải lập tức chạy đến nơi đó mà tiếp cứu, còn dân canh ở lại điếm canh để phòng triệt, những người trong làng bất cầu người nào (hư dân và ông già,con nít chứ thành đinh ngoại) phải đều chạy tới nơi mà tiếp cứu, nếu người nào trốn tránh, hay là đi chữa lữa mà không đổ cứu hoả, đuổi trộm cướp mà không gậy, dây, đuốc thì phạt từ 0$20 đến 1$00 hay phạt dịch từ một ngày đến năm ngày. Thuộc về sự sưu ẩu thì đánh mõ lại hai dùi, hương chức phải tới nơi sức khởi hành và phân xử, điểm mục, điểm diện và việc bình thường thì đánh mõ lại ba dùi.

 Khoản thứ 14:  Mỗi đêm hương kiểm, chánh phó xã đoàn phải đến điếm canh mà kiểm soát, nếu trong phiên canh có người nào khiếm diện mà không thưa trước thì trích trình hội đại hào mục trình phạt từ 0$20 đến 1$00 hay phạt dịch từ một ngày đến 5 ngày, nếu không tuân chuyển trình quan trên nghĩ phạt.

 Khoản thứ 15:  Trong làng người nào can án, đạo kíp, mới mãn hạn về thì biên vào sổ liên canh sáu tháng, ngoài hạng ấy xét quả có lòng đổi lỗi sẽ được phân phiên canh như dân thường, nếu còn quen theo thói cũ không chừa thì lại biên vào sổ liên canh gia bội (tức là 12 tháng).

 Khoản thứ 16:  Trong làng người nào quần tụ cờ bạc, nấu rượu lậu, chứa thuốc nha phiến lậu hay dung trú những người tha hạc tình nghi thiết đạo, hương kiểm, xã đoàn, tộc biểu phải bắt giãi trình quan trên nghĩ trị, như người không có chức trách mà thám nã được đích tang, hô hoán hoặc do hội đồng dại hào mục báo cáo, chỉ dẫn thì trích bạc công nhu nghĩ thưởng 2$00 và hương kiểm xã đoàn hương dịch tộc biểu không bắt được, thì hội đồng hào mục ghi vào quyển sổ liệt tích để lưu chiếu, sẽ trình quan xét nghĩ.

 Khoản thứ 17:  Các nhà trong làng không được tụ hội đông người, bày ra những cuộc cờ bạc, chè rượu say sưa, như không tuân chủ nhà bị phạt từ 0$20 đến 1$00 hay phạt dịch từ 1 đến 5 ngày.

 Khoản thứ 18:  Nhà nào có những việc gì bất bình, thì gia trưởng và tộc biểu thoả xử không xong thì trình với hội đồng hào mục phân xử. Cấm những vợ chồng, nàng dâu, mẹ gia, anh em, chị em, bà con hay là người ngòai không được cãi lộn nhau nằm vạ, la làng làm cho náo động làng xóm, nếu không tuân sẽ bị phạt từ 0$20 đến 1$00 hay là phạt dịch từ 1 đến 5 ngày. Còn những người đánh lộn nằm vạ ở ngoài đồng, không luận người trong làng hay làng khác thì do lý hương phân xử, trách phạt như trên, nếu không tuân, giải trình quan trên nghĩ trị.

 Khoản 19:  Những tộc biểu trong làng phài dạy bảo con em trong tộc mình, người nào cũng phải tôn kính các bậc tôn trưởng, các người công chức, hoà thuận với anh em chúng bạn, chăm lo sanh lý, không được cờ bạc ngổ nghịch, với bực tôn trưởng, rủ nhau đoàn ba, hê bảy, làm những chuyện phi vi và tụ nhau ăn uống say sưa cãi lộn, đánh lộn, la nói ồn ào, làm mất nhân cách, nếu có người nào không đổi những tính nết nói trên, gia trưởng hay tộc biểu phải trình hội đồng hào mục phân xử từ  0$20 đến 1$00 hay phạt dịch từ 1 ngày đến 5 ngày.

 Khoản thứ 20:  Người trong làng nhà có chứa những người tha hạt, tha tổng phải tường hương kiểm hay xã đoàn biết (trừ những người bà con thân thích ngoại). Nếu không tường mà hương kiểm xã đoàn xét hỏi, người trú ngụ không có căn cước, thẻ thế rõ ràng, thì giải người gia chủ và người trú ngụ trình quan cứu nghĩ.

 Khoản thứ 21:  Trong làng có người khi bị mất trộm, sự chủ báo tường, lý hương lập tức báo trình và tầm nã, nếu tình nghi nhà nào oa trữ đạo tang thì lý trưởng được quyền tới soát, không luận nhà ai không được cản trở, nếu chủ nhà nào không tuân, thì lý hương sức canh giữ nhà ấy, rồi trình quan nghĩ xử. Tất cả dân trong làng bất cầu chánh nghị người nào bắt được tang vật, hay người lấy trộm, thì hội đồng hào mục sẽ ghi hão trạng vào một quyển sổ và nghĩ thưởng như tang số mất một đồng, thì thưởng 0$10 tùy số tang ấy mà đệ gia.

 Khoản thứ 22:  Nhà nào ban ngày hay ban đêm bị đứa gian ăn cắp những đồ vật trong nhà, ngoài vườn như: gà, vịt, heo, chó,hoa, quả v.v…Nếu bắt được tang phạm thì phải báo trình lý trưởng, xã đoàn, hương kiểm xét xử, phạt dịch từ 1 ngày đến 5 ngày, tang vật còn phải trả lại, nếu tiêu mất đi rồi phải truy bồi; nhà nào oa trữ đạo tang ấy đều bị phạt như trên. Khi nào mất trộm mà không tìm ra tang phạm thì sự chủ phải tới tường lý trưởng, hương kiểm tới nơi xét quả, làm biên bản có lân cận ký chứng, sau tìm ra tang phạm sẽ truy cứu bắt bồi và phạt dịch như trên. Cấm những người bị mất những tài vật nói trên không được đứng ngoài đường, trong vườn to tiếng la chưởi ồn ào, nếu không tuân sẽ bị phạt từ 0$20 đến 1$00 hay phạt dịch từ 1 ngày đến 5 ngày (trừ những sự trộm cướp trọng tình, phải trình quan ngại).

 Khoản thứ 23:  Các đồ vật hay sớt sản củ a người nàobị mất trong địa phận làng, người nào gặp được phải đem nộp cho lý trưởng giữ, lý trưởng phải niêm yết các đồ vật ấy ở các điếm canh, hạn trong hai tháng, chủ mất tìm tới xin nhìn nhận, khi nhận phải thưởng cho người gặp được, cứ trị giá đồ mất 1$00 thì thưởng 0$10 và súc vật trừ tiền thưởng ngoại phải trả tiền phí tổn cho người nuôi dưỡng từ ngày được cho đến ngày nhận; nếu quá hạn mà không ai đến nhận thì các đồ vật thường dùng như: gà, vịt, heo v.v.. giao cho người được nhận dùng; như trâu, bò, ngựa và các vật trọng giá thì lý hương phải trình quan, định hạng thông sức cho những chủ mất tới nhìn nhận, nếu quá hạn quan trên đã tự sức mà không ai tới nhận của ấy đem ra phát mãi; phân nữa sung vào hương quỹ làng, phân nữa cho người gặp được (trừ căn cước, thẻ thuế thì lý hương phải nạp quan ngoại; như người tìm được mà giấu đi để tự tiêu, khi phát giác thì người ấy bị phạt từ $20 đến 1$00 hay phạt dịch từ 1 đến 5 ngày; những người đồ được làng phải thâu giữ để trả lại cho chủ mất, nếu tiêu phá đi rồi thí chiếu giá truy bồi.

 TIẾT THỨ 7: TUẦN ĐINH

 Khoản thứ 24:  Trong làng lập một ban tuần đinh 40 người, lựa những người dân cường tráng, trong 5 ấp sung vào, mỗi ấp cử một người tuần trưởng, đốc sức tuần đinh canh tuần, nhưng các hạng hoa lợi ngoài đồng, phần ấp nào thì canh tuần theo địa giới ấp nấy, đồng niên các điền hộ, chiếu theo mỗi niên phải trả lúa tuần 1 ang, mỗi sào 1 bát, thường năm tháng 10, tháng 11 An Nam, thì thâu lúa tuần đinh, số lúa ấy chia làm 10 thành, trích ra 3 thành giao về làng công dụng, còn 7 thành cấp cho dân tuần, nếu tuần đinh canh tuần bất lực, bị mất hoa lợi, thì tuần đinh cứ theo số kê biên hoa lợi hao thiệt, trích lúa tuần của phần mình mà bồi thường, nhưng khi ba lợi bị mất, điền hộ phải tường với lý trưởng, hương kiểm tới nơi khám xét, lời các điền hộ lân cận hội đồng định giá, lập thành biên bản, điền hộ và tuần trưởng ký chỉ, lân cận dự tri, lý trưởng giữ lấy biên bản ấy, rồi đến kỳ thâu lúa tuần xong, mới chiếu số mà trích bồi; Nếu tuần đinh bắt được kẻ trộm, thì người đầu đinh phải chịu trách nhiệm, tuần đinh khỏi phải bồi thường, tuần đinh không bắt được thì tuần đinh phải bồi thường, lấy của tuần đinh bồi thường ấy mà thưởng công cho người bắt được, còn năm người tuần trưởng xét quả có lòng mẫn cán, đến khi thâu lúa tuần xong rồi, hội đồng đại hào mục trích trong số lúa 3 thành, mà của dân tuần chia cho làng mà nghĩ thưởng. Còn lúa công tuần trưởng thì cũng chia đồng phần với dân tuần trong số 7 thành nói trên, những người đạo đinh, trừ bồi thường ba lợi ngoại, còn phải phạt dịch từ 2 ngày đến 10 ngày, hay phạt bạc từ 0$40 đên 2$00.

Khoản 24 này sau lại có xin cải bộ Toà lĩnh đã y cho như sau này:

Nay hội đồng làng chúng tôi đồng ứng xin đổi khoản thâu lúa ấy đi, thâu bạc cứ mỗi mẫu 0$20, thâu theo kỳ thuế cho tiện, phần thâu bạc tuần đinh ấy, giao cho đương thứ chánh xã đòan thâu nhận biên lai minh bạch, thâu xong số bạc chia ra 10 thành, 3 thành sung vào hương qũy để công dụng, còn 7 thành cấp cho tuần đinh.

 

TIẾT THỨ 8: VỆ NÔNG

 Khoản thứ 25:  Trong mùa hoa lợi, cấm không được thả trâu, bò, heo, gà, vịt, chó, ăn phá hoa lợi, và không được bẻ trộm măng của người nào, sự chủ hay tuần đinh bắt được, thì người có súc vật, và người bẻ trộm măng phải chiếu giá bồi thường và phạt bạc từ 0$20 đến 1$00 hay phạt dịch từ 1 ngày đến 5 ngày.

 

Khoản thứ 26:  Các sở ruộng đất trong làng, nguyên có mương nước để đến khi mưa lụt cho nước chảy lưu thông, hoa lợi ruộng thấp khỏi bị ngập thúi, cấm không ai được ngăn đắp từng đoạn, tát nước bắt cá, và cuốc lấn bờ mương hay cấy lúa trong đường mương, làm cho nước không lưu thông được, nếu ai không tuân thì bị phạt, từ 0$20 đến 1$00, hay phạt dịch từ 1 ngày đến 5 ngày.

 

Khoản thứ 27:  Các chủ có ruộng sâu hay ao chứa nước nuôi cá, thì không được người nào đem nơm, lưới tới bắt lén, nếu không tuân thì phạt bạc từ 0$20 đến 1$00, hay phạt dịch từ 1 ngày đến 5 ngày.

 

Khoản thứ 28:  Các chủ ruộng đất có chứa nước để cày cấy hay dưỡng hoa lợi thì không ai được lén phá bờ tháo nước qua ruộng mình và không được cuốc bờ ruộng của người khác, nếu không tuân thì sẽ bị phạt như khoản 27 đã định, và phải bồi thường tổn hại (cứ tính ruộng đất gieo một ang lúa giống thì phải bồi tổn hại nước

1$00, còn bờ ruộng xâm lấn thì phải tu bổ lại như nguyên).

 

Khoản thứ 29:  Cấm không được nuôi vịt khôn thả nơi ruộng ao của người khác, để tránh khỏi trâu bò bị uống nước ấy mà sanh ho, nếu người nào không tuân, thì hội đồng đại hào mục nghĩ phạt từ 0$40 đến 2$00 hay phạt dịch từ 2 ngày đến 10 ngày và không được báo lạc túc.

 

Khoản thứ 30:  Cấm không được cho trâu, bò, ngựa ăn nơi đường hoả xa, đường tổng lộ, hương lộ, hay cuốc phá thân đường, nếu không tuân thì phạt từ 0$20 đến 1$00, hay phạt dịch từ 1 ngày đến 5 ngày và phải đắp sửa lại như nguyên.

 

TIẾT THỨ 9:  CÔNG ÍCH CÔNG LỢI

 Khoản thứ 31:  Trong làng có hai sở núi cấy tranh và một vườn  đình trồng chay, mít để làm công dụng đồng hương, thường năm hương chức trích số công tư hương, lưu ích đem dẫy dọn cỏ rác, hay trồng thêm chay, mít, tranh, cấm không được thả trâu bò, hay cắt đốn trộm, nếu không tuân, thủ khoán bắt được, trình hội đại hào mục nghĩ phạt từ 0$20 đến 1$00 như tang vật còn, thâu để sung công, tang vật không còn, chiếu giá sức bồi; nếu không bắt được tang phạm, thì thủ khoán phải chịu bồi thường.

 

TIẾT THỨ 10:  VỆ SINH CÔNG CỘNG

 Khoán thứ 32:  Nhà nào ở gần đường tổng lộ, hương lộ, đều phải quét dọn cho sạch sẽ, không được tốc rác hay đổ những vật uế trên đường (các mương nước cũng thế) người nào có trâu, bò, ngựa, heo, chó chết đem chỗ nào cách nhà người ta ở 1 kilometre mà chôn thật sâu. Còn gà, vịt, mèo, chuột v.v.. chết, phải đem đến nơi cách nhà người ta ở 500 metre, mà chôn thật sâu, không được đem những súc vật chết, chiếu manh, giẻ rách, giừơng tre hay các đồ uế khác bỏ ngoài đường, mương nước, sông, suối hay trên những đám đất ruộng, và hai bên các con đường gần nhà người ta ở, nếu không tuân phạt từ 0$20 đến 1$00 hay phạt dịch từ 1 ngày đến 5 ngày.

 

Khoản thứ 33:  Các giếng để uống nước phải xây thành, hay rào cho cao độ 0m60, chung quanh giếng dẫy dọn cho sạch. Cấm không ai đựơc đem những đồ mền chiếu, quần áo giặc nơi bờ giếng, và không được tắm để cho được sạch sẽ, nếu không tuân sẽ bị phạt như khoản 32 đã định.

 

TIẾT THỨ 11:  CẦU CỐNG ĐƯỜNG SÁ

 Khoản thứ 34:  Trong địa phận làng, có 4 cái cống, 4 cái mương, và con đường tổng lộ, hương lộ, mỗi năm tháng giêng phó lý hương mục phải trích số dân lưu hương tư ích mà tu bổ, vét dọn cho được đường sá sạch sẽ, mương ngòi lưu thông; nếu số công lưu hương tư ích không còn, thì phải bắt dân bần cùng và cậy dân ngụ để ứng hành, nhưng số nhu dụng nhân công phải kê biên cho minh bạch rồi trình hội đồng đại hào mục cứu xét; nếu phó lý, hương mục không chăm lo về khoản kể trên thì hội dồng đại hào mục trình quan nghĩ phạt. Người nào tự tiện đào mương trên mặt đường cũng bị phạt như khoản 32, và phải sửa đắp ngay lại trừ những khi nào cần cho mương nước rút ngang qua đường thì phải làm cống, đặt lù.

 

TIẾT THỨ 12:  CỨU TAI TRUẤT NẠN

 Khoản thứ 35:  Các nhà trong làng phải dự bị những đồ cứu hoả (ống thụt, mo, gàu, vò, ui). Gặp khi nhà nào bị phát hỏa, thì người trong làng lập tức đem đồ trong cứu hỏa tới cứu, nếu người nào không có đồ cứu hoả mà chạy không, thì phạt từ 0$20 đến 1$00 hay phạt dịch từ 1 ngày đến 5 ngày. Khi cứu chữa xong rồi, nhà giàu bị thất hỏa, thì người trong ấp, nhà giàu giúp một ang gạo hay 0$40, nhà thường giúp 3 tấm tranh, hai cây tre hay 0$25, nhà nghèo giúp 2 ngày công, chủ nhà dọn cơm một bữa trưa; nhà nghèo bị thất hoả, thì người trong ấp nhà giàu giúp 2 ang gạohay 0$80, nhà thường giúp 3 tấm tranh, 2 cây tre hay là 0$35 và một ngày công, nhà nghèo giúp hai ngày công, chủ nhà khỏi phải dọn cơm còn về phần làng xóm, đối với nhà thường hay nhà nghèo trong khi thất hỏa, thì hoặc cho tranh tre hay tiền lúa, lâm thời sẽ hội định (nhưng xét quả đứt tình mới được hưởng phần cứu truất kể trên).

 

Khoản thứ 36:  Trong làng có người nào bị bịnh hoạn gấp rút mà không thân nhân lo chạy thuốc thang, thì người lân cận phải chăm nom giùm, hay thấy người nào qua đường bị bịnh hoạn nguy cấp thì phải đem dầu thuốc cưú cấp, rồi báo tường lý hương đem tới nhà thương cứu chữa.

Nếu gặp thấy mà bỏ lơ, thì phải bị phạt từ 0$20 đến 0$60 hay phạt dịch từ 1 ngày đến 3 ngày (các tai nạn khác cũng thế).

 

TIẾT THỨ 13:  GIÁO DỤC

Khoản thứ 37:  Trong làng có hai nhà trường học, 1 trường ngói, 1 trường tranh hiện dạy 3 lớp, phụ huynh trong làng, nên khích khuyến đông con em vào học, mỗi năm đến kỳ nghỉ nắng, hội đồng hạch tấn ích 1 vòng, trích của công nhu 2$00 mua giấy, mực, viết, trò nào đậu đặng số 7 trở lên thì được dự lãnh phần thưởng.

 

Khoản thứ 38:  Trong làng trò nào đậu bằng cấp Primaire thì trích của công nhu thưởng 1$00, bằng cấp cao hơn nữa thì chiếu số đó mà đệ gia còn thuộc về các công nghệ khác, nếu người nào học thành nghề tinh xảo, được quan trên cấp cho giấy thưởng, thì cũng trích của công nhu nghĩ thưởng 1$00.

 

TIẾT THỨ 14:  TÀI CHÁNH

 Khoản thứ 39:  Trong làng không có ruộng đất công, chỉ có ruộng đất đồng hương 10 mẫu, chiếu theo tục lệ lưu truyền xưa nay có tờ ước định, ruộng đất nào đã bán đoạn, quyền lợi về làng, thì làng cho dân làm rẻ, chia nữa phần ba lợi hay cho dân lãnh canh, trả tiền trước, ruộng đất nào bán lai thục, chủ bán còn quyền lợi, thì chủ bán được lãnh canh lại, chiếu theo giá ruộng đất bán 100$ phải trả bạc lãnh canh 5$00, trong một năm, nếu năm nào ba lợi cao thì bạc lãnh canh gia thêm một ít, lâm thời sẽ hội định. Mỗi năm tháng 3, tháng 4 thì thâu trước số bạc lãnh canh ấy, nếu người nào không muốn lãnh canh nữa, cũng trong kỳ hạn đó mà giao ruộng đất lại cho làng, để làng cho người khác lãnh, hay cho làm rẻ chia một nữa phần ba lợi. Số bạc cho lãnh canh và ba lợi chia ấy sung vào hương qũy, giao hương bổn nhận giữ; cước chú vào sổ thâu hương qũy để chi chuẩn các khoản tế tự, và các khoản chi tiêu đồng niên trong làng, còn bao nhiêu chiếu theo số dân đinh mà bổ trợ thâu thuế (nếu người lãnh canh không y ước thì nghĩ phạt hay trình quan).

 

Khoản thứ 40:  Những bộ tịch, đơn bằng, khế khoản, hương ước của làng thì giao đương thứ hương bộ nhận giữ, còn tự khí, tự vật của làng thì giao cho đương thứ hương bổn nhận giữ, có bản kê biên giao nhận rõ ràng (tờ nhận giao  viên hội trưởng đại hào mục nhận giữ) nếu thơ khí kể trên thất soát thì trình quan nghĩ trị, tự khí tự vật thất soát thì bắt bồi thường.

 

TIẾT THỨ 15:  PHÂN BỔ SƯU THUẾ

Khoản thứ 41:  Mỗi năm đến kỳ thâu thuế, sau khi lãnh bài chỉ đinh điền, lý trưởng phải trình với hội đồng hương thôn đại hào mục chiếu tính, người nào ruộng đất bao nhiêu, thuộc hạng gì phải nạp thuế bao nhiêu, kê biên niêm yết rõ ràng, rồi giao cho lý trưởng theo thâu, nếu lý trưởng phù thâu phải trình quan nghĩ trị.

 

TIẾT THỨ 16:  TẠP LỆ

 Khoản thứ 42:  Trong làng các nhà trồng mì, sắn, khi bới lên xắt phơi, phải phơi ở nơi sân gạch, hay trên đá, nong, cót cho thật khô, và không được để cho bụi đất thấm vào, còn các người mua […](mua đi bán lại) mì, sắn, bắp cấm không được rưới nước, trộn đất cát vào để cho nặng cân, nều không tuân lần thứ 1 phạt từ 0$20 tới một đồng, lần thứ 2 trình quan nghĩ trị. Những nhà lĩnh mua mì, sắn, bắp phải xem xét cho cẩn thận, nếu sai suất mà mua lầm những mì, sắn bắp không tốt như nước và dính đất, cát v.v.. khi giác xuất như số ít từ 300 kg trở lui thì phạt như lần thú 1 ở trên, còn về số nhiều trình quan nghĩ trị.

 

Khoản thứ 43:  Các khoản thâu kể trên, trừ tiền lúa (và bạc phạt v.v..) do hương bổn thâu nhận, biên vào khoản thâu sổ hương kỷ, các khoản chuẩn kể trên như (tế tự, khánh điếu, công dụng, bổ sưu, nghĩ thưởng) thì do hương bổn chi xuất, biên vào khoản chi sổ hương kỷ, hương bổn phải lập một bản sổ tồn căn để đối chiếu.  Nếu phù chi lạm chuẩn thì bắt bồi thường và trình quan xét nghĩ, còn về phần công phạt dịch kể trên, thì giao hương mục hương dịch kiểm nhận, dẫn tu bổ vườn đình, nhà hội điếm canh, và trồng cây các rừng làng hay dẫy đắp các con đường trong làng, nếu hương mục, hương dịch không thực hành, trình quan nghĩ trị.

 

Khoản thứ 44:  Hội đồng đại hào mục mỗi năm chia làm bốn kỳ đại hội đồng (trừ thường hội ngoại) rằm tháng 3, rằm tháng 6, rằm tháng 9, rằm tháng chạp An Nam để bàn định các việc làng, hiểu cáo các trật tự, luân lý, các việc cầm phòng, trù các việc lợi ích chung xét sổ hương quỹ, sổ tư ích, xét nhơn thể bộ, hiểu khuyển những việc mở mang học vụ, công nghệ, kinh tế v.v.. mỗi mai ngày ấy 7 giờ, hương dịch tới trước tại nhà hương hội đánh trống ba hồi lại ba dùi, thì các viên chức trong hội (trừ người nào có duyên cớ đã cáo khiếm diện trước, với đại hào mục ủy viên ngoại) đều phải tề tựu để bàn định ngày đại hội hay thường hội, nhơn dân trong làng có điều gì bất bình, thì tới trình hội đồng xét xử, nếu không phục tình sẽ cho quan tố cáo, nếu buổi mai bàn định hay phân xử chua xong, thì chiều hai giờ ngày ấy, đều phải tề tựu nghĩ định cho xong việc, khi đại hội đồng xong rồi, đệ biếu bản trình quan duyệt chiếu; như người nào không duyên cớ gì lại không cáo trước mà khiếm diện thì sẽ bị phạt mỗi lần 0$20 nếu không tuân trình quan nghĩ trị.

 

Khoản thứ 45:  Kỳ đại hội đồng hay thường hội đồng không được chi chuẩn ăn uống, nước chè, nếu hương bổn chi chuẩn phải bồi thường (trừ uống nước chè, ăn trầu và những việc quan khẩn phải chi chuẩn ngoại).

Trong hương ước này cộng là 45 điều khoản khi nào dưng quan trên duyệt y phúc sức sẽ thi hành lần đầu, nếu sau này có khoản gì đáng cải bổ, hay đáng bổ nghị thêm thì làng chúng tôi sẽ tục nghĩ bẩm hầu, duiyệt y thi hành.

 

Nay hương ước

 Cửu phẩm văn giai sung đại diện ủy viên       Hồ Nguyên Phong

Bác phẩm đội trưởng                                       Huỳnh triêm

Bổ thọ chánh tổng sung đại hào mục              Huỳnh Dung

Cửu phẩm đội trưởng                                       Võ Bông

Phó tổng dụng                                                  Bùi Hành

Cựu thủ sắc sung đại hào mục                        Phạm Vận

Cựu thủ sắc sung đại hào mục                        Trịnh Hưng

Thủ sắc sung đại hào mục                               Bùi Tích

Cựu đại hào mục                                              Nguyễn Dụng

Cựu lý trưởng                                                   Phạm Để

Cựu dại hào mục                                              Trần Nhiễu

Cựu dại hào mục                                              Nguyễn Trước

Tộc biểu cựu chánh xã đoàn                            Lâm Liên

Tộc biểu cựu hương bộ                                     Bùi Hường

Tộc biểu cựu phó lý                                          Nguyễn Lộc

Tộc biểu cựu phó lý                                          Bùi Di

Tộc biểu cựu phó xã đoản                                Cù Lâm

Tộc biểu cựu hương kiểm                                 Bùi Hịch

Tộc biểu cựu hương mục                                  Phạm Cầm

Tộc biểu cựu hương mục                                  Nguyễn Tặng

Tộc biểu cựu lý hương                                      Bùi Uất

Tộc biểu thơ ký                                                 Nguyễn Hương

Tộc biều cựu chủ ấp                                         Phạm Lương

Tộc biểu cựu chủ ấp                                         Trịnh Xáng

Tộc biểu cựu chủ ấp                                         Nguyễn Qùy

Tộc biểu cựu thơ ký                                          Võ Hiến

Tộc biểu                                                            Huỳnh Điển

Tộc biểu                                                            Đoàn Ât

Tộc biểu                                                            Phạm tuân

Tộc biểu                                                            Lý A

Tộc biểu                                                           Nguyễn Công Quát

Tộc biểu                                                           Bùi Toản

Tộc biểu cựu thủ sắc                                       Trịnh Lịnh

Tộc biểu cựu thủ sắc                                        Phạm Tạo

Tộc biểu cựu hương mục                                  Võ Điện

Tộc biểu cựu phó lý                                          Phạm Duy

Tộc biểu                                                            Huỳnh chước

Cựu hương bộ                                                   Hồ Nguyên Phụ

Hương bổn                                                        Huỳnh Cơ

Hương kiểm                                                      Bùi Liệp

Hương kiểm                                                      Bùi Phú

Hương mục                                                       Phạm Tuất

Chánh xã đoàn                                                Trịnh Nhỏ

Phó lý                                                               Nguyễn Mai

Phó xã đoàn                                                     Hà Lang

Phó hương bộ                                                   Phạm Duân

Hương dịch                                                       Bùi Thuế

Hương dịch                                                       Nguyễn Phòng

Hương dịch                                                       Phan Lý

Hương dịch                                                       Đoàn Thưởng

Hương dịch                                                       Phạm Phú

Lý trưởng                                                         Phạm Quy

Hương bộ                                                         Nguyễn Dĩnh

 

Phụng duyệt đệ

Tri phủ

Ký tên: Phạm đình Long

 ——————–

(*):  Làng Phủ Lễ nay là thôn phủ Lễ, xã Bình Trung, huyện Bình Sơn.