Người Cà Dong

PHONG TỤC LỄ HỘI, TÍN NGƯỠNG CỦA DÂN TỘC CA DONG

 lang-nguoi-ca-dong

Ca Dong là một nhánh của dân tộc Xê Ðăng ở bắc Kon Tum. Người Ca Dong sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy và làm ruộng, làm vườn, săn bắn, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Người Ca Dong có nghề dệt cổ truyền, các mô-típ hoa văn trang trí đẹp. Người Ca Dong còn nung được quặng cục, quặng cát thành thép thỏi để rèn công cụ sản xuất và săn bắn. Người Ca Dong ở theo từng làng, mỗi làng là một cộng đồng gồm những người cùng hay không cùng huyết thống, có nhiều nóc nhà. Tất cả chủ nóc họp thành hội đồng già làng, đứng đầu là nhừng người có uy tín nhất. Gia đình Ca Dong là gia đình song hệ (tính theo phía mẹ và phía cha). Ðồng bào không có thuật ngữ riêng để chỉ dòng họ mà đặt phụ âm đầu của tên để phân biệt dòng họ (như tr, p…), tên gọi của mỗi người kèm theo một bổ ngữ chỉ giới tính. Người Ca Dong có quan hệ bình đẳng nam nữ, không phân biệt đối xử con riêng, con chung, con nuôi, con đẻ ; phổ biến tục kết nghĩa anh em.

Quan hệ hôn nhân của người Ca Dong theo nguyên tắc nam nữ tự do tìm hiểu, kết hôn, tôn trọng tập tục hôn nhân. Hôn nhân theo chế độ cư trú hai bên. Quan hệ tính giao trước hôn nhân bị cấm ngặt. Tội hủ hóa bị phạt vạ nặng, thậm chí vợ chồng sinh con năm đầu mới cưới cũng bị xem như ngoại tình. Chế độ một vợ một chồng đã bền vững, vợ chồng thường thuận hòa, ít khi bỏ nhau, ít khi có ngoại tình. Người Ca Dong không chấp nhận hôn nhân giữa những người cùng huyết thống trong phạm vi ba đời cả phía cha và phía mẹ. Hai gia đình thông gia với nhau, thường tiếp tục gả con cái cho nhau. Nguyên tắc hôn nhân lưỡng hợp còn dấu ấn tục lệ lấy đôi thịnh hành, nhưng ít khi hai anh em ruột lấy chị em ruột mà thường là em gái của chồng lấy em trai của vợ.

Biểu diển múa cồng chiêng của người Cà Dong

congchieng_cadongNgười sản phụ đến kỳ sinh đẻ phải tự lo lấy mọi việc. Trước đây có tục sản phụ chẳng may chết trong vòng ba ngày sinh con thì người ta chôn luôn đứa con vì cho rằng chưa hết cử, chẳng may thai bị chết khi chưa dứt rốn thì không được chôn, phải buộc trên gốc cây nơi hoang vắng.

Người Ca Dong tin rằng người chết vẫn còn có thể quấy phá. Vì vậy, khi người chết còn để ở nhà, mọi việc ăn uống cúng tế đều phải dành phần cho người chết. Là cư dân nông nghiệp, tộc người Ca Dong có những lễ thức tín ngưỡng, chủ yếu là thần Mặt trăng (Y-cô, y-ca), cầu mong các siêu linh phù hộ che chở cho cuộc sống yên lành, mùa màng tết tươi. Vị trí thần lúa gắn liền với những nghi thức long trọng. Bà chủ nóc là người duy nhất được chăm sóc đến các lễ thức liên quan đến hồn lúa. Hồn lúa theo quan niệm thường trú ngụ vào một giống lúa xưa nhất. Giống lúa này được tỉa riêng ở mảnh đất thiêng trên rẫy. Mỗi người trong gia đình phải tự tay trồng một bụi sát bên chòi trước khi dọn rẫy tỉa lúa. Lúa này được cắt bông đem về trước khi suốt lúa rẫy để dùng vào lễ cơm mới. Sau khi tỉa lúa xong, lúa giống thừa không được dổ vào kho mà giã thành gạo nấu cm ăn, ăn xong nhảy múa cho đói rồi lại ăn cho kỳ hết trong vòng 5, 3 ngày. Ăn không hết phải đổ bỏ. Khi thu hoạch, lễ đưa hồn lúa từ rẫy về nhà kho rất được coi trọng. Những nơi qua suối đều phải bắc cầu hoặc căng dây chỉ (tượng trưng) cho hồn lúa đi qua. Ở nhừng ngã ba đường phải cắm cây sống làm dấu chỉ đường cho hồn lúa. Nhà kho phải bắc cầu cho hồn lúa lên. Chỗ nghỉ ngơi của hồn lúa phải được sửa soạn chu đáo. Người Ca Dong cho rằng hồn lúa sợ nước, khi tiến hành nghi lễ, phải để cho lúa không dính nước (Theo truyến thuyết. có nhà thả chó chạyrằng sủa vang. hồn lúa sợ rơi xuống sông, cả nhà ấy bị đói). Những lễ thức trên được tổ chức theo chu kỳ làm rẫy hàng năm.

Người Ca Dong cho ngày chẵn là ngày xấu, ngày ma đi; ngày lẻ là ngày tốt, ngày người đi, nên các lễ thức thường làm vào ngày lẻ, trong ăn uống cũng tôn trọng số lẻ 13, 5.. . và thường chỉ dùng tay phải, còn tay trái dùng để cấu thức ăn ném cho hồn người chết.

Người Ca Dong cho hạn hán là do thần sấm sét lãng quên, phải cầu xin để nhắc nhở, nếu không kết quả thì phải “chọc tức” để thần mưa xuống. Có nơi đồng bào nhúng ổ chim sẻ non xuống nước, nhét phân trâu vào tổ ong cho ong không ra được, kêu điếc tai thần, hoặc bắt cóc trói lại khiêng đi để cho thần sét xót thương.

trang_phuc_cadongThu hoạch xong, đồng bào tổ chức sửa sang máng nước, dựng nêu, làm lễ cúng ở máng nước, cầu mong một năm mới thịnh vượng hơn. Máng nước tượng trưng cho cả làng. Cúng máng nước là hình thức cố kết cộng đồng. Cả làng góp đồ cúng đến cúng và ăn chung ở máng nước, rồi về tổ chức ăn uống từng nhà. Người có uy tín nhất trong làng đứng ra cúng thần làng và các siêu linh khác, cầu xin cho dân làng được khỏe mạnh, mùa màng tốt tươi, gia súc phát triển. Người ta chăng dây, mắc dây kiêng, không cho người lạ vào làng khi lá chưa khô. Tết Ca Dong kéo dài cả tuần. Trong tết có tục “nhảy co”: nhảy múa xung quanh bếp lửa, gần chỗ thờ cúng tổ tiên, tung vãi cơm nếp đun trong ống nứa, chiêng trống nổi lên, họ ca hát, reo hò , cầu mong sang năm mùa màng tốt tươi, lưng thực dư thừa. Trong ngày tết không được để hết cơm trong nồi – biểu hiện của sự đầy đủ, sung túc.

Cả làng còn giết trâu mở tiệc nhân dịp chiến thắng kẻ thù, hay sau nhiều lần thất thoát, mất mùa, bại trận, dịch bệnh … để cầu xin sự yên lành may mắn.

Cây đa được người Ca Dong cho là có thần linh trú ngụ, tượng trưng cho sự trường sinh bất tử. Họ thường lấy lá đa treo vào tóc trên đầu, mong ước được sống vĩnh hằng.

(Theo Quảng Ngãi, Ðất nước – Con người – Văn hóa) 

 

Advertisements

Người Hre

PHONG TỤC, LỄ HỘI, TÍN NGƯỠNG CỦA DÂN TỘC HRE

Dân tộc Hre cư trú chủ yếu ở các huyện Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long (Quảng Ngãi) và An Lão (Bình Ðịnh). Tiếng Hre thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khme. Người Hre chủ yếu sống bằng nghề làm lúa nước và nương rẫy. Săn bắn, hái lượm, đánh cá, dệt, rèn là những nghề phụ, nhưng có ý nghĩa đáng kể. Người Hre định canh thành từng làng (p?lây), ở nhà sàn. Trước cách mạng tháng 8.1945, mỗi làng đều có già làng đứng đầu.

nha_san_hre

Nhà sàn của người Hre. Ảnh sưu tầm

1. Cưới xin:

Nguyên tắc một vợ một chồng đã được xác lập. Dưới chế độ cũ, một số ít người thuộc tầng lớp trên có hai, ba vợ. Một số người lấy vợ hai do hiếm con. Tập tục cho phép vợ góa lấy em trai chồng, chồng có thể lấy em gái vợ.

ruong_bac_thang

Anh chị em con cô, con cậu, con dì, con vợ cả, con vợ hai, con cùng mẹ khác cha đều không được đặt quan hệ hôn nhân với nhau. Quan hệ luyến ái trái với phong tục thì bị phạt nặng, loạn luân bị coi là trọng tội. Trong cưới xin cũng có người mai mối hôn nhân của người Hre không mang tính chất mua bán. Hiện tượng kết hôn với người khác tộc chưa phổ biến, nhưng đang phát triển dần, nhất là những người nơi xen cư, kế cận với người Việt, Xê Ðăng, Cor. Tùy theo hoàn cảnh thực tế của gia đình mỗi bên mà chàng rể có thể về ở nhà vợ hay cô dâu về ở nhà chồng. Khi vợ chồng sinh con đầu lòng thì tách khỏi cha mẹ, làm nhà riêng, thành đơn vị kinh tế độc lập.                                           

bep_nguoi_hreBếp trên nhà sàn người H’re

Ðám cưới thường được tổ chức vào thời gian cuối năm, lúc rảnh rỗi và no đủ. Bên nào đón người về (làm dâu hoặc ở rể) thì tổ chức nghi lễ lớn hơn. Họ mở tiệc mặn, có rượu cần, trò chuyện và ca hát vui vẻ. Gia đình chuẩn bị sẵn một bếp dành làm nơi ngủ cho đôi vợ chồng mới. Tại đây diễn ra những nghi thức tượng trưng cho sự gắn bó vợ chồng. Hai người trao cho nhau miếng trầu, bát rượu, quàng chung một vòng chỉ. Trường hợp đón dâu, nhà trai cử một cô gái đi đón về, nhà gái cho một cô gái tiễn đưa. Cô dâu về nhà chồng qua cửa mang (cửa trổ ở phòng cuối của ngôi nhà ở vách chân người nằm). Nếu đón rể, nhà gái cho một chàng trai đi đón, nhà trai cho một chàng trai đưa tiễn. Chàng rể vào nhà vợ bằng cửa măk (cửa thông với phần trong nhà). Ðêm đầu, người tiễn đưa ở lại ngủ cạnh nàng dâu (hoặc chú rể). Sáng hôm sau, đôi tân hôn quay về nhà bố mẹ vợ hoặc chồng, rồi họ trở lại nơi cư trú đã định trước.

2. Sinh đẻ:

Gần đây, vợ chồng người Hre có xu hướng thích con trai hơn. Suốt những tháng mang thai, phụ nữ kiêng cử, cầu cúng nhiều với hy vọng sinh đẻ dễ dàng, đứa trẻ lành lặn, dễ nuôi. Người phụ nữ đẻ ngay trên bếp, một vài chị em thân cận và bà mụ được mời tới cúng và hộ sinh. Ðứa bé được cắt rốn, tắm rửa. Họ gói kín nhau vào mo cau đem để trong hang đá hoặc dưới gốc cây rừng hoặc chôn cạnh nhà. Trong khoảng vài chục ngày sau khi đẻ, người mẹ nghỉ việc, kiêng ăn cá niêng, trứng, ớt, chuối, thịt gà trắng, thịt trâu.phu_nu_hre

Ðứa bé đầy tháng thì làm lễ đặt tên, tránh trùng tên hoặc vần với nhừng người trong họ hàng. Ðồng bào quan niệm ma quỷ có thể làm con cái họ chết yểu, nên thường dùng tên xấu xí. Cùng với việc lấy họ như người Việt, người Hre đã tiếp thu từ “thị” trong tên nữ và “văn” trong tên nam. Thường ngày, người lớn không gọi thẳng tên trẻ con mà dùng đại từ thay thế để xưng hô: con trai là “éo“, con gái là “yên“, như người Việt gọi ‘thằng cha” , “cái gái” .

3. Tang ma:

Người chết bình thường tại nhà thì đặt ở tư thế nằm ngửa trên phần sàn vẫn ngủ khi sống, rửa mặt bằng nước lã, mặc hai, ba lớp quần áo, rồi quấn chiếu hay đặt vào hòm.nha_mo_hre

Nhà mồ người H’re

Khi một gia đình có người qua đời thì họ hàng thân thuộc và cả dân làng đến giúp lo ma chay. Nếu gia đình chưa chuẩn bị hòm thì một nhóm đàn ông vào rừng kiếm gỗ làm hòm. Những người khác đi lấy gỗ, cỏ tranh, dây làm nhà mồ, hoặc mổ heo, trâu, giúp chủ nhà làm cơm đãi khách. Con vật hiến tế được coi là dành cho người chết. Người Hre làm hòm bằng thân cây đục rỗng khá công phu, giống như chiếc thuyền độc mộc, có ván thiêng đậy trên. Nhà giàu thường để xác người thân ba, bốn ngày, đâm trâu ăn uống linh đình. Nhà nghèo thường chỉ sau một ngày đã đem chôn. Nếu người chết là chủ gia đình thì đưa ra ngoài theo cửa phía đầu nhà, nếu là thành viên khác trong nhà thì qua cửa bên.

Người Hre quan niệm, ban ngày ở dương gian là ban đêm ở cõi âm, nên có tục đốt xác ong để dẫn đường khi đưa tang. Tục chia của cho người chết, nhiều loại, có loại đặt trong hòm như quần áo, cơm, thịt, bạc, trầu, có loại chôn ngoài như con gà, cái ché , có loại đặt trên mặt đất như đao, bếp, nồi, củi, gùi .

Người Hre không có tục để tang. Sau khi chôn cất, người thân nghỉ việc ruộng rẫy vài ngày, không ca hát, hội hè gì. Năm hôm sau lễ chôn cất, người nhà đem một con gà nhỏ ra cạnh làng để cúng, tỏ lòng thương tiếc, an ủi, chia sẻ tình cảm với người chết một lần nữa. Trước khi ăn tết, các nhà có tang trong năm cùng đem bánh nếp tới mộ than khóc phát dọn cây con, để lại phần bánh trên mộ. Từ đó đồng bào chỉ cúng người chết khi có sự cố do quẻ bói cho biết là có tổ tiên quở phạt.

Dân tộc Hre quan niệm người chết trận, chết sinh đẻ, chết bị hổ vồ, sét đánh. . . là chết độc (chết dữ), phải chôn riêng một chỗ xa làng. Nếu chết ở ngoài thì không đem vào nhà. Ðồng bào còn có tục làm ma giả đối với trường hợp chết mất xác hoặc bỏ xác ở phương xa, mục đính là để mai táng những di vật của người xấu số.

4. Tín ngưỡng:

Người Hre nằm ngủ ngang sàn, đầu quay về phía đất thấp, bên trái là đầu nhà dành cho đàn ông và tiếp khách, phần cuối nhà dành cho phụ nữ và trẻ em.

Người Hre cho rằng lực lượng siêu nhiên gồm nhiều thần linh mang tên gọi khác nhau, có nhiệm vụ cụ thể. Làng ma là sự tưởng tượng của người Hre về cuộc sống của thế giới bên kia, linh hồn người chết biến thành “ma” và sống ở đó. Mọi sinh hoạt diễn ra giống như làng người sống nhưng trái ngược lại, như đêm là ngày, cỏ là lúa… Người Hre quan niệm mỗi người đàn ông có 7 hồn, đàn bà có 9 hồn, con vật cũng có hồn. Người Hre kiêng nhiều linh hồn tàng ẩn ở cây đa, tảng đá, con suối, con rắn xanh cũng như quan niệm có những thần linh liên quan đến trẻ con, lo sợ ma quỷ ìàm hại con cháu, nên thường cho trẻ con đeo trước ngực một cái ngãi hộ thân kỵ ma. Người Hre rất quan tâm đến những giấc chiêm bao lành hay dữ, những điềm báo trên giò gà hoặc các dấu hiệu bắt gặp ngẫu nhiên như thấy chim bay, hắt hơi, vấp chân. . . từ những điềm đó, có thể tiến hành hay đình hoãn những công việc đã định.

Tín ngưỡng hồn lúa cùng các lễ thức trong quá trình sản xuất lúa chiếm vị trí đáng kể, tập trung vào hai giai đoạn của mỗi mùa, khi gieo cấy và khi thu hoạch, cất lúa vào kho. Vị trí người đàn bà chủ lúa – vợ chủ nhà-!à người quản lý lương thực được coi là có liên hệ thần bí với hồn lúa. Ngày cúng cơm mới, bà ta lấy lúa từ ruộng rẫy về rang, giã gạo, nấu cơm rồi chịu lễ và một mình ăn cơm nấu trong “nồi thiêng”. Cũng chỉ bà mới được tỉa lúa làm phép, đem gùi lúa đầu tiên về nhập kho. . .

Lễ cầu sức khỏe, cúng ốm đau, cúng theo chu kỳ sản xuất làm nhà mới, cúng người chết, cúng đặt tên… đều tiến hành ở gia đình. Có những nghi lễ thu hút đông đảo dân làng, người quen đến dự, nhất là lễ cúng đâm trâu. Ngoài ra khi có nạn dịch đe dọa người và gia súc, hai năm, ba năm một lần, cảlàng tổ chức cúng chung nhằm cầu an, ngăn ngừa bệnh tật. Ðâỵ là nghi lễ mang tính chất cộng đồng.

(Theo Quảng Ngãi, Ðất nước – Con người – Văn hóa) 

 

Người K’hor

PHONG TỤC, LỄ HỘI, TÍN NGƯỠNG CỦA DÂN TỘC COR

Bản của người Cor ở Trà Bồng

Dân tộc Cor cư trú chủ yếu ở huyện Trà Bồng, một ít ở Sơn Hà và huyện Trà My (Quảng Nam). Tiếng nói của người Cor ban-nguoi-cor-tra-bongthuộc nhóm ngôn ngữ MônKhme. Sống trên địa hình rừng núi hiểm trở, người Cor làm nương rẫy là chính. Lúa rẫy, bắp, mì, đặc biệt là trầu không và cây quế là nguồn lợi kinh tế lớn, ngòai ra còn săn bắn và hái lượm. Người Cor định cư thành từng làng có tên gọi riêng theo tên người đứng đầu làng, hoặc tên sông, suối, đất, rừng. Trước đây, hàng chục gia đình cùng dòng họ, hoặc thân thiết, chung sức làm một nhà sàn dài trên sườn đồi, bên suối nước, gần nương rẫy, mỗi nhà sàn gọi là một nóc, mang tên người đứng đầu nóc. Mỗi nóc chia thành nhiều cửa, mỗi cửa là một bếp, mỗi bếp là nơi cư trú của một gia đình. Hiện nay, khá nhiều người đã và đang chuyển sang làm nhà. Trước cách mạng tháng 8.1945, mỗi làng có người đứng đầu gọi là già làng. Ðồng bào rất coi trọng vai trò người khai canh Người Cor đang phát triển hình thái gia đình nhỏ bên cạnh di sản gia đình lớn còn khá rõ rệt. Từ chế độ song hệ, người Cor đã bắt đầu xác lập chế độ phụ hệ. Khi già, cha mẹ chia tài sản cho con trai, con cả hoặc con út sẽ phụng dưỡng cha mẹ nên được hưởng phần nhiều hơn. Con gái chỉ được nhận một số của cải lúc đi lấy chồng. Khi có gia đình riêng, con gái về thăm cha mẹ đẻ cũng phải chịu những kiêng cử như người ngoài.

1. Cưới xin:

Với dân tộc Cor, những người có liên hệ huyết thống gần gũi không được lấy nhau. Từ một ông bà tổ sinh ra, nếu đời thứ nhất là anh em trai thì đến đời thứ tư (có nơi đến đời thứ năm) mới được quan hệ hôn nhân. Nhưng nếu là chị em gái, hay anh trai em gái, hoặc em trai và chị gái thì đến đời thứ ba có thể lấy nhau. Ai không tuân tục lệ thì bị phạt, phải vào ở riêng trong rừng. Phong tục người Cor không ngăn cấm lấy vợ thứ nếu vợ chồng hiếm con và được người vợ cả đồng ý. Hôn nhân với chị em vợ được thừa nhận, với anh em chồng bị hạn chế ở mức người vợ góa chỉ được lấy em chồng. Anh chị em con cô, con cậu, con dì, con cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha thì cấm hôn nhân. Hai anh em trai có thể lấy hai chị em gái nhà khác theo thứ tự anh lấy chị gái, em lấy em gái. Nếu nhà bên A đã có con làm dâu nhà bên B thì hai ba đời sau nhà bên B mới gả con gái cho nhà bên A. Vợ cư trú nhà chồng đã định hình, rất ít khi chồng ở rể nhà vợ.

yphuc_dantoc_cor 

Tục cưới hỏi của người Cor có nhiều đặc điểm riêng. Ban đầu nhà trai nhờ mai mối dẫn con trai mang rượu, trầu cau đến ra mắt nhà gái, nếu được ưng thuận, cùng định ngày ông mai và chú rể mang trầu rượu đến làm lễ “đẹp nhà gái”.

Sau đó, hai nhà chọn ngày cưới. Chuẩn bị lễ cưới, hai nhà sửa sang đường sá sạch sẽ, báo cáo cho già làng biết để báo cho dân làng. Ngày cưới, họ nhà gái kéo đến nhà ông mai chờ nhà trai đem trầu cau đến đón. Ðêm hôm cưới, hai vợ chồng ngồi chung mâm, vợ chồng đặt lên đầu nhau ít cơm, gọi là bắt vía. Sau đó, cô dâu cùng nhà gái ra về. Hôm sau nhà trai sang nhà gái, tục lệ hôm trước lại tiếp diễn ở nhà gái. Ngày thứ ba, nhà trai rước dâu về. Ngày thứ tư, nhà trai làm cho đôi tân hôn bếp mới và cho cô dâu làm lễ bắt nồi. Sau đó còn nhiều tục lệ khác nữa, hai người mới thực sự trở thành vợ chồng.

2. Sinh đẻ:

Người Cor muốn có con trai hơn con gái. Người có thai không được phép đi qua người già, người lớn tuổi, không đứng bóng người lớn, ít tiếp xúc với đàn ông.

Khi sinh đẻ, sản phụ có bà mụ giúp. Ðẻ xong, sản phụ phải uống nước có nhiều muối, củ mơ gang, các loại rễ cây dây rừng đắng, uống nước nóng, đốt đá nóng quấn vải để lên bụng cho bụng nhỏ lại. Nhau được bỏ vào mo cau buộc kín treo lên cây. Bảy ngày sau, mẹ cho con đặt chân xuống đất rồi cõng lên lưng, bắt đầu làm việc hàng ngày. Sau đó làm !ễ đặt tên cho con, con đầu gọi là âyka (con trai), mưây (con gái), con thứ là mơoh (con trai) (Có nơi gọi là ioh). Tên không trùng nhau, lúc nhỏ thường gọi chệch tên), mươh (con gái).

3. Tang ma:

nguoi_cor_cungKhi có ngưới chết, cả làng nghỉ sản xuất, hội hè. Họ hàng thân thích tập trung lo tang lễ: làm hòm, nhà mồ, mổ heo đãi khách đến viếng. Người viếng mang theo trầu cau đi lễ Họ hát càrùa (đám ma) kể lại cuộc sống, đạo đức của người chết. Người chết thường (đau ốm, già. ..) để hai, ba ngày mới chôn, đưa hòm ra cửa chính, chân đi trước để không nhìn lại nhà nữa. Con cháu trong nhà phải chui qua hòm nếu là cha mẹ). Tục chia của cho người chết, của riêng tư thì chia ra, phần của người chết phải phá hỏng đi để tránh người khác lấy dùng. Ðầu nhà mồ để chiêng ché, dụng cụ săn bắn (là đàn ông), đuôi để nồi, xoong, ché, gùi, đồ trang sức (là đàn bà). .. Ðồng bào quan niệm người già, ốm đau chết sẽ hóa thành ma phu-nu-cor-bieu-dien-ken-amlành. Còn chết vì cọp bắt, ngã cây đâm chém, sét đánh, chết đuối, chết lúc mang thai hay khi đẻ . . . thì hóa thành ma dữ. Nếu có người chết vì sinh đẻ, cả làng giết súc vật cúng rồi chuyển đi chỗ khác. Dân tộc Cor không có tục để tang người chết. Con đầu đeo vòng theo số lượng để biết người trong gia đình chết bao lâu. Chôn xong, với người trẻ ba ngày, người lớn bảy ngày thì cúng mở cửa mả. Ba năm sau, gia đình mổ lợn làm lễ mãn tang, con cái được lấy vợ lấy chồng. Người chết được thờ vía: nắm tro bếp đốt với vỏ cây trầm đặt trong một cái thúng với 1, 2 cái lục lạc móc dây cườm, một cái dao cử (dao cắt cổ gà), vía đặt ở cái trang nhỏ trong nhà, mỗi lần cúng thì lấy dây cườm rung.

4. Tín ngưỡng:

Dân tộc Cor có quan niệm vạn vật hữu linh. Các tôn giáo đều xa lạ với họ. Theo tín ngưỡng cổ truyền của người Cor, đàn ông có 17 phool, dàn bà có 19 phool (giống như vía của người Việt). Khái niệm “ma” dùng để chỉ siêu linh tàng ẩn ở cây đa cổ thụ, ở vườn quế… và đặc biệt gắn với cái chết của con người. Với người Cor, con vật cũng có hồn, các bộ phận kết cấu nhà ở, cáe hốc nguồn trên rẫy đều có siêu linh ngự trị, nên không dám chặt phá cây cối và đốt lửa xung quanh.

Người Cor rất quan tâm đến các dấu hiệu khác thường, các điềm báo tốt xấu. Ðặc biệt họ sợ loại rắn tuul (rắn hổ), rắn voel (rắn mái gầm), nếu đi rẫy gặp rắn thì phải quay về cúng. Tín ngưỡng thần lúa và những lễ thức kèm theo chiếm phần quan trọng trong sinh hoạt lễ hội của người Cor, nhất là lễ hội đâm trâu được tổ chức khá công phu và rất nghệ thuật.

(Theo Quảng Ngãi, Ðất nước  Con người  Văn hóa) 

 

NGƯỜI KINH

PHONG TỤC, LỄ HỘI, TíN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI KINH

Người Việt ở Quảng Ngãi đa số là dân gốc Thanh, Nghệ, Tỉnh di cư vào trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử, cư trú chủ yếu ở 6 huyện đồng bằng, các huyện lỵ, thị xã, các thị trấn, huyện lỵ các huyện miền núi và một số ít sống xen kẽ với các dân tộc thiểu số trong các làng nóc.

Người Việt ở Quảng Ngãi thường xây nhà tranh vách đất. Từ năm 1975 xuất hiện ngày càng nhiều nhà lợp ngói, tường xây. Dưới mái nhà ấy là khoảng không gian văn hóa bảo lưu các nếp sống, tâm lý cộng đồng được sàng lọc qua bao thế hệ. Các tập tục của cộng đồng và dân tộc lần lượt diễn ra trong một gia đình theo một chu kỳ sống của mỗi cá nhân, thế ứng xử với gia đình, gia tộc, xóm làng và xã hội.

 co-gai-quang-ngai-1904trai-qn-1901

Bên cạnh việc duy trì một số tập tục của dân tộc Việt từ miền Bắc, người Việt ở Quảng Ngãi có một số tập quán riêng như cách xưng hô tên gọi, thứ bậc trong gia đình, cách nấu nướng các món ăn. Họ đã đơn giản hóa nhừng gì rườm rà, tạo nên một nếp sống phù hợp với hoàn cảnh của vùng đất mới.

1. Phong tục:

    a. Cưới hỏi:

Ngày trước, con trai con gái độ 15, 16 tuổi là dựng vợ gả chồng. Có khi hai gia đình ước hẹn thông gia lúc con mới sinh, nhưng hầu như nạn tảo hôn không nhiều.

Trong hôn nhân, ngày trước người ta thường tìm chỗ “môn đăng hộ đối”. Hiện nay việc đó đã giảm, duy vẫn còn tục coi người hợp tuổi, coi ngày để làm lễ hỏi, cưới kiêng kỵ trong nhà có tang. Phía trai chọn người làm “mai dong”, ăn nói lịch thiệp, gia đình hòa thuận, đến thuyết phục gia đình nhà gái. Nếu được nhà gái đồng ý thì nhà trai đem trầu cau dến dạm hỏi, gọi là lễ sơ vấn. Tiếp đến là lễ ăn hỏi. Người cha đằng trai và người mai dong mang trầu cau, trà rượu và đôi bằng tai vàng đến nhà gái làm sính lễ cho cô dâu. Sau đó, chàng rể thường về giúp việc nhà vợ. Ngày tết giỗ chạp, chàng rể phải có mặt ở nhà vợ.

Hai bên gia đình trai gái cùng nhau thỏa thuận lễ vật chọn ngày giờ tốt làm lễ cưới mong tránh khỏi trắc trở về sau. Trong lễ cưới, họ nhà trai gồm bà con thân thích, phù rể và người gánh xiểng (đựng lễ vật) đưa chú rể đến nhà gái. Số người luôn là số chẵn. Ðến ngõ nhà gái, họ nhà gái đốt pháo chào mừng, đón tiếp họ nhà trai vào nhà. Lễ vật được đặt lên bàn thờ tổ tiên trước sự chứng kiến của hai họ. Ðôi tân hôn lạy trước bàn thờ, kính cáo với tổ tiên, ông bà bên vợ và trao nhẫn cưới. Ðại diện hai họ nói những lời tốt đẹp cảm ơn nhau, họ nhà trai nhận dâu, họ nhà gái nhận rể. Sau đó là tiệc mừng giữa hai họ với bà con bên nhà gái. Ðúng giờ đã định, họ nhà trai rước dâu, họ nhà gái đưa dâu về nhà chồng. Số người họ nhà gái đi đưa dâu thường là bằng số người nhà trai. Phía nhà trai cũng tiếp đón tương tự. Ðôi tân hôn lạy trước bàn thờ kính cáo với tổ tiên ông bà, bên phía chồng. Tiếp đó là lễ tơ hồng, tạ nguyệt lão xe duyên cho vợ chồng trăm năm hạnh phúc. Xong lễ cưới, chiều hôm đó hoặc ba ngày sau vợ chồng đưa nhau về bên nhà vợ làm lễ “phản bái” để cảm ơn cha mẹ vợ có công sinh thành nuôi dạy người con gái và tổ chức lễ cưới.

co-tich-ben-song-traNgày trước có nhiều gia đình giàu thách cưới rất phiền phức, làm ảnh hưởng đến hạnh phúc của đôi trẻ.

Ngày nay, nam nữ thanh niên đến tuổi trưởng thành tự tìm hiểu nhau, song cha mẹ vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc dựng vợ gả chồng cho con. Khi hai bên đã thỏa thụận thì làm thủ tục đăng ký kết hôn tại chính quyền cơ sở. Tục gánh xiểng được thay bằng mang đôi quả đựng lễ vật. Và từ đầu năm 1995, bỏ tục đốt pháo trong lễ cưới.

    b) Sinh con:

Thông thường vợ chồng thích sinh con trai đầu lòng. Con đầu lòng thường sinh ở nhà cha mẹ vợ (con so nhà mạ, con rạ nhà chồng). Trong mỗi làng thường có bà “mụ” chuyên giúp cho sản phụ mẹ tròn con vuông.

Theo tập quán, đứa bé sinh ra, rốn được cắt chôn hoặc giấu cẩn thận, tránh thấm nước mái hiên để đứa trẻ khỏi bị ghẻ ở đầu hoặc loét mắt. Sản phụ nằm ở buồng kín, tránh gió, dưới giường luôn có nồi lửa than, ăn thức ăn khô và mặn. Ðến hôm “đầy cử” (trai bảy ngày, gái chín ngày), sau khi xông muối, xoa nghệ, người mẹ mới được ra khỏi buồng và một tháng sau mới dần trở lại sinh hoạt bình thường. Ðứa trẻ được tắm rửa sạch, quấn tả lót, thường hơ lửa, đánh dầu kỹ lưỡng. Ðến lúc đầy tháng (gái tụt hai, trai tụt một ngày), cha mẹ cùng xin keo và đặt tên cho con. Tên con thường thể hiện ước mong của cha mẹ về tương lai con cái tránh trùng tên tổ tiên, ông bà và những bà con gần gũi. Bên cạnh tên chính, vì mê tín, có khi đứa bé được dặt tên phụ xấu hơn để quý thần quên đi đứa trẻ, cha mẹ dễ nuôi.

Con tròn một năm tuổi, cha mẹ tổ chức lễ.cúng “thôi nôi”. Trong lễ người ta đặt các loại bút giấy, gương lược, kim chỉ, bánh kẹo… để khi đứa trẻ cầm vật gì trước thì người ta dự đoán tương lai nghề nghiệp của nó. Những đứa trẻ “khó nuôi” thường được cha mẹ đem lên chùa xin làm con của Phật, hoặc đem đến thầy cúng làm con tổ tiên (tục này gọi là “khoán”, “bán khoán” đến 10, 12 tuổi làm lễ chuộc về. Khi người khác ẳm đứa trẻ đi đâu thì bôi lọ nồi lên trán để tránh điều không hay. Con khóc đêm (dạ đề) hoặc giật mình thì lấy đồ sắt để ở đầu giường. Con nấc thì lấy lá trầu dán vào trán… Ngày nay các phong tục tập quán lạc hậu trong sinh con chỉ còn rất hiếm, ở vùng xa xôi hẻo lánh. Ða phần phụ nữ đã sinh con tại nhà hộ sinh địa phương hoặc khoa sản bệnh viện. Các lễ đặt tên con, “thôi nôi” đã giản ước và tiến bộ hơn trước.

    c. Tang ma:

Người hấp hối được đưa ra chánh tẩm, con cái tụ lại xung quanh để nghe lời trăn trối. Người chết được tắm rửa bằng trầm hương, thay quần áo sạch, đắp tờ giấy trắng lên mặt. Gia đình lấy ít gạo hoặc ít vàng bỏ vào miệng người chết, gọi là “phạn hàm” (phong tục từ Trung Quốc cổ đại). Phạn hàm xong, người chết được đặt nằm trên chiếu trải dưới đất, sau một lát, đưa lên giường. Người thân thuộc trong nhà đều im lặng, cùng niệm Phật khi có tụng kinh (nếu gia chủ theo đạo Phật), đi chân không, không dùng đồ trang sức, không trang điểm son phấn.

Khâm liệm người chết thì tùy giàu nghèo mà dùng vóc nhiễu tơ lụa, hoặc vải trắng để may đồ đại liệm và tiểu liệm. Ðồ tiểu liệm là tấm chăn nhỏ bọc thi thể, đồ đại liệm là tấm chăn lớn bọc ngoài, có một đai buộc dọc và 5 đai buộc ngang. Ngoài ra còn có. bao bàn tay, bàn chân để giữ cứng các đốt tay chân không rơi vãi khi cơ thể người chết tan rửa.

Khâm liệm xong, người ta đặt thi hài vào quan tài, đem để giữa nhà (nếu trong nhà còn người lớn hơn thì để một bên), đầu quan tài luôn hướng ra ngoài sân. Trên quan tài đặt 7 ngọn đèn, lư hương, một chén cơm bông và hột gà luộc để thờ. Trước linh cửu có đặt linh tọa (bàn thờ vong) gồm bài vị, ảnh, đèn cầy, hồn bạch. Sau đó làm lễ phát tang (lễ thành phục). Thân quyến người chết dâng lễ lên linh tọa, bịt khăn tang, mặc tang phục, thứ tự xếp hàng lễ bái, luân phiên túc trực bên linh cửu để cúng và tạ ơn khách đến viếng. Khi quan tài quàng trong nhà, người ta thường mời phường bát âm xướng nhạc tang tỏ lòng thương tiếc và đưa hồn người chết về nơi siêu thoát.

Ngày chôn cất làm lễ phát dẫn, thân quyến họ hàng đều đến đưa tang, gọi là tống tang. Cha mất thì con trai chống gậy trúc, mẹ mất thì chống gậy vông. Con trai trưởng bưng linh tọa đi lui, mặt nhìn quan tài. Con dâu, con gái lăn ra khóc giữa đường, tỏ lòng hiếu thảo, vài người thân thích đi bên linh cửu để hộ tang.

cheo-ba-traoNghi trượng đưa tang gồm có: bức hoành phi trắng ghi 4 chữ nho: “Hổ sơn vân ám, (cha mất), “Dĩ lĩnh vân mê” (mẹ mất), nghĩa là “núi Hổ mây áng tối, đỉnh Dĩ mây che mờ).

(Tục này xuất phát từ quan niệm trong Kinh thi: “Trèo lên núi Hổ ta trông ngóng cha. Trèo lên núi Dĩ ta trông ngóng mẹ” )

Ở Quảng Ngãi, nhiều nơi dùng nghi trượng đối với nam là “công bố”, “trung tín”, đối với nữ là “công bố”, “trinh thuận”.

Trong đám tang còn có minh tinh, ghi thụy hiệu người chết, treo vào cành tre như cây phướng: hương án bày giá hương, độc bình, đồ tam sự, mâm ngũ quả linh xa rước hồn bạch hoặc hình ảnh, bài vị, cờ chữ A, cờ công bố bằng vải trắng, tốt, dài 3 m dẫn đường cho linh cửu (quan tài) đặt trong nhà mả, có người rắc giấy vàng mã dọc đường.

Hiện nay tang lễ đã giản lược bớt. Khi đưa linh cửu, người ta thường dùng xe (thành thị). ớ nông thôn nếu không đi xe, cũng chỉ có bài vị, cờ trống; không còn tục con dâu, con gái lăn ra khóc giữa đường.

Huyệt mộ được thầy địa lý xem trước (xưa kia có tục xem thế đất để con cháu phát đạt) và phân kim chọn giờ hạ huyệt. Quan tài hạ xuống, con cháu, họ hàng thân thích, mỗi người ném một hòn đất đưa tiễn, nhà sư chờ lấp xong, tụng kinh xung quanh mộ. Mai táng xong, về nhà làm lễ ngu tế. Ngày thứ nhất là sơ ngu, thứ hai là tái ngu, thứ ba là tam ngu (ngu nghĩa là yên). Chôn được ba ngày thì làm lễ mở cửa mả, 49 ngày làm tuần chung thất; 100 ngày tế thần tốt khóc (thôi khóc); 1 năm làm lễ tiểu đường, bỏ đồ sô gai, gậy… ba năm làm lễ bỏ đồ tang phục. Sau đó hàng năm cúng giỗ vào ngày trước của ngày chết.

    d. Thờ cúng tổ tiên:

Mỗi dòng họ có một nhà thờ, gọi là mễ tộc (Trần tộc, Nguyễn tộc…). Nếu dòng họ đã định cư lâu đời, có nhiều chi phái thì ngoài nhà thờ chính ông thủy tổ cùng các đầu chi, các chi còn có nhà thờ riêng. Người cai quản nhà thờ và tế tự là chi trưởng nam (trưởng tộc). Mỗi gia đình thờ từ ông bà nội đến cha mẹ…

Bàn thờ: đối với nhà giàu thì làm tủ thờ cẩn xà cừ, khảm rồng phượng, nhà bình thường thì làm bàn thờ đơn giản, nhưng luôn được đặt ở chỗ trang trọng, tôn nghiêm nhất trong nhà. Ðồ thờ gồm: ảnh (hoặc bài vị, lư hưng, bộ đèn, bình hoa… nhà giàu còn treo hoành phải khắc đại tự kèm đối liễn hai bên ca ngợi công đức tổ tiên. Ðồ thờ là của gia bảo thiêng liêng, con cháu luôn thành kính giữ gìn, dẫu túng kiệt cũng không bán. Nhà thờ thường có gia phả, ghi chép danh tánh ngày sanh, tử (có khi ghi công đức, sự nghiệp của tổ tiên) theo thứ tự thế hệ.

Mỗi dòng họ, chi phái đều có ruộng hương hỏa dành cho trưởng tộc canh tác để lấy lợi tức cúng tế hàng năm. Dòng họ không có ruộng hương hỏa thì mỗi lần cúng tế, con cháu phải đóng góp tiền, gạo. Nhà thờ hàng năm có tế xuân và tế thu, con cháu tụ họp để nhận biết ngôi thứ, bà con trong dòng họ. Việc cúng tế không thể thiếu đĩa muối, chén gạo, chén nước, liễn trầu, quả cau, chén rượu. Mỗi năm có một ngày “giỗ họ” hoặc “chạp mả”, con cháu tập hợp lại, số đi tảo mộ, số lo việc cúng tế. Con cháu coi đây là dịp kính cáo với tổ tiên, cầu mong được tổ tiên phù hộ. Ðây cũng là dịp nhận mặt bà con cùng dòng họ, kết chặt tình huyết thống, tránh những sai trái trong hôn nhân, tranh chấp giữa những người cùng dòng họ.

2. Lễ hội và tín ngưỡng:

    a. Tết Nguyên đán:

Ba ngày đầu tháng Giêng âm lịch là Tết Nguyên đán. Tết này được tổ chức linh đình. Trước Tết, người ta sắm sửa quần áo mới cho con cháu, làm bánh, mua pháo, mua hoa… cúng tất niên. Ngày 23 tháng Chạp cúng đưa ông Táo. Cận kề ngày Tết thì gói bánh chưng, bánh tét, trang hoàng nhà cửa, lau chùi bàn th, bình chén, mổ heo, dựng nêu. Chiều 30 tháng Chạp (tháng thiếu là ngày 29) làm lễ cúng rước ông bà. Nửa đêm 30 tết đốt pháo giao thừa mừng năm mới, bày bánh trái cúng ông bà. Sau đó mỗi buổi sáng đều cúng ông bà. Ðến mùng ba đưa tiển ông bà 

Sáng mồng Một mừng tuổi những người trong nhà, rồi mang lễ vật về nhà thờ cúng tổ tiên, rồi mang lễ vật về nhà thờ cúng tổ tiên. Ngày mồng Hai và mồng Ba đi thăm bà con. Dân gian có câu “mồng Một nhà cha, mồng hai nhà vợ, mồng Ba nhà thầy”. Gặp nhau người ta thường chúc nhau “trường an vạn thọ”, “vạn sự như ý”, làm ăn phát tài”… tiếp đãi nhau bằng hạt dưa, bánh mứt hoặc ly rượu đầu xuân. Ngày mồng, hai nhiều người xem hướng xuất hành, hay lên chùa bẻ lộc đầu xuân, tin rằng có liên quan đến chuyện tốt xấu may rủi trong năm.

Trong Tết người ta thường tổ chức các hình thức vui chơi: lô tô, bài chòi, đánh bài… Ngày trước cuộc vui chi kéo dài suốt tháng Giêng, hoặc đến rằm tháng Giêng, hoặc đến lễ hạ nêu (mồng 7 tháng Giêng). Ngày nay, lễ tết chỉ trong 3 ngày, có nhiều hình thức vui chi mới, phong phú, lành mạnh.

Ðầu năm người ta kiêng nói bậy bạ, la mắng cãi cọ nhau, không làm tắt ngọn đèn trên bàn thờ, người có tang không đến nhà người khác… Từ tết Ất hợi ( 1995) tục đốt pháo được bãi bỏ để tránh lãng phí và tai nạn.

    b. Tết Thanh minh:

Tiết Thanh minh trời trong sáng, mát mẻ, vào tháng 3 âm lịch. Dịp này người ta đi tảo mộ tổ tiên, mộ vô chủ, từng gia đình cúng tổ tiên, làng tổ chức cúng mồ vô chủ.

    c. Tết Ðoan ngọ:

Ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch là ngày giỗ Khuất Nguyên (chết trên sông Mịch La, Trung Quốc. Với người Việt đoan ngọ là ngày giữa năm, sinh hoạt vui chơi, có tục hái lá làm thuốc đúng vào giờ ngọ.

    d. Tết Trung nguyên:

Vào ngày rằm tháng 7 âm lịch, theo đạo Phật là ngày lễ xá tội nơi cõi âm. Nhiều nhà đốt vàng mã cúng gia tiên. Nhiếu người đi viếng chùa cầu an cho gia đình.

Dân gian có câu “rằm tháng 7 kẻ quy người khiêng” ý nói giàu hay nghèo cũng phải thành kính với vong linh người đã khuất trong ngày này.

    đ Tẽt Trung thu:

Vào ngày rằm tháng 8 âm lịch, còn gọi là Tết trẻ em. Nhà nhà lo cho con cháu nhỏ tuổi có quà bánh. Nhà khá giả thì làm cỗ trung thu. Trẻ em chờ trăng lên rước các loại đèn lồng, múa lân, đốt pháo, kéo theo hàng đoàn, áo quần sặc sỡ. Ðội múa lân thường vào từng nhà múa chúc tụng. Ðịa phương nào cũng có nhiều hình thức vui chơi  cho trẻ em.

    e. Tết Hạ nguyên:

Tết này được tổ chức vào ngày rằm tháng 10 âm lịch, lúc thu hoạch xong vụ mùa. Dân gian có câu “rằm tháng 10, mười người mười quảy” ý nói nhà nào cũng cúng lễ Ðồ cúng thường là bánh xèo làm bằng bột gạo và thịt gà, vịt heo…

e. Hội đua thuyển :

Tổ chức vào ngày đầu xuân. Thuyền đua thường dài khoảng 10 m, đóng bằng gỗ tốt, có thể bảo quản lâu. Thuyền được cất giữ tại đình làng, đến ngày đua mới đem ra sử dụng. Thuyền có vẽ hình long, lân, quy, phụng (rồng, lân, rùa, phượng). Mỗi thưyền đua thường có 15 người, là những tay chèo khỏe mạnh, quen nghề sông nước, trong đó người lái giữ vai trò quan trọng trong thắng bại. Vùng hạ lưu sông Trà Khúc, sông Vệ, các xã của huyện Sơn Tịnh, Tư Nghĩa và đảo Lý Sơn đều có đua thuyền hàng năm.

dua-thuyen-tren-song-tra 

Hội đua thuyền trên Sông Trà Khúc

 

h. Hội ra quân đánh cá đầu năm:

Ngư dân vùng biển có hội ra quân đánh cá vào ngày mồng 3 tháng Giêng âm lịch. Các tàu thuyền đánh cá tập trung làm lễ. Chủ thuyền mặc áo dài khăn đóng rất trang trọng. Thuyền mang nhiều pháo, vừa chạy ra khơi vừa đốt pháo.

Ðánh xong mẻ lưới cá đầu tiên, họ quay vào vui vẻ chúc mừng nhau.

i. Thờ cá Ông:

lanng_ca_ong_ly_hai 

Ngư dân có tục thờ cá Ông (cá voi). Cá Ông hiền lành, có khi đỡ thuyền bị nạn, ngư dân tin đó là thần linh. Khi cá chết dạt vào bờ, ngư dân tổ chức lễ mai táng, cúng tế và lập đền thờ. Lúc mai táng và ngày rằm tháng 7 hàng năm có tổ chức, hát bá trạo, điệu hát phổ biến của dân vạn chài.

    k. Tôn giáo:

Ngoài thờ phụng tổ tiên và những người thân yêu đã chết, ngoài đức tin vào thần linh gắn liền với nghề nghiệp, một số dân Quảng Ngãi còn có lòng sùng kính đạo Phật từ hàng trăm năm trước. Ðạo Phật với thuyết từ bi hỉ xã, lấy ăn ngay ở thật làm đầu, không phân biệt giàu nghèo, thứ bậc, nên có sức lôi cuốn nhiều người. Ngoài một số ít người tu hẳn ở chùa, còn hầu hết thiện nam tín nữ thường đi chùa vào các ngày ràm, mồng một nhất là ngày lễ Phật đản và ngày Vu lan.

nha-tho-cu Nhà thờ cũ 

 

chua-tinh-hoiChùa Tỉnh hội Phật Giáo

 

 

Một số dân trong tỉnh còn theo đạo Thiên chúa, đạo Tin lành, đạo Cao đài với những đức tin khác nhau và nghi lễ thờ phụng khác nhau, cũng với ý thức hướng thiện, tránh điều ác.

(Theo Quảng Ngãi, Ðất nước – Con người – Văn hóa)