THẰNG BÉ ĐÁNH GIÀY NGƯỜI NGHĨA LỘ

Mấy ngày ngắn ngủi ở Sài gòn, tôi thường đến ăn tối tại một quán ăn gần khách sạn tôi ở, đi bộ chừng năm phút, có tên Nhà Hàng Thanh Niên, nằm phía sau nhà thờ Đức Bà. Một nơi tương đối yên tĩnh, khu vườn lộ thiên nhỏ nhưng với những khóm trúc dễ thương, và nhất là được nghe lại những bản nhạc tình ca -kể cả tình lính- của miền Nam thuở trước.Sài gòn dường như không kịp thở vào những ngày cuối năm. Ngoài đường tấp nập xe cộ và trên vĩa hè cũng kín cả người. Tất cả đều hối hả ngược xuôi, làm như tất cả không còn đủ thời gian để kịp “đổi đời”. Tôi thấy mình lạc lõng trong cái không gian ấy.Tốt nhất là tìm một nơi vắng vẻ ngồi một mình để suy tư và hồi tưởng về Sài gòn của một thời xưa cũ, mà bây giờ mơ hồ như chỉ còn trong cổ tích.

–          Chào chú, cháu đánh giày cho chú nhé.Tôi giật mình khi nghe một giọng rặt Bắc kỳ, chưa kịp quay lại thì ba chú bé đã đến trước mặt tôi. Thằng bé nhất và cũng đứng gần tôi nhất nhìn tôi gật đầu chào :

–          Sao chú ngồi một mình buồn thế? Trông chú hơi lạ. Chắc chú là Việt Kiều mới về thăm quê ?Tôi ngạc nhiên, không hiểu tại sao thằng bé biết mình là “Việt kiều”. Bởi tôi ăn mặc rất đơn giản. Có thể nói là đơn giản nhất so với những thực khách có mặt ở đây. Và mặc dù không ưa cái danh xưng “Việt kiều”này, nhưng thấy thằng bé lễ phép dễ thương, tôi giả tiếng Bắc đùa :

–          Chú ở nước ngoài về chứ không phải Việt Kiều. Thế ngoài ấy quê cháu ở đâu.-          Cháu ở tận Nghĩa Lộ – Yên BáiTôi nắm tay nó :

–          Thế hóa ra mình là đồng hương đấy. Chú cũng từng ở Nghĩa Lộ một thời gian lâu lắm.Thằng bé tròn xoe đôi mắt :

–          Chú cứ đùa. Trông chú chẳng phải người quê cháu.Tôi bèn kể một mạch về Nghĩa Lộ cho thằng bé nghe, từ con sông, con đường cho đến cái dốc Cổng Trời và cái thung lũng Hang Dơi nằm sâu trong vùng núi rừng cực bắc.Thằng bé ngạc nhiên thích thú, nhưng đôi mắt cứ nhìn tôi không chớp. Tôi bật cười, vổ vai thằng bé :

–          Xin lỗi cháu. Chú đùa cho vui. Đúng là chú từng ở Nghĩa Lộ gần năm năm. Nhưng mà chú bị tù cải tạo ngoài ấy.Cả ba thằng bé cùng nhao lên :

–          À, đúng rồi, con đường ô tô từ dốc Cổng Trời về huyện, bây giờ người ta vẫn gọi là Đường Tù Cải Tạo. Vì nghe mấy ông bà cụ bảo do các chú trong nam ra cải tạo đắp con đường ô tô ấy.

Ba thằng ở ba nơi khác nhau ngoài Yên Bái. Cả làng đang đói, nên rủ nhau bỏ quê vào miền nam kiếm sống. Khởi nghiệp là đi xin, sau đó cũng chạy theo “nền kinh tề thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, ba thằng chung vốn làm ăn, kiểu công ty hợp doanh. Một thằng bán vé số, một thằng bán báo, còn thằng bé nhất đánh giày. Vậy mà cũng sống thoải mái (dù chỉ trên vĩa hè) lại còn dành dụm tiền gởi về cứu trợ gia đình. Thằng bé nhất đang nói chuyện với tôi quê ở Thôn Thượng Sơn, thuộc huyện Nghĩa Lộ. Một cái huyện miền núi nghèo xơ xác, có thể là một trong những nơi nghèo nhất nước, nằm cực bắc tỉnh Hoàng Liên Sơn ngày trước, cách thị xã Yên Bái khoảng một ngày đường. Và cũng là nơi đã từng nhốt nhiều tù cải tạo từ miền nam chuyển ra, từ anh binh nhì TQLC bị bắt trận Hạ Lào, cho đến hơn ba mươi tướng lãnh, mà đa số đã không bỏ rơi đồng đội của mình vào giờ thứ hai mươi lăm.Đã hơn ba mươi năm, và bây giờ đang ngồi giữa thủ đô Sài gòn xưa, tôi cứ tưởng là mình đã quên rồi cái tên Nghĩa Lộ. Vậy mà hôm nay tôi có cảm giác như đang đứng giữa núi rừng Hoàng Liên Sơn, nhìn những thằng bạn tù – và thấy cả chính mình nữa – đang bị hành hạ, đói khổ khốn cùng.

–          Cháu đánh giày cho chú nhé. Cháu đánh để kỷ niệm, đề đền ơn chú đã từng đắp con đường ô tô cho quê cháu, chứ không phải xin tiền xin bạc gì chú dâu nhá.Câu nói hơi dài của thằng bé làm tôi bật cười, trở về thực tại. Tôi cười bởi nghe thằng bé rất nhà quê này xài hai tiếng kỷ niệm, và nói năng ra điều nghĩa hiệp.Mà có thể là nó nghĩa hiệp thiệt. Ngày xưa khi còn trong lính, sau mỗi lần hành quân về phố, tôi cũng từng quen, và đở đầu cho những em bé đánh giày. Tụi nó nghèo, ít học, nhưng biết yêu thương đùm bọc lẫn nhau, và chí nghĩa chí tình. Sau ngày ở tù về, trong lúc làm lơ xe, bất ngờ tôi gặp lại hai đứa đang làm bốc vác ở bến xe Tuy Hòa. Bây giờ là hai cậu thanh niên khỏe mạnh. Có điều sống dưới chánh quyền mới, “nhân dân làm chủ tập thể” nhưng hai thằng không có một mảnh dất cắm dùi, ngày làm ở bến xe, tối ngủ ở chợ. Nghề đánh giày cũng không còn. Không phải vì những thằng bé đánh giày giàu lên sau cuộc đổi đời, mà vì chẳng còn ai mang giày nữa để mà đánh. Vậy mà gặp lại tôi, hai đứa nhận ra, mừng rỡ như gặp lại người thân, vẫn một tiếng “anh Ba”, hai tiếng “anh Ba” như hơn mười năm truớc. Tôi tìm mọi cách từ chối, nhưng hai đứa bảo tôi nhất định phải nhậu với tụi nó một chầu, mừng cho cuộc trùng phùng này mới trọn nghĩa anh em. Khi chia tay, còn nhét vào túi tôi một mớ tiền nhăn nheo, bảo là gời quà cho các cháu. Tôi thực sự cảm động trước lòng thủy chung cùa tụi nó, trong lúc có bao nhiêu thằng vốn học thức đầy mình, nhưng mới một sớm một chiều đã trở mặt phản thầy phản bạn chạy theo nịnh bợ những thằng “cách mạng 30”, mà mới hôm qua hôm kia còn khinh rẽ là đám lưu manh, xích lô xe kéo!Anh tiếp thị của nhà hàng mang thức ăn đến và đuổi ba thằng bé ra khỏi quán. Tôi vui vẻ nói với anh là tôi mời ba cậu bé, rồi quay sang bảo ba đứa kéo ghế ra ngồi và gọi bất cứ thức ăn nào các cháu thích. Tất cả tròn mắt ngạc nhiên rón rén kéo ghế ngồi và mỗi đứa chỉ kêu một đĩa cơm chiên dương châu.Điều đặc biệt làm tôi lưu tâm tới thằng bé nhỏ nhất bọn này, bởi quê nó ở thôn Thượng Sơn. Một làng quê xa nhất của cái huyện Nghĩa Lộ đèo heo hút gió. Vậy mà có lần tôi đã đến đó và ở lại đó gần cả một tuần. Môt tuần duy nhất được no, được vui và hạnh phúc trong tám năm tù tội.Khi mới ra bắc, tôi được “biên chế” về trại 3 Hang Dơi. Sau ba năm đuợc chuyển vể trại 6 Nghĩa Lộ, nằm cách trại 5 của mấy ông tướng mấy cái ao nuôi cá trám cỏ.Sau một trận kiết lỵ, tôi chỉ còn da bọc lấy xương, đứng không vững thì còn sức ở đâu để mà biến “sỏi đá thành cơm”, nên được điều từ đội trồng trà sang đội “tăng gia”, tức là trồng rau, mà nhiều nhất là rau muống. Vào mùa đông, vùng Hòang Liên Sơn khá lạnh, nên các lọai rau không mọc ra được, đám chúng tôi phần đông chuyển qua trồng sắn, phát rừng, còn lại luân phiên nhau mấy toán, vào vùng núi mua thực phẩm, chủ yếu là cho “cán bộ trại”, chứ còn đám tù bọn tôi thì đã có “sắn” (khoai mì) để “khắc phục”.Toán bốn thằng chúng tôi, do một chàng vệ binh dẫn đi, kéo theo hai cái xe cải tiến (lọai xe đóng bằng gỗ giống như chiếc xe bò nhỏ) vào Thượng Sơn, nằm cách trại khoảng 60 cây số. Trong thời gian tù tội, những ngày được đi xa như thế này thật là hiếm hoi, hạnh phúc ghê gớm lắm. Chẳng khác gì người trong nước bây giờ được xuất ngoại. Ít nhất cũng được tự do hơn, ăn uống khá hơn, và nhất là được sống với dân để nghe họ nói những điều chân thật. Có một trùng hợp lý thú là trong bốn thằng tù bọn tôi đều có đủ bắc, trung, nam. Một thằng chính gốc Hà Nội 54, một thằng xứ Huế, một thằng Nha trang là tôi và một thằng nữa là dân Cần Thơ, nam bộ.Khởi hành từ sáng sớm, chiều chúng tôi đến làng. Nếu không đến đây có lẽ chẳng ai ngờ là giữa núi rừng xa xôi hẻo lánh này lại có một cái làng với khỏang một trăm nóc nhà nằm dọc bên bờ con suối lớn dưới những tàng cây che kín mặt trời. Vậy mà trông rất sạch sẽ và thơ mộng. Từ cổng làng, bọn tôi đã nghe tiếng chim hót líu lo hòa trong tiếng suối chảy róc rách giữa một vùng núi rừng tĩnh mịch.Bọn tôi được sắp xếp ở trong một căn nhà mái lá cọ, có vách bằng nứa, nằm dưới một tàng cây cao, sát bên bờ suối. Chủ nhà là một bà già trọng tuổi. Điều làm chúng tôi ngạc nhiên là trông bà không giống những người dân mà chúng tôi thường gặp ở vùng này, từ cách ăn mặc tới cử chỉ nói năng. Lúc nào bà cũng vui vẻ niềm nở với chúng tôi, trên môi lúc nào cũng có sẳn nụ cười.Thằng bạn tù gốc Hà Nội của bọn tôi quả quyết là bà nói đúng giọng Hà Nội, cái thời còn một Hà Nội thanh lịch. Trên vách, treo một tấm giấy khen với một cái tên cũng rất Hà Nội, không hợp với khung cảnh núi rừng này : “Bà Vương  Chu Khánh Hà “. Cái tên trùng tên một cô ca sĩ miền nam, làm chúng tôi dễ nhớ.Bà ở với người con trai, vừa làm y tá cho thôn, vừa làm rẫy, trồng thơm (dứa), trồng nhản. Một phần đất anh dành ra trồng rau và nếp nương. Anh nói năng hiền lành dễ mến. Đặc biệt rất thương và chiều mẹ.Ngày đầu tiên, bà chỉ cười chào bọn tôi, không dám đến gần “quan hệ”. Nhưng hôm sau, bà mua chuộc anh vệ binh và giới thiệu cô thợ may ở nhà kế bên cho anh ta, nên anh ta đóng đô luôn bên ấy. Bà cho chúng tôi ăn xôi, ăn thịt rừng, còn thêm đủ lọai trái cây bà mua được trong làng. Ở đây, ăn uống như thế là thuộc hàng “tư bản”. Ban ngày chúng tôi đi khắp nơi mua thực phẩm các lọai, chiều về lại nhà, kéo nhau xuống suối tắm, rồi đuợc ăn một bửa cơm “thịnh sọan”, bọn tôi có cảm giác như đang ở đâu đó trên thiên đàng.Đêm nào bà cũng mang đến một ấm trà tươi, ngồi tâm sự với bọn tôi tới khuya. Đúng như thằng bạn tù gốc Hà Nội nhận xét, bà dân Hà Nội chính tông. Ngày xưa gia đình bà giàu có. Vợ chồng làm chủ một hãng dệt lớn nhất nhì Hà Nội. Sau hiệp định Genève, chia đôi đất nước, chần chờ tiếc của, chưa kịp xuống tàu há mồm chạy vào nam thì bị đánh tư sản. Chồng bà chết trong tù, nhà cửa bị tịch thu, bà bị bắt buộc phải dắt theo hai đứa con, một trai một gái, đứa nhỏ nhất chỉ mới sáu tuổi, cùng một số “đối tượng” khác lên vùng núi non này, lúc ấy gọi là Khu Kinh Tế Mới Thượng Sơn.-          Ngày ấy, cả khu này chỉ là rừng thiêng nước độc. Chỉ ba tháng sau là con bé gái chết vì sốt vàng da, mà không tìm dâu ra một viên thuốc.Bà nhìn lên trời mơ màng, kể lại cho bọn tôi những ngày đầu mới đến, nước mắt chảy dài trên máSau đó, vì bản năng tự tồn, những người “Hà Nội lưu đày” (chữ của bà), ngồi lại, cùng bàn bạc nắm tay vượt lên số phận. Trong số những người lên đây, có nhiều thành phần, đa số là tư sản và trí thức. Với bộ óc và với kinh nghiệm trên thương trường, vậy mà họ đã tận dụng được để cùng nhau vươn lên trong chồn thâm sơn cùng cốc này. Dù nghèo khổ, ho vẫn giữ được cái tình, cái thanh lịch của người Hà Nội. Điều mà chính quyền cần họ phải gột rửa.Ngày tiễn chúng tôi đi, bà năn nĩ và đút lót anh vệ binh cho chúng tôi được nhận một kí nếp, một ít thịt rừng muối mặn, nhưng bị chối từ, mặc dù anh ta cũng rất quí bà. Cuối cùng để cho bà vui, anh vệ binh cho chúng tôi được ăn tại chỗ một bữa no nê, lần này còn có cả rượu nếp, do chính tay bà cất.Một tháng trước ngày rời Nghĩa Lộ, bọn chúng tôi ngày đêm phải đắp cho xong một con đường ô tô kéo dài từ Nghĩa Lộ lên tận dốc Cổng Trời. Chúng tôi thắc mắc không biết để làm gì, vì gần năm năm ở đây, thỉnh thoảng chỉ thấy vài người đạp xe đạp hoặc thồ ngựa trên con đường ngoằn ngoèo heo hút này. Đến ngày chuyển trại vào Nghệ Tĩnh, chúng tôi mới biết con đường này dùng để chuyển quân lên Lạng Sơn ngăn chặn bọn bá quyền Trung Quốc vừa xua quân tràn qua biên giới đòi “dạy cho người anh em một bài học”.   Hơn ba mươi năm, con đường “làm lại cuộc đời” của riêng tôi cũng thăng trầm, quanh co không kém, đã làm tôi tạm quên một quá khứ buồn thãm, dù tất cả vẫn còn nằm sâu chôn chặt tận đáy lòng. Bất ngờ hôm nay, thằng bé đánh giày gợi tôi nhớ lại. Có điều trong bao nhiêu đau đớn chất chồng cũng có đôi điều vô cùng đẹp đẽ, chẳng khác gì một đóa hoa nở trên sỏi đá, một cành lan mọc giữa rừng già, trên một thân cây héo khô cằn cỗi.-          Thế cháu ở Thượng Sơn có biết bà Vương Chu Khánh Hà. Bây giờ chắc cũng đã hơn tám mươi ?Tự dưng tôi buộc miệng hỏi thằng bé, để rồi ngẩn người ra khi nghe nó trả lời :

–          Ố, đó là bà nội cháu. Bà mất hơn năm năm rồi!Lòng tôi chùn xuốngThằng bé kể lại những ngày cuối cùng của bà nội, lúc ấy nó mới tám tuồi. Khi mà ở Hà Nội đầy dẫy quán bar và nhà hàng sang trọng, dành cho khách nước ngoài và những ông quan lớn, thì cái thôn Thượng Sơn này vẫn cứ nghèo xơ xác. Một số đã phải bỏ làng tìm về thành phố cũ, sống trước mái hiên nhà của chính mình ngày trước. Bà nội nó chỉ về đuợc một lần, đứng nhìn ngôi nhà của mình bây giờ đang là một khách sạn mấy tầng, mà chủ nhân là một ông ngồi trong Ủy Ban Cải Tạo Tư Sản ngày xưa, bây giờ đã là ông lớn, chức hàm cở bộ trưởng. Tài sản duy nhất còn lại của gia đình bà là ngôi mộ hoang của ông chồng, ngày xưa nằm trong một nghĩa trang ở ngọai ô thành phố, nhưng bây giờ nhà cửa mọc kín chung quanh. Cây cối và cỏ rác như muốn phủ lấp mộ phần. Bà phải ở lại đó mấy ngày mới dọn dẹp xong. Sau lần ấy, bà về nhà rồi ngã bệnh. Vợ chồng cậu con trai bán đủ thứ trong nhà, cùng với hảo tâm của mấy người hàng xóm, nhưng cũng không đủ tiền đưa bà đi bệnh viện. Trước khi chết bà chỉ ước ao duy nhất một điều là đuợc chôn cất bên cạnh mộ chồng dưới thủ đô Hà Nội, cũng là vùng đất của dòng họ qua bao nhiêu đời. Vậy mà cái điều ước ao trối trăn duy nhất đó của bà, cũng không ai thực hiện được, bởi cái nghĩa trang đó bây giờ nằm trong qui họach thành phố, tấc đất tấc vàng, không dễ gì mua được.Nghe thằng bé kể, nhìn nhà thờ Đức Bà trước mặt và nhớ tới bà, tôi lại thầm nghĩ là Thượng Đế đã không có mặt trên đất nước tôi. Thực ra điều này tôi cũng đã từng nói với mấy thằng bạn tù, sau tháng 4/75. Bởi nếu có Thượng Đế, sao ngài lại bắt dân chúng miền Nam, những người hữu thần, đã bao nhiêu đời hằng tin và thờ phụng ngài, lại phải vác cây thánh giá nặng nề, để tan tác điêu linh như thế. Lòng tôi thấy xốn xang và tôi nghiệp cho bà. Tôi thầm trách mình cũng chỉ là kẻ vong ơn, đã quên mất lòng tốt của bà trong những ngày mình vô cùng khốn khó. Mà lẽ đời là thế. Khi đã sang sông còn có mấy ai nghĩ tới con đò.Thằng bé lại nhắc tôi về chuyện đánh giày, đền ơn đáp nghĩa. Tôi đưa chân ra, cả đám cười ồ, tôi đang mang dép. Thằng bé lấy một tập báo đủ lọai trên tay thằng bạn, để trước mặt tôi :- Vậy thì chúng cháu biếu chú mấy tờ báo, về khách sạn chú đọc cho vui. Toàn chuyện mấy ông lớn tham nhũng ăn chơi tiền tỉ đấy!Tôi cám ơn và hỏi mua một xấp vé số. Trả tiền xong tôi chia đều cho ba đứa, coi như món quà may mắn, rồi hẹn ngày mai đến gặp tôi ở khách sạn, tôi sẽ dẫn đi chơi bất cứ nơi nào các cháu thích. Khi chia tay tôi ôm vai thằng bé đánh giày :

–          Ngày mai cháu nhớ đến nhá. Chú rất cần gặp cháu.Suốt ngày hôm sau, sau khi dắt ba thằng bé vào chợ Bến Thành mua sắm một số áo quần, cho các cháu một ít tiền, tôi thuê xe chở cả đám đi Vũng Tàu. Cả ba đứa đều mong ước được đến đây một lần cho biết thành phố biển nổi tiếng này, và cũng muốn xem “tình hình” để chuyển xuống đây kiếm sống, bởi nghe nói ở đây có nhiều khách ngọai quốc đến du lịch, hơn nữa ở Sài gòn càng lúc càng khó khăn, vì số trẻ em ( và cả nguời lớn ) từ ngoài bắc vào kiếm ăn ngày càng đông. Trong lúc ngồi trên bãi sau, tôi tâm tình thật nhiều với thằng bé đánh giày, kể cho nó nghe chuyện ngày xưa bọn tôi có lần đến ở nhà bà nội nó một tuần và được bà thương yêu giúp đỡ. Nó ngồi bên tôi nghe rơm rớm nước mắt, rồi dùng ngón tay viết tên của bà nội trên cát.Trên đường về lại Sàigòn, tôi ghé lại Nghĩa Trang Quân Đội cũ, nằm bên xa lộ Biên Hòa. Khó khăn lắm, phải hỏi thăm nhiều người, anh tài xế taxi mới tìm đựợc lối vào.Bức tượng Tiếc Thương đã từng tạo huyền thọai một thời, không còn nữa, nhưng Nghĩa Dũng Đài còn đứng sừng sững giữa những ngôi mồ hoang phế, im lìm. Tôi nghe trong gió như có tiếng oan hồn tử sĩ. Tìm đến ba ngôi mộ của ba thằng bạn lính cùng đơn vị cũ, mà chính tôi là người thân quen duy nhất chào tiễn biệt tai dây vào những giờ phút thứ hai mươi lăm của cuộc chiến, cùng với những người lính chung sự vẫn âm thầm tận tụy như từng bao nhiêu năm mai táng những đồng đội chưa bao giờ gặp mặt. Ba thằng bé phụ tôi hì hục dựng lại mấy tấm bia gãy đổ. Tôi ngồi trước những nấm mộ sụt sùi. Ba thằng bé chưa từng biết những gì đớn đau và bất công của cuộc chiến bắc-nam, cũng ngậm ngùi cảm động, trịnh trọng hứa với tôi sẽ thường xuyên rủ nhau đến đây để hương khói và chăm sóc các mộ phần.

–          Bạn đồng đội của chú chắc chắn là những người tốt.Ba đứa bé nói với tôi trên đường ra xe về lại Sài gòn, trong lúc tôi còn đang miên man về cách hành xử tàn tệ từ những con người không có trái tim, không còn biết thế nào là “nghĩa tử nghĩa tận” Về khách sạn, ba cháu xin được ở lại với tôi đêm nay, để khuya đưa tôi ra phi trường. Không ngờ những đứa bé từ một vùng núi non Việt bắc xa xôi lại chí tình với một người miền nam, và bây giờ chỉ còn là.. “khúc ruột ngàn dặm”, như tôiTôi lấy thêm một phòng, cho hai đứa kia, còn thằng bé đánh giày nhỏ nhất, ở cùng phòng với tôi. Trước khi đi ngủ, tôi cho thằng bé một ngàn đô la, bảo nó ngày mai mua vé xe lửa về lại Nghĩa Lộ, đưa cho ba má nó. Tôi viết một mảnh giấy kèm theo, bảo với ba nó tôi là một trong bốn người tủ cải tạo lúc xưa, và dùng số tiền này tìm mọi cách đưa bà cụ về Hà Nội nằm bên ông cụ như lời bà trăn trối lúc lâm chung. Tôi có cho địa chỉ để anh ta liên lạc. Tôi còn căn dặn thằng bé phải hết sức cẩn thận, vì các chuyến xe Thống Nhất bắc-nam sẽ rất đông người vào những ngày giáp tết. Nó tròn mắt nhìn tôi ngạc nhiên, rồi nắm chặt bàn tay tôi, nói ngày mai, sẽ may thêm một cái túi bên trong chiếc áo để khâu tiền vào trong đó.“ Kính thưa Anh,Vợ chồng em và chắc chắn là vong linh của mẹ em nữa, xin muôn vàn cảm tạ ơn Anh. Không ngờ chỉ có mấy ngày ngắn ngủi rất xa xưa, mà mãi đến nay Anh vẫn còn nhớ đến mẹ con em. Riêng em thì gần như đã quên chuyện ấy nếu không có anh nhắc lại hôm nay.
Giờ em mới nhớ lại, sau khi các Anh rời khỏi nhà em, mẹ em khóc mất mấy hôm. Bà bảo phần thì tội nghiệp các anh, phần thì nghĩ tới số phận oan khiên của gia đình em vào những ngày đảng vừa lên nắm chánh quyền. Bà bảo các anh và gia đình chúng em cũng cùng gánh chung số phận.
 Chúng em cũng xin báo tin để anh mửng, là với số tiền anh cho, chúng em đã đưa được mộ phần của bố em ra một nghĩa địa khác, trước khi chính quyền cho san bằng khu nghĩa địa cũ để xây đô thị. Khu nghĩa địa mới dù nằm khá xa thành phố nhưng sạch sẽ và yên tĩnh. Vợ chồng em cũng cãi táng phần mộ của mẹ em và đứa em gái ở Nghĩa Lộ, đưa về chôn bên cạnh bố em. Gọi là nghĩa địa, nhưng phải mua với giá rất cao. Nếu không có tiền của Anh cho, biết đến lúc nào chúng em mới thực hiện được lời ước ao trăn trối của mẹ em.Nghe đất nước đã đổi mới từ lâu, nhưng có lẽ chỉ đổi mới ở dưới những thành phố lớn, chứ cái làng Thượng Sơn của chúng em thì ngày thêm khốn khó. Rồi nay mai vợ chồng em cũng phải bỏ Thượng Sơn mà về Hà Nội, hoặc chạy thẳng vào Sài gòn. Có làm ô xin hay phải sống ngoài đường chắc cũng còn khá hơn.
Phân vân mãi, cuối cùng chúng em cũng phải báo đến anh một tin buồn. Thằng bé Khiêm con em cũng không còn. Trên chuyến tàu thống nhất ngày ba mươi tết hôm ấy, nó bị cướp. Không hiểu có phải bọn cướp biết đuợc cháu giữ số tiền lớn của anh cho, nên đánh để cướp. Nhưng dù bị máu me thương tích đầy người cháu vẫn hai tay ôm chặt lấy túi tiền khâu kỷ trong mấy lớp áo trước ngực. Bọn cướp tháo chạy trước khi có công an đường sắt tới.
Về nhà cháu tỉnh táo được một vài hôm, ăn tết với chúng em, kể lại chuyện bất ngờ gặp Anh, được Anh yêu thương và gởi cho chúng em một số tiền quá lớn,. Chúng em cứ tưởng mình nằm mơ. Nhưng chỉ một tuần sau cháu bị sốt nặng rồi hôn mê. Đem vào bệnh viện huyện, bác sĩ bảo cháu bị chấn thương sọ não. Cháu qua đời vài ngày sau đó.Bây giờ cháu cũng đang nằm bên cạnh ông bà nội, và cô út của nó, chắc cháu nó cũng được ấm lòng nơi chín suối. Chúng em tin là cháu sẽ mãi mãi theo phù hộ cho Anh trong những ngày Anh xa quê lưu lạc xứ người.Chúng em xin gởi đến Anh trọn lòng kính mến và lúc nào cũng cầu nguyện mọi điều tốt đẹp cho Anh cùng gia đình.Kính thưBố mẹ cháu KhiêmTrần Trọng An Bức thư tôi nhận được đúng một tháng sau ngày tết nguyên đán. Suốt cả đêm trằn trọc, tôi không biết có đúng là mình đã trả ơn Bà, hay là lại mang thêm tai họa đến cho gia đình Bà. Thì ra trong cái xã hội đang có nhiều ông lớn và đại gia giàu có, thì cái sinh mạng của những người nghèo khổ khốn cùng cũng vẫn chỉ là cỏ rác. Dường như tôi có nghe ai đó nói “cuối niềm vui nào cũng có xót xa, sau cuộc trùng phùng nào cũng có mầm mống của ly tan”.    
Phạm Tín An Ninh
  (vương quốc Nauy)

Advertisements

Mùa Đom Đóm

Mùa đom đóm
(chưa biết tác giả)

Một ngày cuối tháng 6, ngày cuối cùng thuyết trình để chấm dứt khoãng que-ngoaitrời Đại Học, tôi nhận được tin nội nhắn vào “bây có về được mùng bốn tháng này không con ? Thằng Khoa nó lấy vợ” Tôi chết trân “ông lấy vợ đấy hả Khoa? Sao lẹ vậy ông?”. Tôi đi thuyết trình luận án tốt nghiệp mà như đi trên mây, dự án trồng lúa thêm vụ mấy bửa hởm còn thông sáo, bây giờ như tơ vò, nhìn đâu cũng thấy cái dáng đen nhẻm, nụ cười hiền queo của Khoa. Rồi cũng xong, tôi lao về quê như một cơn lũ mùa Đông, không dám khóc mà chỉ im re.

-Mày với con Tía đi bưng quả cho nó nghen Nâu . Nó đợi mày về mấy hởm bửa rồi đó, đi ra đi vô chờ mầy về như gà mắc đẻ vậy đó.

Trưa, nội biểu tôi đem cơm ra chòi Vịt cho Khoa.

-Sao gần cưới mờ nó còn chăn vịt hả nội ? Ngày cưới mà đen thui đàng gái họ cười cho thúi mũi .

-Ờh, tao cũng nói vậy mà nó đâu có nghe, nó nói cưới vợ hay không cũng giống nhau, bầy vịt để đó nó không chăn thì ai chăn ? Lũ vịt mà đói lại đẻ trứng non hay tịt ngòi thì tiền đâu mai mốt mua sách vở cho bây .

Tôi nghèn nghẹn ở cổ , đi cưới người khác mà còn bày đặt lo cho tui. Ông đừng có dẻo miệng quá nghen . Nghĩ vậy chớ mang cơm thì vẫn mang cơm, tôi đi ra chòi vịt mà lòng như ngày mưa.

Khoa ngồi trên bờ đê, cạnh cái chòi vịt, mắt nhìn đâu xa lắc, tôi đến mà cũng chẳng hay .

-Ông Khoa, nội biểu tui mang cơm cho ông.

Khoa giật mình, hình như hơi sao đó, rồi mừng rỡ.

-Nâu về rồi hả Nâu ? Học sao ở trển mà ớm nhơm ớm nhách vậy Nâu ? Thôi để tui bắt con vịt bằm nhuyễn đổ bánh xèo cho Nâu ăn nghen .

-Lần nào tui cũng nghe ông nói một cái câu y chang vậy ? Thôi tui về đây, để vịt mà lo cho vợ. Lo cho tui chi, uổng của .

-Nâu ơi Nâu…

Tôi mặc kệ, bưng cái mủng không mà lảnh quảnh bước về, bấy khi , lúc nào tôi cũng đợi Khoa ăn xong rồi sẵn đem chén bát về rửa luôn thể, nhưng bây giờ, ai lòng dạ đâu mà ngồi đó coi ổng ăn, lòng dạ đâu mà ngồi đó trả lời hết câu quan tâm này đến câu quan tâm khác, lòng dạ đâu …

Ngày đãi bạn, thấy Khoa ăn bận áo sơ mi quần tây cười cười với đám bạn, cái mặt tôi héo như cái bánh tráng nhúng nước, héo như ngọn lang phơi nắng . Con Tía kéo tôi vô buồng, “chị Nâu buồn thiệt đó hả ? Tại chị học cao quá, ảnh hỏng dám mơ. Ảnh nói chị đi thành phố học, làm bạn tòan mấy người ăn bận óach thiệt óach, ăn nói “văn hóa”, lại mang giày Tây chớ hong có đi dép lào như ảnh. Hồi tháng trước, ảnh lùa vịt sang đồng trên, nửa đêm bị trúng gió, may có chị Thìn đi tìm vịt lạc thấy nên bắt gió, may sao thoát chết, ảnh mang ơn, má chị Thìn đánh tiếng, rồi nội dặm tiếng cho, thế là ưng nhau đó chớ “

Ai chứ con Thìn tôi biết rõ quá mà, hồi lớp 7 nó học với tôi, học thì dốt nhưng lanh tay lắm, lại xề xòa, giỏi giang việc đồng áng. Chắc lấy nó, Khoa sẽ có người đỡ đần việc nhà, có người nấu nướng đàng hoàng hơn. Hồi xưa, nó chịu Khoa lắm, cứ ỏn ẻn đi ngang nhà gọi “anh Khoa ơi, anh Khoa à” miết thôi . Đâu có như tôi, Khoa biểu đừng gọi Khoa bằng “ông” nữa mà tôi đâu có chịu, cứ mở miệng một ông hai tui . Hèn chi …

Rồi cũng tới ngày cưới, tôi với con Tía bưng quả cho Khoa mà lòng dạ tôi như rớt xuống sình. Tôi đâu có dám dòm Khoa đâu, hồi trước Khoa đánh tiếng thương mà tôi đâu có dám hó hé gì, tại định học cho xong rồi về quê giúp bà con làm lúa cho nó ra hồn hơn chớ một năm hai vụ có mà đói triền miên, sau đó mới dám ừ . Ai dè nó tưởng tôi làm cao, ưng bụng mấy đứa trên thành phố . Sao mà nó ngu, nội đem nó về từ 9 năm trước, ở cùng một nhà đáng lẽ biết tính tôi chứ . Tôi đậu Đại Học, nó rớt cái bịch, nội biểu nó lo ôn rồi thi tiếp, mà nó làm ra người lớn “để con lo chăn vịt kiếm đồng ra đồng vô mua sách vở cho Nâu, nội à, nó lên trển , con không cho nó thua kém đứa nào đâu”. Sau đó nó lo chăn vịt, dành dụm từng đồng sắm đồ, mua sách, mua vở cho tôi . Tưởng đâu nó cứ miết vậy, hỏng có để bụng thương ai hết, ngờ đâu ….

Đêm tân hôn của vợ chồng nó, tôi ra ngoài sân sau ngồi nhìn trời đất, sao mà nhớ cái hồi tôi khoái bắt đom đóm bỏ vô hộp coi nó sáng, đêm nào thằng Khoa đi bắt rắn, bắt ếch về thế nào cũng cho tôi vài con đom đóm lập lòe sáng trong cái hộp nó tự làm ; sao mà nhớ cái hồi tôi sốt, nó cõng tôi chạy xành xạch lên trạm xá, nó thức trắng đêm để thay khăn cho mát đắp lên trán; sao mà nhớ cái hồi cắt lúa, tụi con gái chòng ghẹo quá chừng chừng mà nó im re, nhìn tôi nói một câu lãnh nhách “kệ tụi nó hén Nâu”; sao mà nhớ ngày tôi lên xe đi thành phố học, mắt nó đo đỏ “lên trển giữ gìn sức khõe nghen, tui bỏ hộp cù là trong xách đó, nhớ trời lạnh lấy mà thoa kẻo bịnh nghen …” ; sao mà nhớ cái hồi tôi học về, nó chăn vịt tận đồng Xít mà ngày nào cũng dỏng chân về ngang mấy bận, bắt theo con vịt thiệt mập “nội à, con Nâu nó ưng ăn bánh xèo, nội bằm vịt đổ cho nó ăn nghen nội”….

-Vô ngủ đi kẻo muỗi cắn đó Nâu

Tôi giật mình, chùi thiệt lẹ giọt nước mắt ,

-Trời, đêm tân hôn ông ra đây chi, có đi vô không vợ ông giận bây giờ đó nghen .

Cái tiếng “vợ” sao mà cứ sóng sánh váng vấp trong lòng tôi, cứ như ly nước muốn đổ nhào xuống vậy .

-Thi xong chưa Nâu ? Có đạt không Nâu ? Có thiếu tiền gì không để tui liệu trước .

-Ông đi vô đi, tui thi xong hết trơn rồi, tui định …

-Định sao ?

-Định về xã làm , tui định sống đời sống kiếp với cái đất Quảng này, mà chắc …

-Ủa, chớ hỏng phải học xong là Nâu ở lại thành phố với thằng đó hả ?

-Thằng nào ? Tui chỉ có thằng chăn vịt của tui thôi . ( Trời ơi, tự dưng tôi bạo miệng lạ )

-Đừng chọc tui mà, tui nói cái thằng lúc trước mà Nâu dẫn về chơi đó

-Trời đất, bộ ông tưởng tui khùng hả ? Nó về coi để làm đồ án đó cha, ai mà thèm mấy cái đầu bóng láng, áo quần se sua đó.

Tự dưng nhớ lại, hồi đó tôi tức vì Khoa cười cười với con Huê nên nói chơi để dọa thôi mà, ai dè nó tưởng thiệt .

-Hai đứa bây làm gì ngoài đó,

Nội ở đâu lọ dọ bước ra .

-Thằng Khoa đi vô ngủ đi, bây để vợ bây một mình vậy đó hả ? Đêm đầu tiên nhà chồng, đừng để cho nó tủi thân nghe con . Đi vô nhanh đi, cho tao có cháu tao bế .

Tự nhiên Khoa ngượng ngịu, lo lắng ngó tôi một cái thiệt nhanh rồi cúi mặt xuống đất “nội kì quá”

Tôi sẵn giọng, -kì gì mà kì, nội nói đúng đó, ông đi vô đi, ở đây nhiều chuyện, tui ngán quá .

Chợt tiếng con Thìn ỏn ẻn nơi cửa buồng vọng ra “Anh ơi, vô ngủ”, nghe ngọt ngào quá mạng. Tôi chợt thấy rờn rợn ở sống lưng, miệng lẩm bẩm một mình “lạ thiệt, sao bửa nay đom đóm ngoài bụi mía nhiều vẫy hỏng biết.

Quê Ngoại Một Thời Vang Bóng

QUÊ NGOI, MT THI VANG BÓNG                                

“Hn quê theo ngn mây Tn xa xa..” (KIU. ND)

mai-tranh1Cho đến khi tôi ln lên, đã đi hc trường làng, đã biết rung đng, ông và bà ngoi tôi không còn na. Nhng điu gì tôi biết sơ sài v ngoi là do M tôi lúc ri rãnh ngi k li. Tôi ý thc được M tôi dù lúc by gi đã có bn năm mt con, đã có trách nhim vi mt gia đình, mt h tc ln vn còn nhiu quyến luyến vi quê mình. M tôi thường nhc đến ông ngoi vi tt c mt tm lòng trân trng sâu sc, cm mến nh đến nhng nghiêm khc ca ông, mt ông đ già có hàng trăm môn sinh. Trái li vi bà ngoi, M tôi thường nhc đến s ngt ngào nh nh trong c ch, trong li nói, trong dy bo. M thường d d, nhp nhp cái roi gác mày ca và cười cười nhc li c ch ca bà ngoi. M nói chưa bao gi b ngoi đánh mt roi cho dù là mt roi nh. Ti tôi cũng chưa bao gi b m đánh, có l m hc tính nết ca bà ngoi, ch la ln tiếng là các con đã biết s ri. Tôi ch khc ho hình nh ca ông ngoi tôi như bài thơ ông đ già ca Vũ đình Liên cũng áo the thâm, khăn xếp, cũng qun vn, cũng giy hng điu, nghiên mc tàu đen nhánh. Và bà ngoi tôi, mt bà già nhà quê chân chì ht bt, th chng nuôi con, qun lý giang san nhà chng cũng như m tôi bây gi vy. Trong xã hi phong kiến đang thnh thi, nhng căn bn giáo dc cn có ca mt cô dâu trung mt h tc ln có nhiu chi phái, m tôi nói bà rt vt vã khi v nhà chng. Ông ni tôi có đến ba bà v. M tôi làm dâu bà ba, bà nh nht nhưng li là bà chính vì hai bà kia đã qua đi. Bà ni ca tôi không kht khe lm nhưng là người đàn bà nguyên tc. Và cũng chính cái nguyên tc cn có bà chn làm sui gia vi ngoi tôi. Hai gia đình sui gia ch cách nhau vài ba cây s, nhưng th nhưỡng quê ngoi ca tôi có khác. Đt vườn quê ngoi là đt bi cát pha còn mưa còn nước hết mưa hết nước sch khô. Đt thích hp trng mít cho nhng qu tht sai, tht ngt. Vườn ngoi tôi trng nhiu mít, bui và i là nhng thc trái cây gi mi s tc mch và trèo leo ca tr con.  Anh em chúng tôi theo m v ngoi đôi ln ly làm thích thú vì bên ngoi hay nuông chiu k c my người anh ch em cô cu ca chúng tôi. Cu Hai tôi mến các anh em tôi và chúng tôi vòi cái gì cũng được k c vic đi tm ngoài mt con sông mà cu dn đi. Nhà ngoi tôi ln trong xóm. T con đường tư ích r vào phi qua nhiu khúc quanh, anh em chúng tôi v quê ngoi ăn gi thường sn sác đi lc vào my ngõ kit rt ging nhau. Vn nhng hàng rào chè tàu thng tp cao ngang đu ca chúng tôi. Đu sân là mt khung ngõ bng cây bt cun, ct xén cn thn, có hoa bt hoc hoa giy đ bn mùa. Sau hai hàng rào chè tàu là hai hàng cau cũng thng và cao. Vào trong sân trong là mt vuông h cn xây bng gch không ln quá bn mét vuông th sen và bèo dâu. Trên thành h là vài chu bùm sm bc hình hc, vài chu long x có hoa đ nh bng mút đa. Nhà ngoi tôi, nay thì cu Hai tôi qun th ch khác my nhà trong xóm là nhng câu đi ch nho viết trên giy hng điu dán theo ct hàng hiên. Ông ngoi tôi chết có l đã quá lâu nhưng nét ch ca ông viết mc còn đm du bìa giy có ch đã sn. Ông tôi chết, cu Hai tôi cũng ni nghip cha: chi, h, gi, dã nhưng khn ni đã đến lúc bút st thay cho bút lông, cu Hai tôi không có duyên sư đ, lũ nh sau này đi hc ch a,b. Tuy vy, lp người cũ vn còn trng vng ch thánh hin, coi ngày coi tháng, coi bói coi khoa, câu lin câu đi hiếu s đến vic tho t sính l, viết t khế bán đt thy đu còn dùng ch nho. Cu tôi vn còn có ch đc dng. Bao lâu còn nhng nhu cu như thế, cu Hai tôi sng nhàn h mt đi. Nhng hiu biết ca cu Hai tôi là s đc t ông ngoi tôi. Tôi không nghe nói cu Hai tôi đi thi, t đó tôi suy lun ra cu cũng là loi bt phùng thi, hc hành làng nhàng may mà không “ cha làm thày con bán sách ” Cho nên, cái truyn thng ca dân tc Vit-nam nó bt ngun t cái đơn sơ cha truyn con ni như thế. Ông ngoi tôi đã chết, cu Hai tôi được truyn tha cho nhng s kiến không biết đến đâu nhưng uy tín ca ông ngoi tôi  giúp cho cu Hai tôi tiếp tc làm thy. Thy dy ch nho tt nhiên là không th na ri, nhưng cu  là thy lý bc, thy tướng s nh vào my quyn sách đã ph bi ca ông ngoi tôi đ li. Đám tang nào cũng mi cu Hai tôi đi xem huyt m, viết bài v, đnh ngày xây m. Đám làm nhà mi nào cũng mi cu Hai tôi đi xem hướng phân kim, coi ngày b đòn dông, tt nhiên là cu Hai tôi kiêm luôn vic cúng khai trch.Và cũng tt nhiên đi cúng v cu có con gà luc gia ch làm quà trong tay ni. Cu Hai tôi ch cười xoà nhe hàm răng nhum đen, giơ tay cng vào đu tôi khi tôi đùa vi cu quá trn “ Hòn đt mà biết nói năng… ri sao na hã cu? Tôi không nói tiếng xin li cu Hai tôi ngay vì tr con chúng tôi lúc by gi chưa có thói quen mau ming như vy nhưng đã l li nên hi hn lm. M tôi và sau này đến v tôi phc cu Hai tôi hết mc bi cu ch bm trên bàn tay, nhóp nhép trên ming mà vic gì cu Hai tôi nói cũng đu trúng phóc. My người mt ca đến nh cu , cu Hai tôi đu hi k có nh là mt lúc nào không? Ri cũng ch trên mt bàn tay sè ra, cu đưa ngón tay cái tính ti tính lui tng đt tay ri phán chc là ca y không mt, ngày đó gi đó s có tin. Thế mà y như là, cu tôi có ma mách nói đâu trúng đó. M tôi hc theo cách nói ca cu tôi, bà nói : m ba nhà by, có nghĩa là tng táng m phn thì trong ba năm mi biết chc m yên m đp, con cháu bình yên còn làm nhà mi phi đến by năm mi chc yên đnh nghip. y, theo cu tôi nó là thut v “dương cơ âm táng” cũng như các vic kia là mt môn toán hc mu nhim, phước ch may thy, ch có âm đc, thy có t phù. Cu tôi nói tiếp, con người ta ăn phi có nhân đc  Có nhân đc, tri mi cho có phước nghip giàu sang. Lúc y còn nh chưa hiu được  ý nghĩa cao sâu ca đo làm người, nhưng nhng điu gì cu Hai tôi nói như rót vào tai, tôi chăm chú ngi nghe và dn nghim thy li cu đu đúng. Tôi không hiu vì  sao cu có quan tâm nhiu đến tôi. Cu tôi thường nói vi tôi s mày là s ly hương. Có ly hương mi nên cơ nên nghip. Năm y tôi đã mười chín hai mươi, vn cao ngo là mình theo tây hc coi thường nhng s suy nghĩ không có cơ s khoa hc. Du vy cũng đã manh nha có nhng ý tung mi xây dng đi mình. Cu li còn nói sau khi tính trên đt my ngón tay, s con phi có hai v thì v chng mi ăn đi kiếp vi nhau bn lâu. Có điu v ca con đa nào cũng m côi không cha thì m. Tôi nhm trong đu không nói ra nhưng c hai điu cu Hai tôi nói đu nghch vi ý tôi, tôi cho là trt hết. Th nht, cha m tôi có con đông, theo l tôi tách quê hương bn qun xa cũng được, bám làm chi cho cht đt cht c nhưng lòng tôi không mun xa cha m anh em đi xa. Còn vic v con, không ai mun “mt vò hai gáo” và c hai bên cha m đu song toàn thì mi là thun cnh. Tôi không ng điu này cu tôi nói chc nch. T người bà con làm mi cho đến người bn bè làm mai, người gn ri đến người xa đng đến đâu tôi cũng đu gp con m côi c. Tôi git mình e chng s mình phi  vy. Tôi có v ri làm nhà ring, c như là chuyn phim tun t din ra th lp như li cu tôi khuyến cáo. Tôi khoán công cho người ta, đến ngày đó thì lp. Cu Hai tôi biết được bm đt tay, vi vàng gic cha tôi đi b nhng trên mười cây s đnh ngăn tôi hoãn li ngày lp vì nhm ngày phát ho. Hai người đến nơi thì nhà lp đã gn xong, cu tôi đành làm thinh. Tôi ngôi nhà thoáng mát y đã được năm năm, nhà mt bên b bà ho viếng nhưng nhà tôi thì bình yên. Tôi chc là cu tôi phi có sai mt ln. Năm sau, tình hình bt an tôi chuyn cư v li quê cha, bán li ngôi nhà cho người hang xóm giá nh. Tôi không ng ln này cu tôi cũng li trúng phóc. Chng là Vit cng thm tht ln chiếm, quân đi đng minh Hoa kỳ m cuc hành quân to thanh, trên đường rút quân qua trước khu nhà cũ ca tôi b Vit Cng bn s ch năm  phút sau thì c mt dãy nhà tranh trong đó ngôi nhà cũ ca tôi b phi pháo cháy tit. Cm thương cho người ch mi, tin còn thiếu tôi không đòi. Nh li cu Hai tôi, tôi cm thy mình có d phn trong s phn mt mát này.          Cũng trong năm đó, tôi đang là mt công chc nh ăn lương ngch phù đng (flottant). Toàn quc có cuc thi vào ngch công nht (journalier), tôi chun b bài v quyết chí giành cho được kết qu. V tôi đang lâm bnh nhưng khuyến khích tôi yên tâm ra đi. Tôi có t tin vào kh năng ca mình và như người ta nói hc tài thi phn, tôi có phn thi đâu đu đó vì cu tôi nói cung mnh lá s t vi ca tôi có hóa khoa, hoá quyn chu. Trước khi đi đ cho có thêm nhu khí, tôi đp xe v thăm cu tôi và xin mt bói Khng Minh. Cách bói nào cũng có tính cách huyn nhưng bói Khng Minh có v toán hc văn minh. Cu Hai tôi b d công vic, đng dy đi ra mt, ra tay ri mc áo dài t tế.Cu thp hương vái vào khong không, ngi xung ngay ngn. Cu dy tôi vái thánh ri viết cho cu ba ch nho, ch nào cũng được. Quyn sách Bói Khng Minh ca cu cha toàn ch Hán mà tôi  ch đc được lõm bõm mt vài, c mt nhóm ch li đến mt khuyên tròn. Cu tôi va viết li va đếm số nét của từng chữ một của tôi viết để có một hàng ba chữ số. Đó là con số căn bản vận hạn và là chữ đầu của một bài thơ. Từ đó, cọng với một con số khác, một con số huyền nhiệm tựa như số bi  và bài tính cộng sẽ cho một chữ thứ hai lần theo số trang. Cứ thế liên tục bài cọng thứ hai cọng với số bi cho kết quả chữ thứ ba cho đến khi nào kết quả của bài toán cọng cuối cùng rơi vào cái khuyên tròn là hết chữ, hết bài. Những cái huyễn hoặc trong lý số Á-đông tôi cho là huyền nhiệm, đại loại như phép bói thơ Khỗng Minh như trên. Khỗng Minh thì nhiều người nghe danh tài. Ông là quân sư cho Luu Bị, rành nhâm độn, giỏi binh cơ, biết hô phong hoán vũ, mưu mẹo minh tu Sạn đạo ám độ Trần thương, thất cầm Mạnh Hoạch. Thì sá gì cái chuyện cỏn con của tôi ông ta không tính được. Tôi thành tâm khấn nguyện ước của tôi là xin thánh mách cho biết đi thi có kết quả ra sao. Bài thơ mà thánh cho tôi cậu Hai tôi đọc đi đọc lại nhiều lần:  “ Vân hoành sơn tế thủy mang mang    Thiên lý trường đồ vọng cố hương    Kiễn ách sự lai quân mạc hận    Ỷ môn tù trướng lập tà dương “ Cậu Hai tôi trầm ngâm một hồi rồi mới nói : Con nghe bài thơ chắc đã hiểu ý thánh rồi chớ. Con đi thi kỳ này chắc chắn là đậu thôi. Cậu tôi dừng lại. Nhưng mà đậu rồi cũng như không. Kiễn ách sự lai quân mạc hận. Câu đó hàm ý con sẽ có việc rắc rối, nhưng mà thánh đã khuyên là con không nên buồn. Trên đường về, tôi nhẫm đọc lại bài thơ, cái khí thơ buồn buồn não não! Đi thi mà vợ bị bệnh không vọng cố hương sao đuợc, chiều tà vợ không tựa cửa  chờ trông sao được. Tôi đã định bỏ cuộc nhưng cái tánh ngang bướng cố hữu lại giục tôi đi. Tôi đọc lại câu đầu:“ Vân hoành sơn tế thủy mang mang…” dịch nôm na là mây giăng đỉnh núi mưa mịt mịt.  Không là cái cảnh “bình minh nắng giọi…“ nhưng gợi lên sự trù phú sinh động.  Câu đầu như vậy đã vẽ lên hy vọng rộn ràng. Hoá ra tôi đậu thật còn đậu khá cao. Trong 3.000 thí sinh cả nước chỉ lấy đậu có 100, anh tôi cùng thi một khoa đậu thứ 21 còn tôi thứ 36, thế nhưng chỉ không đầy một năm thì quả tôi có gặp rối rắm vì bị vu khống. Còn kết quả cuộc thi tuyển về sau cũng không đi đến đâu cả.Từ người thủ khoa cho đến người thứ 99 chờ mãi vẫn không thấy đỗi ngạch, duy có người chót bẹt thứ 100 được bổ dụng ngay.  Đang làm hành chánh, có lệnh động viên sĩ quan trừ bị, tôi vào quân đội. Ra trường, đuợc ưu tiên chọn đơn vị. Tôi chẳng nhớ và cũng chẳng màng chuyện “xuất xứ ly hương” để có con đường thênh thang tấn phát. Tôi lại chọn về phục vụ ngay trên chính quê hương của mình, chữ quê hương theo nghĩa chật hẹp. Trước khi bị điều động đi ngoài tỉnh, tôi cũng có dịp dẫn đơn vị nhỏ của mình băng qua quê ngoại. Nhận lệnh, hành quân, băng gò, lội qua con sông nhỏ còn nhớ chân tôi có lần dẵm lên cát trắng, rồi tràn vào xóm, rồi băng đồng đến tận chân núi. Một vài cuộc hành quân không chạm súng nhưng vùng đất có khoanh vòng chì mỡ trên bản đồ hành quân vẫn thường gặp tên quê ngoại của tôi. Mãi mấy năm sau khi tiếng súng đã thưa tôi mới có dịp về gần nhà. Mẹ tôi lúc này đã già lắm. Hình như càng già mẹ tôi càng nhắc nhiều về quê ngoại, có lẽ mẹ không quên một thời ấu thơ đầy ắp kỷ niệm với bạn bè, với mấy người chị em bạn dì đến lúc đó đã già hết cả rồi. Có lẽ mẹ cũng liên tưởng đến ngày chia tay. Tôi về thăm mẹ và định bụng về thăm cậu Hai tôi như là hồi tưởng và hoài niệm quê ngoại tôi. Mẹ tôi nói trong nước mắt, cậu mất đã hai năm rồi. Trong thời buổi chiến tranh, cái chết như cận kề. Tôi đã từng vuốt mắt cho  chiến hữu, có mặt phút hấp hối của những người thân nhưng nghe tin cậu Hai tôi mất, tôi thấy hụt hẫng và cảm thấy thiếu sót với cậu. Tôi trở lại con đường xưa. Con đường không phẵng phiu như ngày còn bé Những ngã rẽ đi vào xóm, những mái nhà tranh sao thấy xác xơ. Thôn xóm này, một thuở yên bình trù phú nay trông eo xèo như người mới ngủ dậy, ngỡ ngàng trước những đỗi thay từ đâu ập tới. Các anh chị em con cô con cậu của tôi người nào cũng già trông thấy. Tuổi xuân của họ bay đi, sớm va chạm những biến cố cuộc đời cay nghiệt. Bàn thờ tiên liệt họ ngoại của tội, tàn hương bám đầy trên cái kệ gỗ tam sơn. Chiếc ảnh bán thân của cậu Hai tôi đã ố vàng phân nửa. Thời gian chết tiệt chưa bao lâu nhưng đã có quá nhiều đỗi thay xoáy sâu vào cội rễ gia đình. Nhìn bức ảnh cuối đời của cậu, tôi hình dung lúc sau này cậu sống trong sự thiếu thốn, không làm ăn gì được vì phải chạy giặc. Người chết may có chỗ vùi được mảnh xác thân đã là quí, có thì giờ đâu mà xem huyệt, xem giờ. Những ông thầy như cậu Hai tôi hết thời. Nhưng tôi luôn nhớ cậu thường nói tiếng an bần lạc đạo. Nhắc đến chuyện ân nghĩa, đạo lý ở đời cậu thường ngâm: “ Thanh bần hữu ý đa nhơn hội “ Trọc phú vô tình thiểu khách lai.”  Cậu tôi quan niệm, ở đời phải có bạn bè. Mà bạn bè cốt ở cái chân tình. Dầu nghèo thanh bạch, có tình có nghĩa ắt có nhiều người kết thân. Trái lại anh giàu mà giàu bất lương còn khô khan keo bẩn khó có người lui tới. Chiến tranh đã lan tràn đến cả những nơi yên tỉnh nhất. Cái triết lý sống đơn giản như vậy, cậu Hai tôi cũng không thực hiện được suốt đời. Ngày nay, tôi còn “ ly hương “ xa tới tận chân trời. Nghĩ về quê hương, về quê ngoại một buổi thiếu thời, những cuộc đỗi đời chỉ ghi đậm những cảm tình chua chát, thật khó tìm lại được nét đẹp chơn chất quê nghèo.

Người Con Dâu Của Nước Mỹ

Người Con Dâu Của Nước Mỹ

(Lưu Hồng Phúc)

 

LGT: Bài viết vô cùng cảm động sau đây của quả phụ một sĩ quan QLVNCH, kể về một mối tình thời chiến tranh Việt Nam giữa chị ruột của tác giả với một người lính Mỹ, đã hy sinh trong cuộc chiến. Hơn ba mươi năm sau, tưởng nhớ công ơn người anh rể đã hy sinh cho quê hương, tác giả ghé thăm bức tường đá đen ghi danh 58,000 tử sĩ Mỹ trong chiến tranh Việt Nam… Không ngờ, tại đây, bà tình cờ gặp bố mẹ của người anh rể cũng đến viếng thăm con, và qua câu chuyện, tác giả đã giúp ông bà nội người Mỹ tìm thấy người con dâu Việt và đứa cháu nội chưa từng biết mặt…
*
tuong-dai1Tháng tư thường cho tôi nhiều nỗi buồn và nhớ. Buồn vì từ đó ta làm thân mất nước không nhà và nhớ vì trước đó có quá nhiều kỷ niệm không bao giờ còn tìm lại được. Giữa lúc lòng tôi đang chơi vơi thì chị bạn rủ theo đoàn nguời về thủ đô Hoa thịnh Đốn để coi hoa Anh Đào nở và nhất là đi thăm bức tường đá đen, ghi lại tên tuổi của hơn năm mươi tám ngàn tử sĩ Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, đã bỏ mình để bảo vệ tự do của miền Nam xưa. Với tôi đó là một dịp may đến thật tình cờ.
Tôi vẫn thường nghe nói về vườn hoa Anh Đào mà vương quốc Nhật tặng cho nhân dân Mỹ khi xưa ở thủ đô, đang khoe sắc mỗi độ xuân về. Thật như thỏa tấm lòng vì cả hai, được nhìn những cành hoa mà cả một thời tuổi trẻ ước mơ và đến tận nơi bức tường đá đen để tìm tên một người đã là điều tôi mong muốn từ lâu. Thế nên tôi thu xếp hành trang vôi vã đi ngay. Hơn hai mươi bốn giờ ngồi trên xe theo nhóm người du ngoạn đã đưa tôi từ miền Texas xa xôi về tới thủ đô. Con đường Ohio chạy dọc theo bờ sông Potomac hoa Anh đào đã nở rực rỡ một màu hồng phơn phớt trắng. Hơi lạnh đầy trong không khí của một mùa đông dài còn sót lại, vương qua mùa xuân, đọng trên những cánh hoa dọc theo con đường Constitution dẫn đến bức tường đá đen nằm kia, trầm mặc u buồn.
Tháng Tư, hoa đã nở từ lâu. Xác hoa rơi lả tả làm hồng cả một khỏang không gian quanh những con đường chạy dọc theo công viên. Hoa Anh Đào thật đây rồi, những cánh hoa mà tươi xinh ngày xưa tôi chỉ được nhìn thấy trong phim ảnh rồi thầm cảm mến những kiếm sĩ của xứ Phù tang, cô đơn vung đường gươm, để hoa rơi trong tuyết lạnh, thì hôm nay đang rực rỡ khoe sắc trước mắt tôi đây. Tôi tách ra khỏi nhóm người đi bộ một mình dưới những tàn cây. Tôi vẫn thích đưọc đi một mình để nhớ về những ngày tháng đã dần qua.
Ngày xưa chưa mất miền Nam gia đình tôi đã có một cuộc sống ấm êm hạnh phúc. Chồng tôi, một người lính trận, mỗi lần về phép thường hay cùng đi với một quân nhân Mỹ, cố vấn trong đơn vị. Hai người cùng làm việc, cùng chung sở thích và ý nguyện nên rất thân nhau. Thuở ấy tôi không biết nhiều về đất Mỹ như bây giờ nhưng qua lời anh diễn tả, cũng đủ hiểu rằng người lính Mỹ ấy đến từ một vùng quê xa xôi miền trung bắc Hoa Kỳ. Ngoài cái vẻ bên ngoài rất tài tử, râu ria xồm xoàm vì những ngày tháng lăn lóc trong chiến trận chưa kịp cắt tiả thì Mike Wright thật nhân hậu và hiền lành. Tôi cũng ngạc nhiên với tấm lòng rộng lượng hồn nhiên của nguời Mỹ. Họ đã mang biết bao nhiêu tài sản, cả sinh mạng khi đến giúp đất nước tôi, hòa nhập vào đời sống người dân bản xứ, tươi vui trong cuộc sống. Bởi thế, anh chàng râu tia xồm xoàm Mike chiếm được cảm tình của gia đình, nhất là bà chị lớn chưa chồng của chúng tôi ngay. Chuyện tình của một người lính viễn chinh từ một đất nước xa xôi với người con gái Việt Nam còn nguyên nền nếp gia phong diễn ra thật êm đềm hạnh phúc với một đám cưới đậm chất phương Đông. Chị tôi khăn đóng, áo dài bên cạnh anh Mike cũng áo dài khăn đóng. Trông họ cũng thật vừa đôi.
Từ đó tôi không còn cô đơn trông ngóng hằng đêm mà có cả chị tôi là kẻ đồng tình, đồng cảnh. Chúng tôi đã có những ngày đợi chờ trong lo lắng, đã có những ngày đoàn viên trong hạnh phúc. Những tháng tươi vui của một thời son trẻ tưởng như không bao giờ dứt cho đến một ngày kia. Tôi không quên được cái ngày người chỉ huy hậu cứ tiểu đoàn đích thân đến báo cho tôi biết là chồng tôi và đơn vị của chàng không về nữa. Cả người cố vấn Mỹ dễ thương đang là anh rể của tôi cũng cùng chung số phận. Một đơn vị oai hùng, thiện chiến, tưởng như là không bao giờ thua trận đã nằm lại đâu đó trên vùng đất Hạ Lào của mùa hè khói lửa. Tôi và người chị, ngày ấy thực sự bị cuốn vào những cơn ác mộng, nhất là khi chị tôi biết được rằng mình vừa khó ở, chưa thông báo cho Mike biết về đứa con vừa thành hình trong bụng chị.
Sau khi miền Nam lọt vào tay phương Bắc là một quãng đời địa ngục trần gian đến với chúng tôi. Nhất là chị với đứa con lai đã hứng chịu trăm đắng ngàn cay bởi vì sự dè bỉu, khinh khi cũng như phân biệt đối xử của người cai trị mới. Chị tôi bị hành hạ, bị lăng nhục, bị đe dọa đưa vào cái trại gọi là phục hồi nhân phẩm mà thực chất là tước đoạt hết nhân phẩm con người. Chịu đựng bao nhiêu đắng cay khổ sở nhưng chị tôi vẫn cắn răng làm việc nuôi dạy con khôn lớn nên nguời. Có một điều làm tôi lạ lùng là tình yêu của chị dành cho anh hơn hẳn những thường tình. Chị luôn nhắc tới anh với những lời yêu thương trang trọng, với sự bùi ngùi thương tiếc của một người góa phụ tưởng nhớ thương chồng. Chị không đòi hỏi gì ở anh cũng như đất nước anh. Khi chương trình tái định cư những người con lai bắt đầu, tôi cũng tưởng chị vui sướng lắm. Nhưng không, chị từ chối ra đi chỉ vì còn nặng lòng với mảnh đất được sinh ra và đứa cháu tôi cũng vui vẻ vâng theo lời mẹ. Tôi không giống và cũng không chịu đựng được như chị. Tôi chọn ra đi để đưa các con tôi về với tự do. Khi con thuyền mong manh đưa chúng tôi ra biển, tôi đã thầm cầu nguyện ơn trên cho chúng tôi vượt sóng đươc bình an. Tôi đã chọn tự do hay là chết và chân thành cầu xin đó là một sự chọn lựa đúng đắn và may mắn nhất trong đời…
Cứ mải suy nghĩ và đi theo con đường hoa, tôi đến trước bức tường đá đen tự bao giờ. Con đường dần xuống thấp để những dòng tên trắng hiện ra. Một cặp vợ chồng người Mỹ trắng đã già lắm, run rẩy dắt tay nhau bước lên bực thang. Mắt người đàn bà còn ướt đỏ. Tôi đoán rằng bà vừa mới khóc. Gặp nhau trên bực thang đầu tiên, tôi vui vẻ chào hai người rồi hỏi lớn:
-Ông bà từ đâu tới.
-Chúng tôi từ Ohio, còn cô.
– Thưa ông bà tôi từ Texas.
Người đàn ông râu dài nhưng cắt tỉa gọn gàng, dáng vẻ hiền từ thân thiện. Ông ta mỉm cưởi hỏi lại.
-Tôi muốn hỏi cô người nước nào. Phi, Tàu, Nhật hay Thái lan.
-Thưa ông tôi là người Việt Nam.
Bỗng nhiên tôi thấy gương bặt người đàn bà dường như đổi sắc. Hình như một sự giận dữ bất ngờ chợt làm bà ta vùng vằng cố bước lên bậc thang ngắn tiến về phía trước. Tôi ngạc nhiên nhìn ông già chờ đợi một lời giải thích về cử chỉ bất thường của bà. Chắc có một điều gì không ổn vì tôi biết đa số người Mỹ thường lịch sự, ít ai bày tỏ ngay những điều khó chịu trong lòng. Như đóan được ý nghĩ của tôi ông buồn rầu giải thích.
-Cô đừng buồn với thái độ của vợ tôi. Bà ấy đang buồn rầu. Chúng tôi mất đứa con trai duy nhất ở Việt Nam, nên mỗi khi thấy người Việt Nam vợ tôi lại xúc động, không ngăn được cảm xúc nên có những cử chỉ bất thường.
Tôi nhìn bà già đã ngồi xuống chiếc ghế đá bên lối đi, đang run rẩy cố chống hai tay lên đùi, mắt vô hồn nhìn vào quãng không gian phía trước. Nếu tôi mất con cho một cái xứ sở xa lạ nào chắc gì tôi còn giữ được bình tĩnh như bà. Lòng tôi rạt rào niềm thương xót để nói với ông rằng tôi thông cảm tâm tình của những bà mẹ mất con cho một dân tộc họ không hề mảy may biết tới. Trong lúc xúc động tôi cũng nói với ông là chính tôi và gia đình tôi cũng mất mát rất nhiều trong cuộc chiến chống cộng sản xâm lăng đó. Và đau đớn hơn thế nữa, chúng tôi đã mất cả quê hương, tổ quốc. Ông già Mỹ luôn luôn lập đi lập lại rằng tôi biết, chúng tôi biết, rồi xin phép tôi chạy đến săn sóc cho bà đã ngồi xuồng ghế đá cách đó không xa lắm. Ông nói lớn, chào từ giã khi tôi đi lần xuống phía dưới để dò tìm những hàng chữ mang tên người anh rể ngoại chủng năm xưa đã nằm xuống ở Việt Nam.
Tôi biết vần W sẽ nằm ở hàng cuối cùng nhưng cũng mất một lúc lâu mới tìm thấy cái tên Mikes Wright, tên người anh rể tôi năm kia, khiêm nhường giữa tên của bao nhiêu người. Nhỏ bé và đơn giản trong một không gian bao la, nhưng thật hào hùng độ lượng như cuộc đời anh và đất nước đang cưu mang chúng tôi đây. Tôi lặng chìm trong những giấc mơ xưa về một gia đình hạnh phúc mà nhớ đến chồng tôi. Tên của Mikes người ta còn nhớ chứ tên của chồng tôi kẻ thù đã xóa đi. Ngay cả miếng đất nhỏ bé mà chồng tôi an nghỉ người ta cũng đang toan tính cướp mất của anh. Tôi nhớ đến nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Nhớ đến giây phút vật vã khóc lóc nhìn thi hài anh được gắn lon giữa hai hàng nến. Nhớ đến những khuôn mặt lầm lỳ, chai sạn vì gió bụi của những nguời lính bồng súng chào chồng tôi lần cuối khi đưa chàng về với đất mẹ năm xưa.
Giữa lúc lặng yên tưởng nhớ thì mấy bà bạn tôi xuất hiện. Các bà gọi la tên tôi ơi ới, trách tôi xé lẻ tìm vui một mình. Cả bọn trầm trồ, chỉ trỏ reo vui với những cái tên lạ, nói cười vui vẻ như không cần biết gì về những niềm đau. Ôi nhân thế thường mau quên để sống, chỉ có mình tôi hay đi ngược thời gian về những dòng sông cũ. Chúng tôi lại rủ nhau đi thăm viện bảo tàng không gian gần đó. Một đoàn người vừa đi vừa cười, vừa hỏi thăm đường rộn vui lên góc phố. Ở đây người ta quen mắt với những cái lố lăng của du khách từ khắp mọi miền trên thế giới nên chẳng thấy phiền hà. 
Đến trưa lúc sắp ra về tôi lại gặp cặp vợ chồng người Mỹ ban sáng. Lạ một điều là tôi thấy ông già có nét gì rất quen. Lần này bà có vẻ vui hơn, mỉm cười khi tôi chào gặp lại. Chắc ông đã giải thích cho bà biết rằng ai cũng có những nỗi buồn, những mất mát khác nhau chứ không phải riêng bà. Chúng tôi đứng ngoài hành lang nói chuyện. Ông bà cho tôi biết sẽ về lại Ohio chiều mai, một nông trại xa xôi nằm sát biên giới tiểu bang Indiana. Ông nói thế nhưng tôi chẳng hình dung được gì ngoài những con số mà tôi đoán rằng đất đai chắc là rộng lớn. Tôi cũng cho ông biết chúng tôi còn ở đây thêm vài ngày, đi thăm một vài nơi nữa rồi chào từ giã theo dòng người thăm viếng.
Buổi sáng hôm sau tôi có thói quen thức dậy thật sớm trong lúc mọi người còn say trong giấc ngủ. Tôi mở cửa bước ra ngoài, đi bộ theo con đường Ohio dọc theo bờ sông, rồi tình cờ bước dần về phía bức tường đá đen. Trời còn sớm quá nhưng tôi thấy dưới chân bức tường thấp thoáng bóng ngươi. Bước tới gần hơn tôi bất ngờ nhận ra ông bà già Mỹ hôm qua đang ở đó tự bao giờ. Bà ngồi hẳn xuống đưa tay sờ lên những hàng tên như vuốt ve một vật gì quý giá.
Gặp lại nhau tôi lên tiếng:
-Chào ông bà. Ông bà ra đây sớm quá. Tôi cứ tưởng chỉ mình tôi đi bộ trong khu này..
Ông ôn tồn giải thích:
-Chiều nay chúng tôi trở về lại Ohio rồi nên thu xếp thời gian thăm lại nơi đây lần nữa.
Bà vẫn không nói, đưa tay sờ lên phiến đá. Tôi chắc bà thương yêu người con và đau đớn lắm khi nhìn lên hàng chữ có tên con mình. Mắt tôi tò mò nhìn theo và ngạc nhiên thấy tay bà đang đặt trên hàng chữ của vần W. Như có một linh tính báo trước chuyện lạ lùng tôi buột miệng hỏi ông:
– Con trai của ông bà tên là gì nhỉ. Anh ấy mất ở Việt nam năm nào?
– Con trai tôi tên là Mikes Wright, Tử trận ở Việt năm năm 1972. Tên nó đây, ngay đây này…
Vừa nói ông vừa chỉ về phía tay bà đang xoa xoa che khuất cái tên mà trước đây tôi đã đặt tay vào. Chính đó là tên anh rể của tôi. Cha của đứa cháu mồ côi mà chị tôi yêu quý như báu vật của cuộc đời mình. Tôi đứng lặng người nhìn ông rồi lại nhìn bà. Sao cuộc đời lại có sự tình cờ kỳ diệu đến thế này. Để chắc chắn mình không nằm mơ tôi hỏi lại những chi tiết rất chung chung mà tôi còn nhớ về anh. 
– Anh Mikes của ông bà rất nhiều râu và vui tính lắm phải không.
– Cô nói gì tôi không hiểu. Dĩ nhiên ngày ấy Mikes còn trẻ lắm nên râu ria mọc là thường.
Tôi nhìn lại ông và mơ hồ thấy nét quen thuộc mà tôi chợt khám phá ra hôm qua, là ông trông rất giống Mike ở cái cằm vuông vức và bộ râu rậm dài. Ông già bùi ngùi nói tiếp.
– Vợ tôi buồn một điều là đáng lẽ ra Mikes đã hết hạn phục vụ ở Việt nam trở về Mỹ nhưng vì yêu thương một người con gái bản xứ nên tình nguyện phục vụ thêm một thời hạn nữa và cái thời hạn đó không bao giờ chấm dứt…
– Thế ông bà có biết tin tức gì về người con gái ấy không.
– Mikes có gởi cho chúng tôi một tấm hình, thông báo là đã thành hôn. Lâu quá rồi nhưng chúng tôi còn giữ tấm hình ấy trong tập ảnh gia đình ở Ohio. Chỉ có thế mà thôi.
Tôi muốn nói với ông chính tôi là em người con gái Việt Nam ấy nhưng sợ rằng mình nhận lầm, vì biết đâu có một anh Mike nào khác nữa nên chỉ nói với ông:
– Hơn ba mươi năm trước đây tôi cũng có một người anh rể tên là Mike Wright, quê quán ở miền trung bắc Mỹ. Tôi chỉ biết thế không biết có phải là anh Mikes con của ông bà không. Tôi từ Texas lên đây chơi nhưng chính là để nhìn thấy tên anh Mikes Wright một lần trên tấm bia đá này.
Ông mở mắt nhìn tôi kinh ngạc rồi kéo bà lên, nói với bà tin tức quan trọng đó. Ông luống cuống, mời tôi ngồi xuống tấm ghế đá trong khi bà cứ há miệng ra thẫn thờ chờ đợi. Rồi ông dồn dập hỏi.
– Tôi chắc là đúng rồi. Đấy cô coi có cái tên Mikes Wright nào khác đâu. Thế chị cô bây giờ ở đâu. Tôi muốn hỏi thăm tin tức về Mikes trong những ngày cuối cùng.
– Thưa ông bà, chị tôi vẫn còn ở Việt Nam. Chắc rằng chị tôi cũng chẳng biết gì hơn ông bà. 
Như chính tôi đây chẳng biết gì hơn tin tức cuối cùng của chồng tôi và Mikes. Đầu tiên người ta chỉ thông báo cho chúng tôi là hai người đã mất tích sau một đợt tấn công của địch và cả tuần lễ sau mới tìm thấy xác mang về. 
– Thế thì đúng như cô nói, chắc đúng là Mikes rồi. Khi chúng tôi đến nhận xác Mikes thì đã không mở ra được nữa vì những điều kiện vệ sinh.
– Nhưng tôi có một tin quan trọng về anh Mikes, không biết ông bà có muốn nghe không?
– Tin gì vậy, thưa cô. Chúng tôi không còn gì trên đời này ngoài hình ảnh của Mikes và những gì liên quan đến đứa con yêu thương của chúng tôi.
– Chị tôi có một người con với anh Mikes. Chính anh Mikes cũng không biết vì lúc vừa mới có thai, chưa kịp thông báo thì anh Mikes và chồng tôi đã không về nữa.
Ông bà liên tục kêu lên những lời thống thiết, không rõ là lời đau khổ hay mừng vui.
– Chúa ơi, thật thế sao! Chúa ơi! Chúa ơi!
– Thật thế thưa ông bà. Cháu giống Mikes lắm. Nếu ông bà thấy cháu là nhận ra ngay thôi.
– Thế bây giờ cháu ở đâu thưa cô.
-Cháu vẫn còn ở Việt nam. Vì thương mẹ nên cháu không về Mỹ theo chính sách trở về quê cha của những đứa con lai.
Tôi và ông bà Wright cùng bước đi như trong cơn mơ vì sự gặp gỡ bất ngờ. Tôi cho ông bà địa chỉ, số điện thoại của tôi và nhận lại địa chỉ số điện thoại của ông bà ở Ohio để tiện bề liên lạc. Những thông tin ban đầu mặc dù đã chính xác, nhưng tôi muốn biết chắc tấm ảnh ngày xưa có phải là của chị tôi hay không. Chiều hôm đó ông bà Wright về lại Ohio. Tôi đoán ông bà vui vẻ lắm. Mất một đứa con cho cái xứ Việt Nam xa xôi nhưng ông bà sẽ được nhận lại một đứa cháu ngoan ngoãn và đứa con dâu còn giữ đúng truyền thống Việt Nam. Tôi biết chị tôi là một người đàn bà Việt Nam hiền thục. Tôi đã đoán không sai vì ba hôm sau khi tôi còn ở khách sạn thì tiếng điện thoại lại reo. Lần này ông bà Wright theo xe trở lên, mang cả gia đình đứa con gái gồm con rể và hai đứa cháu. Họ lái một chiếc xe van lớn mang theo cả tấm ảnh ngày xưa.
Gặp nhau tại công viên ông bà đưa tôi tấm ảnh và giải thích:
– Vội quá nên chúng tôi không book được vé máy bay. Vả lại Nathalie, em gái của Mikes và chồng con nó ở gần đó cũng muốn đi nên chúng tôi lái xe cho tiện.
Tấm ảnh chụp cách đây hơn ba mươi năm giờ đã ố vàng. Màu sắc phai theo thời gian nhưng vẫn còn sắc nét. Tôi cầm tấm ảnh như đưa tay chạm vào một phần quá khứ xa xăm. Trong ảnh, chị tôi người con dâu đất Mỹ, e ấp đứng bên người chồng râu tia xồm xoàm, đang đưa cánh tay khỏe mạnh ôm vòng lấy người con gái như ôm ấp chính cuộc đời cô.
– Đúng là chị tôi rồi….
Ông bà Wright mừng vui như mở hội. Bà như trẻ trung hẳn lên. Bao nhiêu bệnh tật gần như tan biến. Mấy người đi theo cũng lộ nét mừng vui hớn hở. Bà hỏi tôi những chuyến bay về Việt Nam với những dự định đi thăm viếng đứa cháu, con của người con tưởng như đã mất, bỗng dưng còn để lại trong cuộc đời này cả một phần huyết nhục. Tôi thưa với ông bà rằng tôi đã nói chuyện với chị tôi qua điện thoại. Chi cũng rất vui mừng về sự gặp gỡ này. Chị sẵn sàng cho cháu về quê nội cũng như chính chị sẵn sàng về làm dâu ông bà, chăm sóc cho ông bà trong lúc tuổi già đúng như truyền thống của người Việt nam. Tôi đã biết tình yêu của chị dành cho Mikes nên không ngạc nhiên với quyết định này. Ông bà chăm chú nghe tôi giải thích phong tục Việt Nam là người vợ phải làm dâu phụng dưỡng cha mẹ chồng. Ông kêu Chúa ôi liên tục sau mỗi câu nói làm tôi có cảm tưởng như đang kể cho ông bà nghe về chuyện phong thần, nhưng tôi biết bây giờ đối với ông bà, đất trời là cả một mùa xuân.
Sau đó một thời gian dài, tôi lại bận bịu vì phải lo lắng dẫn ông bà Wright về lại Việt Nam. Bận bịu nhưng lòng tôi sung sướng. Tôi không giấu được xúc động khi nhìn thấy ông bà lần đầu tiên gặp lại đứa cháu nội sau hơn ba mươi năm thương nhớ người con đã khuất. Ông bà cứ kêu lên những lời vui mừng vang một góc sân và làm ngạc nhiên những người hàng xóm Việt Nam vốn không thiếu sự tò mò. 
-Oh my God! He just looks like his father! Oh my God!
Bây giờ chị tôi, một người con gái Việt nam về làm dâu muộn màng trên đất Mỹ, đang thay cha mẹ chồng cai quản một nông trại trồng bắp ở Ohio với đứa con duy nhất của một cuộc tình nở vội trong cuộc chiến Việt Nam.
 
LƯU HỒNG PHÚC